CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI VÀ Y HỌC CỔ TRUYỀN 1. Thoái hóa cột sống cổ theo y học hiện đại 1. Giải phẫu chức năng cột sống cổ * Đặc điểm chung cột sống cổ (hình 1.1) - Cột sống cổ gồm 7 đốt sống và 5 đĩa đệm gồm đốt sống cổ trên trên C1 (Đốt Đội), C2 (Đốt Trục), đốt sống cổ dưới (C3 - C7).
- Cột sống cổ là trụ cột chính để giữ và vận động đầu [10. 4 Mỏm ngang Củ trước Hình 1. Các đốt sống cổ [10.] * Đĩa đệm cột sống cổ Đĩa đệm (nằm trong khoang gian đốt) gồm nhân nhầy vòng sợi và mâm sụn. + Nhân nhầy nằm ở trung tâm của đĩa đệm, hơi lệch ra sau vì vòng sợi ở phía sau mỏng hơn phía trước.
Nhân nhầy chứa chất gelatin dạng sợi có đặc tính ưa nước, trong đó có chất keo glucoprotein chứa nhiều nhóm sulphat có tác dụng hút và ngậm nước, đồng thời ngăn cản sự khuếch tán ra ngoài (nên nhân nhầy có tỷ lệ nước rất cao, cao nhất lúc mới sinh (trên 90%) và giảm dần theo tuổi). Do đó nhân nhầy có độ căng phồng và giãn nở rất tốt. Nhân nhầy giữ vai trò hấp thu chấn động theo trục thẳng đứng và di chuyển như một viên bi nửa lỏng trong các động tác gấp, duỗi, nghiêng và xoay của cột sống. + Vòng sợi bao gồm những sợi sụn rất chắc và đàn hồi đan ngược vào nhau theo kiểu xoắn ốc, xếp thành lớp đồng tâm tạo thành đường tròn chu vi của đĩa đệm.
Các lá sợi ngoại vi xếp sát nhau và thâm nhập vào phần vỏ xương của đốt sống; các lá sợi trung tâm được xếp lỏng dần vòng quanh nhân nhày. + Mâm sụn là hai tấm sụn trong được cấu tạo bằng hợp chất sụn hyaline. Mâm sụn gắn chặt vào phần trung tâm của mặt trên và mặt dưới của hai thân 5 đốt sống liền kề. Mặt kia của mâm sụn gắn vào nhân nhầy và vòng sợi.
Mâm sụn có các lỗ nhỏ giống như lỗ sàng có tác dụng nuôi dưỡng đĩa đệm (theo kiểu khuếch tán) và bảo vệ đĩa đệm khỏi bị nhiễm vi khuẩn từ xương đi tới. Nhân nhày, vòng sợi đĩa đệm [4.] - Thần kinh và mạch máu của đĩa đệm + Thần kinh đĩa đệm được các nhánh màng tủy phân bố cảm giác và được gọi là dây quặt ngược Luschka, khi dây này bị kích thích sẽ gây ra triệu chứng đau. + Mạch máu nuôi đĩa đệm chủ yếu thấy ở xung quanh vòng sợi (trong nhân nhầy không có mạch máu). Đĩa đệm được nuôi dưỡng chủ yếu bằng khuếch tán, những sợi và tổ chức liên kết của đĩa đệm chỉ được nuôi dưỡng bằng mạch máu tới lúc 2 tuổi.
- Chức năng của đĩa đệm là nối các đốt sống, phục vụ cho khả năng vận động của các đốt sống kế cận, và của toàn bộ cột sống, chức năng chống đỡ cho trọng lượng của đầu và giảm sóc chấn động [4. * Dây chằng Trong các loại dây chằng quan trọng nhất là dây chằng dọc. - Dây chằng dọc trước: phủ mặt trước thân đốt sống, kéo dài từ mặt trước xương cùng đến lồi củ trước đốt sống C1và đến lỗ chẩm lớn. Nó ngăn cản sự ưỡn quá mức của cột sống.
