MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tại Việt Nam, cà phê đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân, là mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng thứ 2 về kim ngạch sau gạo, trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới, phân phối sản phẩm đến hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tính trong niên vụ 2021 – 2022, sản lượng cà phê Việt Nam đạt 1,8 triệu tấn, diện tích cà phê năm 2021 là 710.590 ha, giá trị xuất khẩu đạt 1,68 triệu tấn và 3,9 tỷ USD. Ngành cà phê của Việt Nam đang dần có những chú trọng hơn trong việc xây dựng hệ thống trồng trọt, lựa chọn giống và các bước chế biến, hướng đến các mục tiêu gia tăng sản lượng – chất lượng trong thời gian tới.
Theo Sở Công Thương, niên vụ cà phê 2021-2022, tỉnh Đắk Lắk có khoảng 213.000 ha cà phê, tổng sản lượng ước đạt hơn 526 nghìn tấn, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt hơn 810 triệu USD, chiếm 21% so với cả nước. Huyện Cư Kuin thuộc tỉnh Đắk Lắk, được thành lập năm 2007 gồm 8 xã, có DTTN là 28.830 ha với hơn 60% là đất đỏ Bazan. Địa bàn huyện có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho gieo trồng các cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là cà phê. Huyện Cư Kuin thực hiện trồng cà phê từ những năm 1995 và nhanh chóng trở thành chủ lực trong phát triển kinh tế huyện.
Tính đến năm 2021 có trên 11.356 ha cà phê cho sản lượng đạt 28.392 tấn, xuất khẩu 25432.8 tấn, đạt giá trị 50. Tuy nhiên, việc phát triển cà phê trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn như mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, hoạt động thu mua và sơ chế cà phê chủ yếu là nhỏ lẻ, tự các hộ trồng cà phê thực hiện với công suất nhỏ, phương pháp thủ công lạc hậu, sự di dân từ tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên làm mất cân bằng lực lượng lao động khu vực. Vấn đề môi trường và phát triển cà phê có sự tác động qua lại mật thiết, tại khu vự huyện Cư Kuin trong thời gian trở lại đây tình trạng cạn kiệt nước ngầm, xói mòn đất, đất trống đồi trọc, ô nhiễm nguồn đất đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng 2 do sự mở rộng của diện tích cà phê không có quy hoạch, phụ thuộc vào phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật đó tạo ra những hệ lụy nghiêm trọng về sau cần được quan tâm. Tính đến năm 2022, Việt Nam đã gia nhập các hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu EVFTA, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực RCEP tạo nhiều cơ hội cho ngành hàng cà phê phát triển.
Để nắm bắt được các cơ hội này, ngành hàng cà phê Việt Nam và ngành hàng cà phê tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk cần chú trọng hơn trong phát triển cà phê chất lượng cao, cà phê đặc sản. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Phát triển cà phê theo hướng bền vững tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk” là cần thiết, phù hợp với điều kiện hiện nay của huyện. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài Năm 1992, hiệp ước Liên Hiệp Quốc ký tại Rio de janeiro đã đưa ra ba trụ cột của PTBV, là: “Môi trường - Xã hội - Kinh tế’’: + Về kinh tế: Phát huy lợi thế tự nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, có hiệu quả kinh tế cao, trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.
+ Về xã hội: Tạo việc làm ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo ổn định vững chắc quốc phòng an ninh. + Về môi trường: Cần sử dụng hợp lý tài nguyên, áp dụng kỹ thuật canh tác, chế biến thân thiện với môi trường (Liên Hiệp Quốc, 1992). Năm 1998, lần đầu tiên trong hội nghị chuyên đề của Ủy ban về hợp tác môi trường của NAFTA (CEC), Trung tâm nghiên cứu chim di cư Smithsonian và Hội đồng lựa chọn tiêu dùng xác định tiêu chí như sản xuất hữu cơ, công bằng thương mại là "cà phê bền vững". Rice & McLean (1999) cho rằng định nghĩa “cà phê bền 3 vững” đại diện cho mặt sinh thái và công bằng thương mại không hoàn toàn phản ánh khía cạnh xã hội” bởi “công bằng thương mại” chưa phản ánh hết toàn bộ lợi ích của người lao động hay điều kiện xã hội và “chứng chỉ sản xuất hữu cơ” không đảm bảo về quản lý tài nguyên đất và đa dạng sinh học.
Và ông đã kết luận: “Bản thân ngành cà phê đang hướng tới sự bền vững cao hơn trong sản xuất. Đặc trưng của ngành cà phê là môi trường ngày càng cạnh tranh, khuynh hướng cầu tăng, sự gia tăng về độ quan tâm đến môi trường và xã hội là những yếu tố mở ra tầm nhìn chiến lược mới cho việc PTCPBV” (Paul D. Rice, Jennifer McLean, 1999). Bài nghiên cứu “Sustainable Coffee Survey of the North American Specialty Coffee Industry” của D.Giovannucci (2001) cho thấy ngành công nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê không nhất quán trong bảo vệ môi trường và công bằng XH của PTCPBV nhưng có sự tăng lên của người tiêu cùng và của các công ty cà phê đã khuyến khích ngành dần thân thiện với môi trường hơn.Koekoek (2003) nghiên cứu về cà phê bền vững trên 12 thị trường gồm Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh, (bổ sung thêm Hoa Kỳ, Canada) cho rằng cà phê bền vững đã có những bước tiến vượt bậc đặc biệt trong công bằng thương mại, cà phê hữu cơ thân thiện với hệ sinh thái mang nhiều lợi ích không chỉ cho nông hộ sản xuất cà phê mà còn với toàn bộ ngành cà phê do lợi nhuận lớn hơn trong chuỗi cung dù có sự khác biệt trên mỗi thị trường khác nhau (D.
