Tổng quan luận án

Bất thường mạch máu là nhóm tổn thương lành tính có nguồn gốc từ hệ thống mạch máu, chiếm tỷ lệ khoảng 1,5% dân số và chiếm khoảng 10% trong tổng số các bệnh lý vùng đầu mặt cổ. Dị dạng động tĩnh mạch (DDĐTM) là dạng tổn thương mạch máu có dòng chảy nhanh với luồng thông trực tiếp từ hệ thống động mạch hoặc tiểu động mạch sang hệ thống tĩnh mạch, không qua mạng lưới mao mạch trung gian. Tỷ lệ mắc DDĐTM dao động từ 5 đến 613 trên 100.000 dân; trong đó, vùng đầu mặt cổ chiếm 40%, các chi chiếm 40% và vùng thân mình chiếm 20%. Dị dạng động tĩnh mạch vùng đầu mặt cổ (DDĐTM-ĐMC) là tổn thương không tự thoái triển, tiến triển tăng dần theo sự phát triển cơ thể và gây ảnh hưởng nặng nề về mặt giải phẫu, chức năng, thẩm mỹ cũng như tâm lý của người bệnh.

Về mặt điều trị, DDĐTM-ĐMC là bệnh lý phức tạp, tỷ lệ tái phát cao. Phương pháp phẫu thuật đơn thuần gặp nhiều trở ngại do nguy cơ chảy máu ồ ạt trong mổ và khó khăn trong việc xác định ranh giới để cắt bỏ hoàn toàn tổn thương. Kỹ thuật nút mạch (can thiệp nội mạch) ra đời và phát triển giúp tạo ra sự thay đổi trong tiếp cận điều trị: có thể đóng vai trò là phương pháp can thiệp độc lập hoặc điều trị tiền phẫu nhằm giảm cấp máu, hạn chế mất máu và tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật triệt để. Tại Việt Nam, phương pháp nút mạch đã được ứng dụng từ những năm 1970; tuy nhiên, các công trình tổng kết toàn diện về đặc điểm hình ảnh chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) cũng như đánh giá hệ thống kết quả điều trị nút mạch DDĐTM-ĐMC còn thiếu vắng. Do đó, luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Minh được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Luận án được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Minh (khóa 31, Trường Đại học Y Hà Nội), chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh (Mã số: 62720166), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đình Tuấn (nguyên Chủ nhiệm khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức), hoàn thành vào năm 2019.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm hai nội dung:

  1. Mô tả đặc điểm hình ảnh của dị dạng động tĩnh mạch vùng đầu mặt cổ.
  2. Đánh giá kết quả nút mạch dị dạng động tĩnh mạch vùng đầu mặt cổ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Luận án khảo sát các bệnh nhân được chẩn đoán xác định DDĐTM-ĐMC và được điều trị bằng phương pháp nút mạch (đơn thuần hoặc kết hợp phẫu thuật) tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Trường Đại học Y Hà Nội.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các mốc nghiên cứu bệnh học mạch máu và chẩn đoán hình ảnh trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Khái niệm và phân loại bất thường mạch máu: Phân loại của Mulliken và Glowacki (1982) là nền tảng phân định rõ hai nhóm: u mạch máu (tăng sinh nội mô, có giai đoạn thoái triển) và dị dạng mạch máu (khiếm khuyết cấu trúc, dòng chảy chậm hoặc dòng chảy nhanh, không thoái triển). Phân loại này được Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu về Bất thường Mạch máu (ISSVA) thông qua năm 1996 và cập nhật năm 2014 tại Melbourne (Australia), xác định DDĐTM thuộc nhóm dị dạng mạch máu đơn thuần có dòng chảy nhanh.
Đặc điểm U máu (Hemangioma) Dị dạng mạch (Vascular malformations)
Bản chất tế bào Kích thích tăng sinh tế bào nội mô Gồm các mạch máu biến dạng cấu trúc
Thời điểm xuất hiện Kích thước nhỏ hoặc chưa thấy khi sinh; xuất hiện vài tuần đầu Tồn tại từ khi mới sinh
Tiến triển tự nhiên Tăng nhanh ở trẻ nhỏ, sau đó thoái triển tự nhiên Tăng dần tỷ lệ theo sự phát triển cơ thể; không thoái triển
Tuổi thiếu niên Ngừng phát triển, thoái triển hoàn toàn Tồn tại suốt đời, có thể bùng phát khi dậy thì, chấn thương
  • Phân loại cấu trúc mạch máu: Luận án điểm lại phân loại của Hudart E. và cộng sự (1993) chia DDĐTM thành 3 nhóm dựa trên luồng thông: Type I (thông ĐM - TM, không quá 3 ĐM đổ vào 1 TM), Type II (thông tiểu ĐM - TM, nhiều tiểu ĐM đổ vào 1 TM), Type III (thông tiểu ĐM - tiểu TM, nhiều ổ nidus). Sau đó, Cho S.K. và cộng sự (2006) bổ sung phân loại này trên hình ảnh chụp mạch: Type I, Type II, Type IIIa (nhiều tiểu ĐM thông với tiểu TM nhưng khẩu kính tiểu TM bình thường), và Type IIIb (tiểu TM giãn ngoằn ngoèo tạo thành mạng lưới phức tạp).