- Dây chằng dọc sau: phủ mặt sau thân đốt sống, chạy trong ống sống, từ nền xương chẩm đến mặt sau xương cùng, nó ngăn cản sự gấp quá mức của 6 cột sống. Dây chằng dọc sau được phân bố nhiều tận cùng thụ thể đau nên nó rất nhạy cảm với đau. - Dây chằng vàng là tổ chức sợi đàn hồi màu vàng phủ phần sau của ống sống, bám từ lá đốt sống phía dưới đến lá đốt sống phía trên của các cung đốt sống liền kề và tạo thành thành sau của ống sống. Dây chằng vàng có khả năng đàn hồi mạnh và rất bền vững để duy trì đường cong sinh lý của cột sống và giúp cho cột sống duỗi thẳng sau khi cúi.
- Dây chằng liên gai và dây chằng trên gai: dây chằng liên gai nối các mỏm gai với nhau, dây chằng trên gai là dây mỏng chạy qua các đỉnh mỏm gai, góp phần gia cố phần sau của đoạn vận động cột sống khi đứng thẳng và khi gấp cột sống tối đa [4. * Tủy sống cổ - Nằm trong ống sống, đường kính trung bình của tủy sống cổ là 1cm. Đường kính này to ra ở phình tủy cổ (C5, D1). Các rễ từ C5 đến D1 tạo nên đám rối thần kinh cánh tay chi phối cho toàn bộ chi trên.
- Tủy sống cổ có 8 khoang tủy, tách ra 8 đôi rễ thần kinh tủy sống cổ. Rễ trước chi phối vận động, rễ sau chi phối cảm giác. - Một rễ thần kinh cổ được hợp bởi rễ trước và rễ sau nằm trong lỗ gian đốt sống, chạy ngang sang bên (rễ C1 thoát ra ở phía trên đốt sống C1, còn rễ C8 thoát ra ở giữa đốt sống C7- D1) nên mức của tủy sống và rễ là ngang nhau [4. Bề mặt của đốt sống cổ, tủy sống, các rễ thần kinh, thần kinh sống [4.
* Dây thần kinh cổ - Có 8 đôi dây thần kinh cổ (C1 đến C8). Dây thần kinh cổ khi ra khỏi lỗ gian đốt sống được chia làm hai nhánh, nhánh trước các dây C1- C4 tạo thành đám rối thần kinh cánh tay, nhánh sau chi phối da và cơ ở sau gáy. - Hệ thống hạch thần kinh giao cảm cổ: có 2 - 3 đôi, hạch giao cảm cổ trên, hạch giao cảm cổ giữa và hạch sao, phân bố thần kinh thực vật tới vùng mặt, cổ và 2 tay [4. Chức năng và tầm vận động của cột sống cổ * Chức năng của cột sống cổ - Cột sống cổ (CSC) có chức năng làm trục đỡ và vận động đầu, tiếp nối toàn bộ các dẫn truyền thần kinh quan trọng từ trung ương xuống, chi phối các hoạt động cảm giác cho toàn bộ cơ thể và dẫn truyền cảm giác cảm thụ bản thể từ ngoại vi lên não bộ.
CSC có 3 chức năng: Chức năng vận động: CSC là đoạn mềm dẻo nhất, có tầm vận động linh hoạt hơn cột sống thắt lưng, bảo đảm cho đầu chuyển động nhanh và dễ dàng. Chức năng chịu tải trọng và bảo vệ tủy: tải trọng tác động lên đĩa đệm CSC lớn hơn các phần khác của cột sống vì các thân đốt sống nhỏ, đĩa đệm cột sống cổ không chiếm toàn bộ bề mặt thân đốt. Khoang gian đốt C5 - C6, C2 - C3 là nơi chịu tải trọng nhiều nhất ở cột sống cổ [4. 8 * Tầm vận động cột sống cổ Cột sống cổ có vận động gấp, duỗi, nghiêng, xoay.
- Động tác gấp đạt tới mức cằm chạm vào ngực. - Động tác duỗi đạt tới mức ụ chẩm ở tư thế nằm ngang. - Động tác nghiêng đạt tới mức tai chạm đầu trên xuống cánh tay. - Động tác xoay đạt tới mức cằm ở trên vai [4.