Kilian (2006) mục tiêu cơ bản của nông nghiệp hữu cơ là hoàn thiện chất lượng của nông nghiệp và môi trường bằng năng lực tự nhiên của cây trồng, vật nuôi và điều kiện sinh thái. Chứng nhận cà phê bền vững là chiến lược hợp lý tạo sự khác biệt cho sản phẩm làm giảm tác động của giá cà phê thấp và chuyển chi phí sản xuất do kỹ thuật đầu vào được áp dụng thành công tại một số nhà sản xuất cà phê ở Trung Mỹ. Đối với cà phê, Blackman và Rivera (2010) sử dụng điều tra dân số chi tiết và dữ liệu hệ thống thông tin địa lý trên hơn 6.000 trang trại ở miền trung Costa Rica để 4 kiểm tra tác động môi trường của chứng nhận hữu cơ. Họ so sánh tỷ lệ áp dụng bốn thực hành quản lý trang trại thân thiện với môi trường gồm bảo tồn đất, cây che bóng, chắn gió và phân bón hữu cơ và ba thực hành không thân thiện là thuốc trừ sâu, phân bón hóa học và thuốc diệt cỏ cho các trang trại được chứng nhận và không được chứng nhận các trang trại có kiểm sát về độ tuổi và trình độ của người nông dân và các đặc điểm vật lý khác nhau của nông trại, bao gồm quy mô, giống cà phê, khí hậu, độ dốc, diện tích và khoảng cách đến trung tâm dân cư.
Kết quả cho thấy, chứng nhận hữu cơ cải thiện hoạt động môi trường của người trồng cà phê, làm giảm đáng kể việc sử dụng hóa chất đầu vào và tăng cường áp dụng các phương pháp quản lý thân thiện với môi trường (Allen Blackman, Jorge Rivera, 2010). Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Bùi Quang Bình (2008) thông qua nghiên cứu về “Phát triển ngành sản xuất cà phê bền vững ở Tây Nguyên” đã khẳng định vai trò của ngành sản xuất cà phê đối sự phát triển kinh tế của Tây Nguyên, tuy nhiên PTCP ở Tây Nguyên có tình thiếu bền vững và tác giả đã đưa ra một số giải pháp như duy trì quy mô, bảo đảm quy hoạch cà phê; tập trung cho đầu tư thâm canh; Áp dụng mô hình sản xuất hợp lý dưới sự kết hợp của Chính quyền và người dân. Trong luận án tiến sỹ của Nguyễn Văn Hóa (2014) nghiên cứu về “Phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” đưa ra các cơ sở lý thuyết về PTCPBV cùng các giải pháp cho PTCPBV tại tỉnh Đắk Lắk dựa trên ba trụ cột về kinh tế, xã hội và môi trường (Nguyễn Văn Hóa, 2014). Võ Thị Nhãn Vy (2015) với bài nghiên cứu về “Ảnh hưởng của chương trình phát triển cà phê bền vững đến nông hộ trồng cà phê ở Việt Nam: Trường hợp nghiên cứu tại huyện CưM'gar, tỉnh Đắk Lắk” trong chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đã làm rõ các chương trình cà phê có chứng nhận gồm 4C, UTZ, RA, FT tới PTCPBV đã mang lại tác động tích cực đối với các nông hộ trồng cà phê tại huyện CưM'gar, tỉnh Đắk Lắk (Võ Thị Nhã Vy, 2015).
5 Tại Hội nghị quốc tế ngành cà phê Việt Nam năm 2022 vừa qua đã tổng kết ngành cà phê Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế tuy nhiên vẫn còn gặp khó khăn do ảnh hưởng của biến động thị trường, biến đổi khí hậu, cà phê già cỗi, sản xuất nhỏ lẻ, liên kết các tổ chức sản xuất cà phê còn lỏng lẻo,. Bên cạnh đó, Hiệp hội cũng khẳng định các cơ hội xúc tiến ngành cà phê trên thị trường thế giới (Hiệp hội ca cao cà phê Việt Nam, 2022). Bài bọc rút ra Có nhiều quan điểm khác nhau về PTCPBV qua các công trình nghiên cứu nước ngoài nhưng nhìn chung đều được phát triển trên nền tảng phát triển nông nghiệp bền vững với nhiều thuật ngữ về loại cà phê bền vững như “Cà phê hữu cơ”,“cà phê bóng râm”, “cà phê kết hợp rừng mưa”, “cà phê thánh thiện với chim” là PTCP theo hướng bền vững về môi trường và “Cà phê thương mại bình đẳng” là về PTCP theo hướng bền vững về kinh tế và xã hội. Các nghiên cứu trong nước đã góp phần phân tích thực trạng, khai thác tiềm năng sản xuất và chỉ ra những bất cập trong PTPC ở Việt Nam, Tây Nguyên, Đắk Lắk và đưa ra các giải pháp cơ bản để phát triển ngành cà phê hướng bền vững trong thời gian qua.
Ngoài ra cũng đề cập tới các khía cạnh về cơ sở lý luận, phương pháp và các yếu tố ảnh hưởng tới việc PTCPBV tại Việt Nam trong các phạm vi và thời gian, không gian khác nhau.