  • Phân loại giai đoạn lâm sàng theo Schobinger: Giai đoạn I (yên lặng, dát hồng tím, không triệu chứng), Giai đoạn II (lan rộng, sờ thấy mạch đập, rung miu, tiếng thổi), Giai đoạn III (phá hủy, loét, đau dữ dội, hoại tử, chảy máu), Giai đoạn IV (mất bù, suy tim tăng cung lượng).

  • Lịch sử điều trị: Điểm lại từ phẫu thuật khâu vòng quanh của Benjamin Brodie (1829) đến các kỹ thuật can thiệp mạch hiện đại của Loose D.A., Bradac G.B., Redondo P., Goel V., McCafferty I. Luận án định vị trọng tâm vào việc phân tích hình ảnh DSA theo phân loại Cho và đánh giá các đường tiếp cận can thiệp (động mạch, tĩnh mạch, chọc trực tiếp) cùng các vật liệu nút mạch khác nhau.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và giải phẫu mạch máu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên giải phẫu định khu hệ mạch máu đầu mặt cổ và sinh lý bệnh học mạch máu can thiệp:

  • Hệ động mạch cảnh ngoài (ĐMCN): Là nguồn cấp máu chính cho các dị dạng vùng hàm mặt. Luận án phân tích chi tiết các nhánh bên và vòng nối: ĐM giáp trên (nối ĐM giáp dưới), ĐM lưỡi (nhánh tận ĐM lưỡi sâu, nhánh dưới lưỡi nối ĐM mặt), ĐM mặt (cho ĐM góc nối ĐM mắt; ĐM khẩu cái lên), ĐM hầu lên (có các nhánh cấp máu dây thần kinh sọ IX, X, XI, XII – vị trí nguy cơ khi can thiệp), ĐM chẩm (nhánh trâm chũm nuôi dây VII), ĐM tai sau, ĐM thái dương nông (cho ĐM ngang mặt) và ĐM hàm trên. ĐM hàm trên là nhánh lớn nhất, chia thành các đoạn: đoạn gần (ĐM màng não giữa, ĐM màng não phụ, ĐM ổ răng dưới), đoạn trong khoang cơ cắn (ĐM thái dương sâu), đoạn xa (ĐM ổ răng trên sau, ĐM khẩu cái xuống, ĐM dưới ổ mắt) và nhánh tận là ĐM bướm khẩu cái.
  • Hệ động mạch cảnh trong (ĐMCT) và ĐM dưới đòn: ĐMCT cho nhánh ĐM mắt tạo vòng nối ngoài - trong sọ; ĐM dưới đòn cho ĐM đốt sống (4 đoạn: V1 từ nguyên ủy đến C6; V2 trong mỏm ngang C6-C2; V3 từ C1 đến lỗ chẩm; V4 xuyên màng cứng hợp lưu thành ĐM thân nền), thân giáp cổ và thân sườn cổ.
  • Hệ tĩnh mạch: Tĩnh mạch nông (TM mặt, TM sau hàm, TM cảnh ngoài đổ về TM dưới đòn) và tĩnh mạch sâu (TM cảnh trong, TM đốt sống, TM cổ sâu).
  • Cơ chế sinh bệnh học và phân tử: Khiếm khuyết điều hòa thần kinh vận mạch ở cơ thắt tiền mao mạch; sự gia tăng các yếu tố tạo mạch VEGF, yếu tố phát triển nguyên bào sợi bFGF, enzym Matrix Metalloproteinases (đặc biệt MMP-9), Angiopoietin-2 và thụ thể Tie-2; sự hiện diện của thụ thể Progesterone giải thích hiện tượng bệnh bùng phát trong thai kỳ và tuổi dậy thì.