Các động tác của cột sống cổ: cúi, ngửa, nghiêng, xoay [1. Thoái hóa cột sống cổ * Định nghĩa: THCSC là bệnh cột sống mạn tính, đau và biến dạng, không có biểu hiện viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm (ở CSC), cùng với những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch [1. * Nguyên nhân - Thoái hoá đĩa đệm Thay đổi về hình thể đĩa đệm Đĩa đệm là tổ chức có tốc độ thoái hoá sớm nhất so với những tổ chức cơ- xương khác.
Những kết quả quan sát được đã khẳng định đĩa đệm cột sống bắt đầu có thoái hoá ngay ở lứa tuổi rất trẻ, từ 11 - 16 tuổi [4. Khoảng 22% số người ở độ tuổi thanh niên đã có những đĩa đệm với những dấu hiệu thoái hoá nhẹ. Tốc độ thoái hoá tăng theo độ tuổi. Ở độ tuổi 50-60 đều có thoái hoá và gặp khoảng 10% là thoái hoá đĩa đệm rất nặng.
9 1 Thoái hoá ở nhân nhầy Trong quá trình phát triển của cột sống, càng ngày càng khó phân biệt ranh giới giữa vòng sợi và nhân nhầy đĩa đệm. Theo quy luật chung, tuổi càng cao thì nhân nhầy đĩa đệm càng dễ bị xơ hoá và ít chất nhầy hơn [12. Hình ảnh một đĩa đệm bình thường (bên trái) và một đĩa đệm bị thoái hoá (bên phải) [6. Bên trái là ảnh đĩa đệm cột sống bình thường thấy rõ những lá mỏng của vòng sợi hình khuyên vây quanh nhân nhầy.
Nhân nhầy trên ảnh phồng lên và mềm mại. Trong đĩa thoái hoá bên phải, nhân nhầy bị mất nước, teo khô. Tổ chức vòng sợi bị rối loạn, các lá mỏng sắp xếp không đều, tách ra và đan dính vào nhau. Những nghiên cứu của Modic và cộng sự về hình ảnh của đĩa đệm bị thoái hoá còn cho thấy có những thay đổi ở tuỷ xương thân đốt liền kề với những bản sụn đĩa đệm do biến đổi cấu trúc đĩa đệm [14.
2 Thoái hoá bản sụn đĩa đệm hay thay đổi cấu trúc xương ở đĩa đệm. 3 Tải trọng cơ học và chấn thương Những tải trọng cơ học bất thường cũng được xem là cơ hội dẫn đường tới thoái hoá đĩa đệm. Trong nhiều thập niên qua tải trọng cơ học được xác định như là nguyên nhân chính gây tổn thương ở cột sống, là loại tổn thương thường gắn với quá trình làm hỏng các cấu trúc. Người ta cho rằng một tổn thương như vậy gây khởi đầu cho quá trình thoái hoá đĩa đệm và cuối cùng dẫn tới triệu chứng đau và các hội chứng gặp trên lâm sàng [4.
4 Giảm dinh dưỡng ở đĩa đệm 10 Một trong số những nguyên nhân chính gây thoái hoá đĩa đệm là sự giảm sút đột ngột các chất dinh dưỡng cung cấp tới những tế bào đĩa đệm. Cũng giống như tất cả các tế bào khác, những tế bào đĩa đệm cũng cần chất dinh dưỡng như glucose và oxy để tồn tại và phát triển. Như vậy, giảm khả năng cung cấp chất dinh dưỡng dẫn đến giảm nồng độ oxy, độ pH của môi trường, gây giảm khả năng tổng hợp và duy trì hệ thống mạng lưới ma trận trong nhân nhầy đĩa đệm và cuối cùng dẫn tới thoái hoá đĩa đệm [14. 5 Những yếu tố di truyền trong quá trình thoái hoá đĩa đệm Theo Hồ Hữu lương [4.], sự sắp xếp và chất lượng của colagen trong vòng sợi đĩa đệm là do yếu tố di truyền, hư đĩa đệm mang tính chất gia đình.
Những người bị thoái hoá đĩa đệm có lượng chondroitin sulfate thấp hơn so với bình thường [15.