NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HỌC VIỆN NGÂN HÀNG --------------------- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2020 NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC DỰ ÁN SẢN XUẤT CÀ PHÊ TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN MÃ SỐ: DTHV.28/2020 Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Huy Tùng Thư ký đề tài: ThS. Trương Hoàng Diệp Hương Thành viên tham gia: TS. Nguyễn Thị Ngọc Loan TS. Trần Thanh Long ThS. Đường Thu Trang HÀ NỘI – 2021 DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Học hàm, học vị TT Vai trò Chức vụ, Đơn vị công tác Họ tên Phó Trưởng Bộ môn Kinh tế Đầu tư, 1 TS. Trần Huy Tùng Chủ nhiệm đề tài Khoa Kinh tế, Học viện Ngân hàng Viện NCKH Ngân hàng, 2 ThS. Trương Hoàng Diệp Hương Thư ký đề tài Học viện Ngân hàng Trưởng Khoa Kinh tế, 3 TS. Nguyễn Thị Ngọc Loan Thành viên Khoa Kinh tế, Học viện Ngân hàng Phó Giám đốc Phân viện Phú Yên, 4 TS. Trần Thanh Long Thành viên Học viện Ngân hàng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, 5 ThS. Đường Thu Trang Thành viên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ DỰ ÁN SẢN XUẤT CÀ PHÊ 7 1. Dự án sản xuất cà phê 7 1. Hiệu quả kinh tế trong dự án sản xuất cà phê 9 1. Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh tế trong dự án sản xuất cà phê 13 1. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế dự án sản xuất cà phê 17 Chương 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC DỰ ÁN SẢN XUẤT CÀ PHÊ 25 KHU VỰC TÂY NGUYÊN 2. Đặc điểm sản xuất cà phê tại khu vực Tây Nguyên 25 2. Phân tích hiệu quả kinh tế cho dự án sản xuất cà phê thông qua phương pháp chỉ 33 tiêu tài chính 2. Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sản xuất cà phê tại khu vực Tây Nguyên thông 35 qua phương pháp hàm sản xuất Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 45 3. Bối cảnh kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến ngành cà phê 45 3. Định hướng chiến lược trong sản xuất cà phê khu vực Tây Nguyên 50 3. Khuyến nghị từ mô hình nghiên cứu 52 3. Một số khuyến nghị tới các Bộ ngành liên quan 54 3. Một số khuyến nghị đối với UBND các tỉnh khu vực Tây Nguyên 58 Kết luận 64 Tài liệu tham khảo 65 Phụ lục 68 3 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam hiện đang là quốc gia có sản lượng cà phê lớn đứng thứ 2 trên thế giới, chiếm khoảng 14% sản lượng cà phê toàn cầu. Tính đến cuối năm 2020, Việt Nam sản xuất được hơn 1,8 triệu tấn cà phê, thấp hơn khoảng 2 lần so với Brazil và cao hơn 2 lần so với Columbia. 95% cà phê sản xuất tại Việt Nam là loại Robusta. Về chất lượng, giá trị của hạt cà phê Việt Nam thấp so với các quốc gia khác như Ethiopia, Keyneya. Diễn biến đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới xảy ra những tưởng ảnh hưởng tới việc tiêu thụ cà phê nhưng sự thật lại chứng kiến xuất khẩu cà phê từ Việt Nam tăng trưởng khá, do mặt hàng này được xếp vào nhóm thiết yếu đối với các nước phương Tây, đặc biệt là Nhật, Đức, Thuỵ Sĩ, Italy. Theo đánh giá của các cán bộ tín dụng tái canh cà phê trên địa bàn nghiên cứu và nhiều chuyên gia như của Hồ Quốc Thông (2018), việc sản xuất cà phê tại Việt Nam đang vào giai đoạn chu kỳ thứ hai khi diện tích cà phê già cỗi trên 20 năm tuổi chiếm tỷ trọng lớn. Điều này dẫn đến nhu cầu tái canh cà phê nhằm tiếp tục duy trì năng lực sản xuất như cũ. Nhu cầu tín dụng tài trợ cho tái canh cà phê tại khu vực Tây Nguyên – nơi chiếm đến 90% lượng cà phê sản xuất tại Việt Nam ngày càng cao. Trước thực trạng này, kể từ năm 2014, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ các hộ nông dân trồng cà phê, trong đó có chính sách tín dụng ưu đãi cho