Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA DỰ ÁN SẢN XUẤT CÀ PHÊ 1. Dự án sản xuất cà phê Theo Hiệp hội Quản lý dự án Hoa Kỳ (PMI), dự án được định nghĩa là một nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra kết quả duy nhất. Từ điển Oxford trình bày khái niệm dự án một cách chi tiết hơn, theo đó, dự án là tập hợp các hoạt động và chi phí được thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm đạt được kết quả xác định. Để có được kết quả này, chủ thể thực hiện dự án cần hy sinh các nguồn lực nhằm tạo ra giá trị lợi ích trong tương lai.
Tiếp cận dự án theo góc nhìn của đơn vị cho vay vốn như ngân hàng, dự án thường được coi là một bộ hồ sơ trình bày những nội dung về kế hoạch bỏ các nguồn lực như vốn, lao động, công nghệ, tài nguyên trong một khoảng thời gian giới hạn và hiệu quả kinh tế thu được từ dự án. Trong các khái niệm trên thì điểm đặc thù của dự án nằm ở thời gian xác định, dự án có điểm đầu và điểm cuối. Thời gian thực hiện dự án rất đa dạng nhưng thông thường các tổ chức tài trợ dự án như tổ chức tín dụng coi dự án thường kéo dài ít nhất từ 1 năm trở lên. Có dự án kéo dài 5 năm nhưng cũng có những dự án kéo dài 50 năm (ví dụ: dự án bất động sản).
Góc nhìn của tổ chức tín dụng cũng được thể hiện rõ trong quy định pháp lý của Việt Nam như Luật Đầu tư 2020, theo đó, dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Do thời gian kéo dài nên các dự án đầu tư (theo xác định của văn bản pháp luật) thường gắn với đặc điểm có rủi ro lớn do sự bất trắc trong tương lai. Quản lý công việc theo tư duy điểm bắt đầu và điểm kết thúc cho phép người quản lý xác lập lộ trình nhằm hiện thực hoá kết quả. Xu hướng “dự án hoá” các công việc trở nên phổ biến và điều này khiến cho thời gian của dự án không chỉ bó hẹp theo quan điểm của tổ chức tài trợ dự án.
PMI chỉ định nghĩa dự án là nỗ lực “có thời hạn”, thời hạn này có thể là 1 ngày, 3 ngày, 1 tuần…ngắn hơn 1 năm theo góc nhìn từ tổ chức tín dụng hay của cơ quan quản lý như Luật Đầu tư 2020. Điểm đặc thù thứ hai liên quan tới dự án là việc tạo ra kết quả duy nhất. Kết quả này có thể xác định được trước khi lập kế hoạch dự án. Khi lập kế hoạch dự án thì mục tiêu chính là những kết quả tương lai dự án mong muốn đạt được.
Xác lập mục tiêu dự án cùng nguồn lực giới hạn giúp ích cho người quản trị dự án có thể đưa dự án đi đúng tiến độ và thỏa mãn mục tiêu đặt ra. Tính duy nhất của kết quả thể hiện với nguồn lực mà dự án bỏ vào sẽ tạo ra kết quả từ các nguồn lực đó tại thời điểm nhất định. Có thể kế quả đó giống với kết quả của dự án khác, ví dụ cũng xây dựng khu phức hợp Royal City và Times City của Vincom nhưng tính duy nhất nằm ở sự khác biệt về vị trí, về bố cục hay có thể chỉ là thời điểm ra mắt….Chính sự khác biệt này nên nhà quản lý dự án ở các dự án khác nhau cần có được kế hoạch quản lý đặc thù cho riêng dự án. Tựu chung lại, khái niệm dự án tồn tại nhiều quan điểm.
Với tư duy quản lý nhà nước, dự án đầu tư được coi với những cụm từ như trung, dài hạn, do vậy sinh lời và rủi ro là hai thứ luôn đi kèm và cần cơ chế quản lý tốt từ cả thượng tầng lẫn cấp độ dự án. Tư duy theo nhà quản trị dự án thì dự án có thể đơn giản là những nỗ lực “có thời hạn” nhằm tạo ra kết quả duy nhất. Trong bài nghiên cứu này, dự án được hiểu là nhiệm vụ có điểm kết thúc mong đợi. Xây một ngôi nhà mới là một dự án với điểm kết thúc là khi ngôi nhà được dựng lên hoàn chỉnh.
Tương tự, thiết kế một phần mềm hay ứng dụng mới là một dự án, hoặc lễ ra mắt sản phẩm kinh doanh mới cũng như vậy. Dự án có thể được sử dụng để hoàn thành nhiều loại hình nhiệm vụ khác nhau. Tuy nhiên, tính chất nhiệm vụ trong dự án sẽ phức tạp, đòi hỏi khả năng quản lý bên trong. Nhiều người có thể lập luận rằng việc nướng bánh cho gia đình cũng là một dự án với điểm kết thúc là chiếc bánh đã hoàn thành.
Từ “dự án” không được dùng cho những hoạt động đơn giản như vậy vì việc quản lý chúng chặt chẽ không mang lại lợi ích đáng kể nào. Các dự án có mức độ phức tạp, đủ để khiến những việc như suy tính, ghi nhớ các nhiệm 9 vụ phải làm hay ghi thành một danh sách những việc “cần làm” cũng chưa hẳn đã đảm bảo sự thành công. Đối với quá trình sản xuất cà phê sẽ chia làm ba giai đoạn trong nghiên cứu này, sẽ có ba giai đoạn gồm: (i) giai đoạn thiết lập (trồng mới hoặc có thể ghép cành); (ii) giai đoạn tăng trưởng (thu hoạch) và (iii) giai đoạn thoái trào (cây già cỗi). Trong đó, giai đoạn thiết lập, dự án thực hiện công tác đất, gieo giống…Giai đoạn tăng trưởng là giai đoạn cây cà phê trưởng thành và cho ra sản lượng hàng năm.