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc can thiệp lâm sàng.
  • Phương tiện nghiên cứu: Hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), máy chụp cắt lớp vi tính (CLVT đa dãy tái tạo 3D, MIP, VR), máy chụp cộng hưởng từ (CHT với các chuỗi xung T1W, T2W, TOF 2D/3D, MRA sau tiêm đối quang từ), máy siêu âm Doppler màu (đầu dò nông 7-10 MHz).
  • Vật liệu gây tắc mạch được khảo sát:
    1. N-Butyl Cyanoacrylate (NBCA / Hystoacryl): Keo sinh học tự trùng hợp khi tiếp xúc ion máu/dịch mô, pha trộn với Lipiodol (tỷ lệ thông dụng 1:1 đối với dòng chảy nhanh), rửa lòng ống thông bằng Dextrose 5%.
    2. Cồn tuyệt đối (Ethanol 99,5%): Tác nhân gây đông vón protein, phá hủy nội mạc và hoại tử thành mạch vĩnh viễn, khống chế liều an toàn < 1 ml/kg.
    3. Hạt Polyvinyl Alcohol (PVA): Kích thước 50 – 2000 µm, gây tắc cơ học tạm thời/bán vĩnh viễn.
    4. Vi sợi xoắn (Coils) và Dù kim loại (Amplatzer Vascular Plug): Dùng làm giảm lưu lượng dòng chảy ở các cuống ĐM nuôi lớn hoặc làm tắc TM dẫn lưu trước khi bơm chất lỏng.
    5. Ethylene-vinyl alcohol copolymer (EVOH / Onyx): Polymer không dính hòa tan trong dung môi DMSO.
  • Kỹ thuật can thiệp:
    • Nút mạch qua đường động mạch (sử dụng vi ống thông luồn siêu chọn lọc).
    • Nút mạch theo đường chọc trực tiếp (NMĐCTT) vào hồ tĩnh mạch ổ dị dạng dưới hướng dẫn của DSA/siêu âm kết hợp ép tĩnh mạch dẫn lưu.
    • Nút mạch qua đường tĩnh mạch ngược dòng.
  • Quy trình thu thập và xử lý số liệu: Thu thập theo bệnh án nghiên cứu thống nhất, đánh giá hình ảnh theo tiêu chuẩn phân loại Cho (2006) và phân loại lâm sàng theo Schobinger.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày hệ thống hóa toàn bộ giải phẫu chụp mạch hệ tuần hoàn đầu mặt cổ, các đặc điểm mô bệnh học, huyết động học và các phương pháp chẩn đoán hình ảnh cũng như điều trị:

  • Phân định cơ chế chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm Doppler ghi nhận hình ảnh dòng chảy nhanh, vận tốc tâm trương cao, giảm chỉ số sức cản (RI) và hiện tượng động mạch hóa tĩnh mạch. Chụp CLVT đánh giá tốt mức độ tiêu xương, ăn mòn cấu trúc xương hàm mặt và xây dựng bản đồ cấp máu qua tái tạo không gian ba chiều (3D/VR/MIP). Chụp CHT phát hiện ổ dị dạng với dấu hiệu trống tín hiệu dòng chảy (flow void), tăng tín hiệu trên chuỗi xung MRA/TOF, đánh giá chính xác sự xâm lấn phần mềm, cơ, khoang sâu cổ mặt. Chụp mạch DSA là tiêu chuẩn xác định cấu trúc ổ nidus, các cuống nuôi và tĩnh mạch dẫn lưu sớm.
  • Các chiến lược điều trị: Tổng kết cơ chế điều trị bảo tồn (thuốc Sirolimus, ức chế MMP; Laser Gentle YAG 1064nm, tiêm xơ Bleomycine/Doxycycline), điều trị nút mạch, điều trị phẫu thuật (cắt bỏ rộng, kỹ thuật nạo và trét sáp xương khoang xương hàm, tạo hình vạt da), điều trị chiếu xạ và mô hình điều trị phối hợp đa phương thức. Luận án nhấn mạnh vai trò của nút mạch tiền phẫu trong khoảng thời gian 24 – 72 giờ trước khi mổ để đạt hiệu quả giảm mất máu tối đa.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận, địa điểm nghiên cứu (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Đại học Y Hà Nội), tiêu chuẩn chọn mẫu và quy trình can thiệp:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân có tổn thương DDĐTM vùng đầu mặt cổ được chẩn đoán xác định dựa trên lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh (CLVT/CHT/DSA), có chỉ định điều trị nút mạch (đơn thuần, cấp cứu, hoặc chuẩn bị tiền phẫu).
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Dị dạng mạch dòng chảy chậm (dị dạng tĩnh mạch, bạch mạch thuần túy), u máu thông thường, dị dạng động tĩnh mạch trong màng cứng/trong sọ, bệnh nhân suy gan, suy thận nặng hoặc có chống chỉ định can thiệp mạch.
  • Quy trình kỹ thuật: Khảo sát toàn bộ hệ động mạch nuôi từ ĐM cảnh ngoài, ĐM cảnh trong hai bên, ĐM đốt sống và ĐM dưới đòn. Phân loại cấu trúc tổn thương theo bảng phân loại Cho:
    • Loại I: Luồng thông ĐM - TM trực tiếp (không quá 3 ĐM nuôi).
    • Loại II: Nhiều tiểu ĐM thông với một cấu trúc TM duy nhất.
    • Loại IIIa: Nhiều tiểu ĐM thông với tiểu TM kích thước không giãn.
    • Loại IIIb: Nhiều tiểu ĐM thông với tiểu TM giãn to tạo mạng lưới phức tạp.
  • Chiến lược can thiệp theo phân loại: Loại I và IIIa tiếp cận chủ yếu qua đường động mạch; loại II ưu tiên đường chọc trực tiếp hoặc đường tĩnh mạch; loại IIIb kết hợp phối hợp nút mạch đường động mạch và chọc trực tiếp ổ dị dạng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả thu được từ nhóm bệnh nhân nghiên cứu:

  • Đặc điểm chung và lâm sàng: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, tỷ lệ giới tính; thời điểm phát hiện tổn thương và các mốc biến cố khiến bệnh tiến triển nhanh (tuổi dậy thì, chấn thương, mang thai). Vị trí tổn thương phân bố tại vùng môi, má, da đầu, góc hàm, sàn miệng, cổ, có liên quan hoặc vượt qua đường giữa. Phân bố theo giai đoạn Schobinger: phần lớn bệnh nhân nhập viện ở Giai đoạn II (lan rộng) và Giai đoạn III (phá hủy, loét, đau, chảy máu tái diễn).
  • Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính và chụp mạch:
    • Trên CLVT: Xác định kích thước tổn thương, tình trạng ngấm thuốc mạnh ở thì sớm, giãn tĩnh mạch dẫn lưu, đánh giá mức độ thâm nhiễm mô bào mềm và tổn thương tiêu mòn xương lân cận.
    • Trên DSA: Đánh giá số lượng động mạch nuôi (từ 1 cuống đến nhiều cuống phức tạp xuất phát từ ĐM cảnh ngoài, ĐM cảnh trong và nhánh cổ sâu/đốt sống), đặc điểm tĩnh mạch dẫn lưu sớm và phân bố các nhóm theo phân loại Cho (Loại I, II, IIIa, IIIb). Mối liên quan có ý nghĩa giữa phân loại Cho với kích thước và mức độ phức tạp của ổ dị dạng.
  • Kết quả kỹ thuật can thiệp nút mạch:
    • Tỷ lệ thực hiện thành công theo các đường tiếp cận: đường động mạch luồn vi ống thông chọn lọc, đường chọc trực tiếp ổ dị dạng (NMĐCTT) bằng kim dưới hướng dẫn màn huỳnh quang tăng sáng và siêu âm.
    • Vật liệu nút mạch: Ứng dụng keo sinh học NBCA pha Lipiodol là vật liệu chủ đạo; số lượng keo sử dụng tương ứng với kích thước ổ tổn thương; phối hợp vi sợi xoắn (Coils) khi có luồng thông lưu lượng cao.
    • Đánh giá mức độ tắc mạch ngay sau can thiệp trên phim chụp mạch kiểm tra.
  • Biến chứng can thiệp: Tỷ lệ biến chứng nhẹ (sưng đau vùng mặt, bỏng rát, hoại tử da/niêm mạc nông tự liền, tụ máu vị trí chọc mạch đùi) và tỷ lệ biến chứng nặng (loét da diện rộng cần chuyển vạt tạo hình, liệt thần kinh sọ, biến chứng tắc mạch nội sọ).
  • Kết quả phối hợp nút mạch và phẫu thuật: Đánh giá khoảng thời gian phẫu thuật sau nút mạch (24 – 72 giờ); lượng máu mất trong mổ ở nhóm có nút mạch tiền phẫu giảm rõ rệt so với phẫu thuật đơn thuần; mức độ cắt bỏ triệt để tổn thương và tỷ lệ liền thương.
  • Kết quả theo dõi sau điều trị: Đánh giá mức độ giảm giai đoạn lâm sàng theo Schobinger, sự thu nhỏ kích thước khối dị dạng, mức độ cải thiện triệu chứng và tỷ lệ khỏi bệnh theo đánh giá lâm sàng cũng như sự hài lòng tự đánh giá của người bệnh.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, so sánh các phát hiện của luận án với y văn trong nước và quốc tế:

  • Về dịch tễ và hình thái bệnh học: Bàn luận về đặc điểm xuất hiện bẩm sinh nhưng biểu hiện muộn, tính chất lan rộng theo thời gian và các yếu tố kích hoạt nội tiết/chấn thương làm biến đổi huyết động ổ dị dạng. Phân tích nguyên nhân chẩn đoán nhầm DDĐTM với u máu hoặc dị dạng tĩnh mạch dòng chảy chậm ở tuyến cơ sở.
  • Về giá trị của chẩn đoán hình ảnh và phân loại Cho: Khẳng định phân loại Cho (2006) là công cụ có giá trị cao trong định hướng lựa chọn đường tiếp cận can thiệp mạch. Phân tích sự phù hợp giữa hình thái mạch máu trên DSA với khả năng bít tắc hoàn toàn ổ nidus.
  • Về kỹ thuật nút mạch và lựa chọn vật liệu: Bàn luận sâu về ưu thế của keo sinh học NBCA trong việc tạo bít tắc vĩnh viễn ổ dị dạng dòng chảy nhanh; kỹ thuật pha loãng keo với Lipiodol để kiểm soát thời gian trùng hợp; giá trị của kỹ thuật chọc trực tiếp (NMĐCTT) trong việc kiểm soát các hồ tĩnh mạch giãn lớn (Cho loại II và IIIb) mà đường động mạch khó tiếp cận.
  • Về biến chứng và an toàn can thiệp: Phân tích nguyên lý phòng ngừa trào ngược vật liệu tắc mạch vào các nhánh động mạch nuôi lành của ĐM cảnh ngoài, ĐM mắt hoặc ĐM cảnh trong; nguy cơ tổn thương các dây thần kinh sọ khi can thiệp nhánh ĐM hầu lên hoặc ĐM chẩm.
  • Về hiệu quả phối hợp đa chuyên khoa: Bàn luận về vai trò không thể thay thế của nút mạch tiền phẫu: làm xẹp ổ dị dạng, giảm áp lực lòng mạch, hạn chế chảy máu ồ ạt trong mổ, giúp phẫu thuật viên nhận định rõ ranh giới tổn thương để cắt bỏ tối đa mô bệnh lý và bảo tồn chức năng tạo hình vùng mặt cổ. So sánh tỷ lệ thành công và kiểm soát bệnh với các công trình trên thế giới.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  1. Luận án đã xây dựng một bức tranh toàn diện và hệ thống về đặc điểm giải phẫu - hình ảnh học mạch máu của dị dạng động tĩnh mạch vùng đầu mặt cổ trên quần thể bệnh nhân Việt Nam, thông qua việc áp dụng đầy đủ các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại (Siêu âm Doppler, CLVT đa dãy dựng hình mạch máu, CHT và chụp mạch số hóa xóa nền DSA).
  2. Ứng dụng thành công và chuẩn hóa bảng phân loại hình ảnh mạch máu theo Cho S.K. (2006) vào thực tiễn chẩn đoán can thiệp tại Việt Nam, cung cấp cơ sở phân loại bệnh học mạch máu dòng chảy nhanh có giá trị định hướng điều trị can thiệp.

Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  1. Xác lập và chứng minh tính hiệu quả của quy trình phối hợp các đường tiếp cận nút mạch: kết hợp linh hoạt giữa đường động mạch luồn vi ống thông siêu chọn lọc và kỹ thuật nút mạch đường chọc trực tiếp (NMĐCTT) bằng keo sinh học NBCA pha Lipiodol, nâng cao tỷ lệ bít tắc ổ dị dạng phức tạp.
  2. Xác định vai trò của nút mạch trong phác đồ điều trị đa mô thức: nút mạch đơn thuần giúp kiểm soát triệu chứng và điều trị khỏi đối với các tổn thương khu trú phù hợp; nút mạch tiền phẫu trong khoảng thời gian từ 24 đến 72 giờ trước mổ giúp làm giảm lượng máu mất trong phẫu thuật, hỗ trợ cắt bỏ triệt để tổn thương và hạ thấp tỷ lệ tái phát.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do đặc thù DDĐTM-ĐMC là bệnh lý hiếm gặp, tổn thương đa dạng và phân bố phức tạp nên cỡ mẫu nghiên cứu ở một số phân nhóm giải phẫu còn hạn chế. Thời gian theo dõi dọc sau can thiệp ở một số ca bệnh cần được kéo dài hơn nữa để đánh giá toàn diện nguy cơ tái thông mạch và tái phát sau nhiều năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục theo dõi dài hạn (trên 5 - 10 năm) nhóm bệnh nhân đã can thiệp nút mạch và phẫu thuật nhằm đánh giá triệt để tỷ lệ tái phát muộn.
    • Mở rộng ứng dụng các vật liệu nút mạch thế hệ mới (như polymer không dính Onyx / EVOH) và đánh giá hiệu quả phối hợp với các liệu pháp phân tử nhắm trúng đích (ức chế VEGF, ức chế MMP-9, Sirolimus) trong kiểm soát các dị dạng lan tỏa phức tạp không thể phẫu thuật.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều đối tượng trong thực hành y khoa:

  • Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh và X-quang can thiệp: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về giải phẫu mạch máu đầu mặt cổ, các biến thể giải phẫu, kỹ thuật luồn vi ống thông siêu chọn lọc, kỹ thuật chọc trực tiếp ổ dị dạng và kinh nghiệm kiểm soát tai biến khi sử dụng keo NBCA, cồn tuyệt đối.
  • Bác sĩ Phẫu thuật Hàm mặt, Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Tạo hình: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phối hợp liên chuyên khoa, xác định thời điểm phẫu thuật tối ưu sau nút mạch tiền phẫu (24 – 72 giờ) nhằm hạn chế mất máu và đảm bảo biên độ cắt bỏ an toàn.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh và Ngoại khoa: Là mô hình nghiên cứu kết hợp giữa chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu và đánh giá hiệu quả can thiệp lâm sàng có hệ thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Phân loại Cho (2006) trên phim chụp mạch máu chia dị dạng động tĩnh mạch thành những nhóm nào?
Phân loại Cho chia thành 4 nhóm:

  • Loại I (thông ĐM - TM): Không quá 3 động mạch thông trực tiếp với một cấu trúc tĩnh mạch duy nhất.
  • Loại II (thông tiểu ĐM - TM): Nhiều tiểu động mạch đổ vào một cấu trúc tĩnh mạch giãn.
  • Loại IIIa (thông tiểu ĐM - tiểu TM không giãn): Nhiều luồng thông giữa các tiểu ĐM và tiểu TM với khẩu kính tiểu TM bình thường.
  • Loại IIIb (thông tiểu ĐM - tiểu TM có giãn): Nhiều đường thông giữa tiểu ĐM và tiểu TM bị giãn to tạo thành mạng lưới mạch máu phức tạp.

2. Điểm khác biệt căn bản giữa u máu (hemangioma) và dị dạng mạch máu (vascular malformations) là gì?
U máu là tổn thương tăng sinh tế bào nội mô, thường xuất hiện sau sinh vài tuần, tăng nhanh trong những năm đầu đời và có xu hướng tự thoái triển hoàn toàn khi lớn. Dị dạng mạch máu là tổn thương biến dạng cấu trúc mạch máu bẩm sinh, tồn tại từ khi mới sinh, phát triển tỷ lệ thuận theo sự tăng trưởng của cơ thể và không bao giờ tự thoái triển.

3. Kỹ thuật nút mạch theo đường chọc trực tiếp (NMĐCTT) được chỉ định trong trường hợp nào và có ưu điểm gì?
NMĐCTT được chỉ định bổ sung cho đường động mạch, khi nút qua đường động mạch thất bại, hoặc ở các ổ dị dạng có hồ tĩnh mạch giãn lớn (như loại II hoặc IIIb theo Cho). Ưu điểm của kỹ thuật này là đưa vật liệu tắc mạch trực tiếp vào trung tâm ổ dị dạng qua nòng kim lớn (dưới hướng dẫn của siêu ảnh/DSA và ép tĩnh mạch dẫn lưu), lấp đầy hồ tĩnh mạch hiệu quả hơn, rút ngắn thời gian và giảm chi phí can thiệp.

4. Vì sao phẫu thuật cắt bỏ DDĐTM-ĐMC nên được tiến hành trong khoảng 24 đến 72 giờ sau khi nút mạch tiền phẫu?
Sau khi nút mạch, ổ dị dạng bị tắc sẽ giảm cấp máu tối đa, giảm sưng nề và giảm áp lực dòng chảy, giúp phẫu thuật thuận lợi và hạn chế mất máu. Nếu phẫu thuật quá sớm (trước 24 giờ), phản ứng huyết khối có thể chưa hoàn toàn ổn định; nếu phẫu thuật quá muộn (sau 72 giờ), tuần hoàn bàng hệ từ các nhánh lân cận sẽ nhanh chóng phát triển tái cấp máu cho tổn thương, đồng thời phản ứng viêm dính tổ chức xung quanh tăng lên gây khó khăn cho bóc tách.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Minh là công trình nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm hình ảnh học và kết quả can thiệp điều trị dị dạng động tĩnh mạch vùng đầu mặt cổ bằng phương pháp nút mạch. Tác giả đã hệ thống hóa giải phẫu mạch máu đầu mặt cổ, ứng dụng hiệu quả phân loại Cho trên chụp mạch DSA và xác lập chiến lược nút mạch qua đường động mạch kết hợp chọc trực tiếp bằng keo sinh học NBCA. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của nút mạch trong việc điều trị khỏi các tổn thương khu trú và là bước chuẩn bị tiền phẫu giúp giảm thiểu mất máu trong phẫu thuật, nâng cao tỷ lệ lấy bỏ triệt để tổn thương và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.