vay tái canh cây cà phê với nguồn vốn lên tới 12. Các dự án sản xuất cà phê được thực hiện tại khu vực Tây Nguyên có sự đa dạng về quy mô, hình thức và các nguồn tài trợ. Về phía các dự án có vốn tài trợ nước ngoài, từ năm 2015, trong khuôn khổ Dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tài trợ (VnSat), hợp phần C về phát triển bền vững cà phê Tây Nguyên đặt mục tiêu kinh tế là khoảng 63.000 hộ nông dân ở Tây Nguyên cải thiện lợi nhuận của nông dân trên mỗi hecta là 15 triệu đồng/ha so với cà phê không áp dụng canh tác bền vững hoặc không tái canh. Ở cấp vùng, dự án kỳ vọng tạo thêm tổng giá trị gia tăng là 48- 50 triệu USD/năm (242-250 triệu USD cho 5 năm) và kéo dài trong suốt chu kỳ kinh doanh của cà phê 20-25 năm. Ngoài những mục tiêu về kinh tế, dự án VnSat còn đặt ra các mục tiêu về xã hội và môi trường. Chiếu theo tiến độ dự án, 2020 là năm kết thúc dự án nhưng ngay từ tháng 1 năm 2019, số vốn giải ngân cho tái canh cà phê đã đạt 100%, tương đương hơn 1.000 tỷ đồng, vượt xa con số 700 tỷ đồng (khoảng 6%) giải ngân theo chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ. Tuy chương trình cho vay tái canh cà phê của Ngân hàng Thế giới đã kết thúc, chương trình tái canh sử dụng nguồn vốn của Chính phủ đã triển khai được 5 năm nhưng hiện nay vẫn chưa có đánh giá về hiệu quả tín dụng cũng như hiệu quả sản xuất cà phê. Việc đánh giá được hiệu quả của các dự án cà phê khu vực Tây Nguyên sẽ giúp Chính phủ Việt Nam có bức tranh toàn diện, từ đó tìm ra những chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực vào địa phương này. Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả các dự án sản xuất cà phê tại Tây Nguyên. Tổng quan nghiên cứu Các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sản xuất cà phê tại khu vực Tây Nguyên thường tập trung vào hướng nghiên cứu định lượng với các hướng tiếp cận dữ liệu khác nhau. Có ba dạng tiếp cận dữ liệu, đó là tiếp cận dữ liệu từ chính hộ gia đình một cách trực tiếp; tiếp cận dữ liệu thông qua tổ chức cung cấp vốn vay như ngân hàng thương mại và kết hợp cả hai. Nghiên cứu tiếp cận dữ liệu hộ gia đình hay các nông trại điển hình có thể kể đến các nghiên cứu của Trần Công Thắng (2011) và Hồ Quốc Thông (2018). Trần Công Thắng (2011) đã sử dụng 02 mô hình để phát triển các phân tích về phản ứng của nguồn cung cà phê tại Việt Nam và mô hình hóa quyết định đầu tư tối ưu và sản lượng tối ưu của người trồng cà phê. Mô hình thứ nhất là sử dụng phương pháp tối ưu hóa dạng cố định để tính toán xác suất ngẫu nhiên của mô hình tối ưu hóa các quyết định nhổ bỏ hay trồng mới cà phê của các hộ gia đình. Mô hình dự đoán thứ hai đưa ra các ước lượng chức năng cung ứng cà phê tổng thể. Mô hình này cung cấp các yếu tố quyết định sự biến động diện tích cà phê tại Việt Nam. Kết quả của mô hình tối ưu hóa dạng cố định khám phá các mức giá “ngòi nổ” trong các tình huống khác nhau. Kết quả thứ nhất chỉ ra rằng người trồng cà phê có thể có một mức giá “ngòi nổ” thấp hơn để đưa ra quyết định nhổ bỏ cây cà phê và một mức giá “ngòi nổ” cao hơn để tái canh cây cà phê. Giữa 2 giá trị này là một khoảng các mức giá mà tại đó có một “ tác động trễ” và người nông dân sẽ không nhổ bỏ cà phê và không trồng mới cà phê. Thứ hai, nếu mô hình này mở rộng để cho phép các mức giá “ngòi nổ” độc lập với độ tuổi của cây cà phê, và ngược lại để cố định mức giá “ngòi nổ”, thu nhập sẽ tăng lên đáng kể. Những kết quả này cho thấy người nông dân không nên nhổ bỏ cây cà phê trước năm thứ 11. Đồng thời, nghiên cứu của luận án cũng đề cập đến một kết quả thứ ba khi phân tích tầm quan trọng của tín dụng vốn lưu động đối với hộ trồng cà phê. Những hộ trồng cà phê