Giai đoạn thoái trào chứng kiến sản lượng thu hoạch giảm dần. Trong giai đoạn tăng trưởng (còn gọi là giai đoạn thu hoạch), sau mỗi vụ thu hoạch, nông hộ phải tiến hành công tác chăm sóc để đảm bảo vụ thu hoạch sau. Năng suất vụ sau chưa chắc đảm bảo hoàn toàn sẽ cao hơn, thấp hơn hay bằng vụ trước bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong khoảng thời gian giữa hai vụ. Chính điều này khiến các nông hộ cần quản lý, theo dõi chặt chẽ hàng năm.
Do đó, tư duy quản lý dự án có thể áp dụng là theo vụ bởi nó mang lại lợi ích tốt hơn cho hoạt động sản xuất cà phê. Dự án sản xuất cà phê, trong bài nghiên cứu này, được hiểu là nhiệm vụ trồng cây cà phê để thu hoạch, không bao gồm khâu chế biến như rang xay, hay khâu phân phối tạo sản phẩm cuối cùng. Dự án sản xuất cà phê có chu kỳ gồm ba giai đoạn như mô tả ở trên, gồm giai đoạn thiết lập, giai đoạn tăng trưởng và giai đoạn thoái trào. Trên lý thuyết, thời gian mỗi giai đoạn có thể là 3 năm cho giai đoạn thiết lập, sau đó giai đoạn tăng trưởng kéo dài từ năm thứ 4 đến hết năm thứ 27, giai đoạn thoái trào từ năm 28 đến năm thứ 30.
Trên thực tế, các nhân tố như điều kiện tự nhiên, trình độ nông hộ, chất lượng giống, thế hệ đất cà phê… có thể ảnh hưởng lớn tới các mốc thời điểm này. Ngoài ra, trong giai đoạn tăng trưởng, sản lượng thu hoạch có thể tăng dần từ năm 4 đến năm thứ 6, đạt công suất tối đa từ năm thứ 7 tới năm thứ 27. Nắm bắt chu trình dự án sản xuất cà phê đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích hiệu quả tài chính và giúp ích cho tổ chức cho vay và khách hàng quản lý tốt dòng tiền ra/vào dự án. Trong giai đoạn đầu tiên (giai đoạn trồng mới), quá trình tạo lập “tư bản ban đầu” cho việc trồng cây cà phê có thể sử dụng nguồn vốn vay tư nhân hoặc nguồn vốn vay theo chương trình.
Với nguồn vốn vay tư nhân, chủ dự án có thể tiếp cận vốn vay thông thường từ các tổ chức tín dụng. Trái lại, với nguồn vốn vay từ chương trình thì ngoài tiếp nhận được vốn vay thì chủ dự án cần tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn về kỹ thuật chung của chương trình. Cuối cùng, trong nghiên cứu này, dự án sản xuất cà phê được quan tâm chỉ là các dự án ở cấp độ hộ gia đình làm chủ đầu tư, không xét tới các tổ chức doanh nghiệp tham gia. Hiệu quả kinh tế trong dự án sản xuất cà phê 1.
Khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế (Economic Eficiency –EE) là một chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá chất lượng của quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, bao gồm cả quá trình sản xuất nông nghiệp. Những người sản xuất luôn mong muốn thu được hiệu quả kinh tế cao khi đầu tư vào quá trình sản xuất. Do đó, việc hiểu đúng bản chất và các phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế đóng một vai trò quan trọng khi đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất. Đo lường hiệu quả kinh tế đòi hỏi sự hiểu biết về hành vi ra quyết định của người sản xuất.
Một người sản xuất duy lý (rational producer) sản xuất một đơn vị sản phẩm, ví dụ như cà phê từ một số những nguyên liệu đầu vào, x=x1….xn, được mua vào với giá nhập, w= w1….wn và được vận hành trên đường biên sản xuất (production frontier) sẽ được cho là có hiệu quả. Tuy nhiên, nếu nhà sản xuất đó sử dụng sự kết hợp các nguyên liệu đầu vào mà không làm tối đa hóa nguyên liệu đầu ra, hoặc có thể sử dụng ít hơn số lượng nguyên liệu đầu vào để sản xuất cùng một lượng nguyên liệu đầu ra, thì nhà sản xuất đó được coi là không hiệu quả.1: Hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất 10 Nguồn: Farrell, 1957 Theo các nhà kinh tế học (Farrell, 1957; Koopmans, 1951), hiệu quả kinh tế tổng thể được cấu thành từ hai thành phần, hiệu quả kỹ thuật (Technique Efficiency – TE) và hiệu quả về phân phối (Allocation Efficiency). Trong đó, hiệu quả kỹ thuật được hiểu là khả năng một nhà sản xuất thu được sản lượng tối đa dựa trên lượng đầu vào xác định trước, hoặc khả năng sản xuất một lượng sản phẩm với số lượng nguyên liệu đầu vào thấp nhất. Tại biểu đồ 1, đường đẳng lượng YY’ thể hiện mức kết hợp tối thiểu các yếu tố đầu vào trên một đơn vị đầu ra cần thiết để tạo ra một đơn vị sản phẩm.