nghèo hoặc thiếu vốn sẽ dễ nhổ bỏ cây cà phê hơn so với các hộ không túng thiếu vốn. Do đó, tính thường xuyên nhổ bỏ cây cà phê của các hộ nghèo sẽ cao hơn các hộ không nghèo ở cùng độ tuổi của cây cà phê. Sự thiếu tiền mặt sẽ dẫn đến tỷ lệ nhổ bỏ cây cà phê cao hơn ở các hộ nghèo, đặc biệt là giai đoạn cây cà phê nhỏ tuổi. Hơn nữa, các hộ nghèo thường đợi khi mà mức giá “ngòi nổ” đặc biệt cao trước khi quyết định trồng cà phê. Xuất phát từ việc túng thiếu vốn, các hộ nghèo không thể đi theo cùng một quyết định như những hộ giàu hơn, và điều này làm giảm thu nhập bình quân của họ. Sự sẵn có của nguồn vốn tín dụng đối với các hộ nghèo sẽ tác động đáng kể đến thu nhập và hành vi của hộ nghèo. Tuy nhiên, tầm quan trọng của nguồn vốn tín dụng còn phụ thuộc vào độ tuổi của cây cà phê: nguồn vốn vay sẽ quan trọng hơn đối với người trồng cà phê vào giai đoạn cây cà phê chưa trưởng thành. Bên cạnh đó, quyết định nhổ bỏ hay trồng cây cà phê còn phụ thuộc vào lợi nhuận của các cây trồng thay thế. Nếu lợi nhuận của các cây trồng thay thế giảm, nông dân sẽ hầu như ít nhổ bỏ cà phê mà sẽ tái canh cà phê nhiều. Hồ Quốc Thông (2018) thu thập dữ liệu của 1.063 hộ nông dân đã thực hiện 4 nghiên cứu thực nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường của sản xuất cà phê. 5 Mô hình thực nghiệm thứ nhất điều tra sự hiệu quả của các hệ thống nông trại, sử dụng hàm khoảng cách giữa đầu ra – đầu vào. Kết quả chỉ ra nông trại có sự kết hợp giữa cà phê và các loại cây xen canh khác cho thấy mức hiệu quả cao nhất. Mô hình thực nghiệm thứ hai kiểm chứng hiệu quả kinh tế và sự khác nhau giữa các nông trại có chứng nhận và không có chứng nhận bền vững.
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC DỰ ÁN SẢN XUẤT CÀ PHÊ TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Tài liệu Hiệu quả kinh tế dự án sản xuất cà phê tây nguyên: đánh giá và khuyến tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành kinh tế
Trường đại học
Học viện Ngân hàngChuyên ngành
Kinh tếNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sởPhí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: Ts. Trần Huy Tùng
Trường học: Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành: Kinh tế
Đề tài: Nghiên cứu hiệu quả kinh tế các dự án sản xuất cà phê tại khu vực Tây Nguyên
Loại tài liệu: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
Năm xuất bản: 2020
Địa điểm: Hà Nội
"Nghiên cứu Hiệu Quả Kinh Tế Dự Án Sản Xuất Cà Phê Tây Nguyên: Đánh Giá và Khuyến Nghị" tập trung vào phân tích hiệu quả kinh tế của các dự án sản xuất cà phê tại khu vực Tây Nguyên, một vùng trọng điểm về cà phê của Việt Nam. Tài liệu này cung cấp các đánh giá chi tiết về lợi nhuận, chi phí, và các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sự thành công của các dự án cà phê. Bên cạnh đó, nó đưa ra các khuyến nghị cụ thể nhằm cải thiện hiệu quả sản xuất và tăng cường tính cạnh tranh cho ngành cà phê Tây Nguyên. Để hiểu rõ hơn về các phương pháp phát triển cà phê một cách bền vững, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Phát triển cà phê theo hướng bền vững tại huyện cư kuin tỉnh Đắklắk". Ngoài ra, nếu bạn quan tâm đến vấn đề bảo vệ thương hiệu và quyền sở hữu trí tuệ cho cà phê Việt Nam, hãy đọc "Tên đề tài bảo hộ sở hữu trí tuệ cho cà phê Việt Nam". Cuối cùng, nếu muốn tìm hiểu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ và chi phí của các dự án đầu tư công, dù không trực tiếp về cà phê, tài liệu "Luận văn các yếu tố ảnh hưởng đến chậm tiến độ và vượt dự toán dự án đầu tư công tại việt nam luận án tiến sĩ" có thể mang lại những góc nhìn thú vị.
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