Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh bến tre

Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng và hiệu quả can thiệp phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại Bến Tre.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2022

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm liên quan đến nam quan hệ tình dục đồng giới và bệnh lây truyền qua đường tình dục

1.1.1. Khái niệm nam quan hệ tình dục đồng giới

1.1.2. Bệnh lây truyền qua đường tình dục

1.1.3. HIV/AIDS

1.1.4. Bệnh Giang mai

1.1.5. Bệnh Chlamydia (nhiễm Chlamydia trachomatis)

1.2. Lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục trên nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới

1.3. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục, kiến thức, thực hành ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới

1.3.1. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới

1.3.1.1. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới trên thế giới

3. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1

Phụ lục 2

Phụ lục 3

Phụ lục 4

Phụ lục 5

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Can Thiệp Phòng Chống Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục

Nghiên cứu về can thiệp phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) ở nam giới quan hệ đồng tính tại Bến Tre là một vấn đề cấp thiết. Tình hình lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục đang gia tăng trong nhóm MSM. Việc hiểu rõ thực trạng và hiệu quả của các can thiệp là cần thiết để cải thiện sức khỏe cộng đồng.

1.1. Khái Niệm Về Nam Giới Quan Hệ Đồng Tính

Nam giới quan hệ đồng tính (MSM) là thuật ngữ chỉ những người nam có quan hệ tình dục với nam khác. Nhóm này thường có nguy cơ cao mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là HIV.

1.2. Tình Hình Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục Tại Bến Tre

Tại Bến Tre, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM đang gia tăng. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ này đã tăng từ 1,18% năm 2012 lên 4,29% năm 2014, cho thấy sự cần thiết của các can thiệp hiệu quả.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Phòng Chống Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục

Các thách thức trong việc phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính bao gồm sự thiếu hụt kiến thức, thái độ tiêu cực và sự kỳ thị xã hội. Những yếu tố này cản trở việc tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục sức khỏe.

2.1. Thiếu Kiến Thức Về Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục

Nhiều nam giới trong nhóm MSM thiếu kiến thức về các phương pháp phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường tình dục, dẫn đến hành vi nguy cơ cao.

2.2. Kỳ Thị Và Sự Cách Biệt Trong Xã Hội

Sự kỳ thị đối với nam giới quan hệ đồng tính làm giảm khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, từ đó làm tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

III. Phương Pháp Can Thiệp Hiệu Quả Để Phòng Chống Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục

Các phương pháp can thiệp hiệu quả bao gồm giáo dục sức khỏe, cung cấp bao cao su miễn phí và tư vấn xét nghiệm HIV. Những biện pháp này đã được chứng minh là giúp giảm tỷ lệ nhiễm bệnh trong nhóm MSM.

3.1. Giáo Dục Sức Khỏe Về Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục

Giáo dục sức khỏe là một phần quan trọng trong can thiệp. Cung cấp thông tin chính xác về các bệnh lây truyền qua đường tình dục giúp nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi.

3.2. Cung Cấp Bao Cao Su Miễn Phí

Cung cấp bao cao su miễn phí cho nam giới quan hệ đồng tính là một biện pháp hiệu quả để giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Can Thiệp Phòng Chống Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục

Nghiên cứu cho thấy các can thiệp đã giúp giảm tỷ lệ nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm MSM tại Bến Tre. Kết quả này cho thấy sự cần thiết của việc tiếp tục triển khai các chương trình can thiệp.

4.1. Tỷ Lệ Nhiễm Bệnh Trước Và Sau Can Thiệp

Tỷ lệ nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục đã giảm đáng kể sau khi thực hiện các can thiệp, cho thấy hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa.

4.2. Đánh Giá Kiến Thức Và Thực Hành Sau Can Thiệp

Kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục đã được cải thiện rõ rệt sau các can thiệp, cho thấy sự thay đổi tích cực trong hành vi của nhóm MSM.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Can Thiệp Phòng Chống Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy các can thiệp phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại Bến Tre là cần thiết và hiệu quả. Tương lai cần tiếp tục nghiên cứu và mở rộng các chương trình can thiệp để giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh.

5.1. Đề Xuất Các Giải Pháp Tiếp Theo

Cần có các giải pháp tiếp theo để duy trì và mở rộng các can thiệp, bao gồm tăng cường giáo dục sức khỏe và cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế cho nhóm MSM.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Liên Tục

Nghiên cứu liên tục về tình hình bệnh lây truyền qua đường tình dục và hiệu quả của các can thiệp là rất quan trọng để điều chỉnh các chương trình phòng chống phù hợp.

23/06/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh bến tre

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan đến nam quan hệ tình dục đồng giới và bệnh lây truyền qua đường tình dục 1. Khái niệm nam quan hệ tình dục đồng giới Thuật ngữ “Nam có quan hệ tình dục đồng giới” hoặc “Nam giới quan hệ đồng tính” hoặc “Nam có quan hệ tình dục với nam” (men who have sex with men-viết tắt MSM) là một thuật ngữ chỉ hành vi quan hệ tình dục của những người nam giới với những người nam giới khác với bất kì hoàn cảnh nào, không phụ thuộc vào khuynh hướng tình dục, nhận dạng tình dục và nhận dạng giới [92]. Bệnh lây truyền qua đường tình dục Bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD): là các nhiễm trùng do tác nhân là vi khuẩn, vi rút, đơn bào, nấm, kí sinh gây nên và lây truyền từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục (QHTD).

Hầu hết các vi khuẩn, đơn bào, nấm và kí sinh vật có thể bị diệt bởi các thuốc điều trị đặc hiệu. Trái lại, các vi rút hiện nay chưa có thuốc nào diệt được, do vậy chúng tồn tại trong cơ thể một thời gian dài hoặc suốt cuộc đời. Một số tác nhân gây BLTQĐTD: - Vi khuẩn: xoắn khuẩn giang mai, lậu cầu, chlamydia trachomatis, trực khuẩn hạ cam, ureaplasma urealyticum, calymmatobacterium granulomatis, gardnerella vaginalis, liên cầu nhóm B, vi khuẩn kỵ khí âm đạo. - Vi rút: herpes simplex, u mềm lây, HIV, vi rút viêm gan B, viêm gan C.

- Nấm và các tác nhân khác: nấm men Candida, trùng roi âm đạo, cái ghẻ, rận mu. HIV/AIDS HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus” là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh. AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune Deficiency Syndrome” là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong. Đường lây truyền HIV: lây truyền qua đường tình dục, qua đường máu và lây truyền từ mẹ sang con.

Ngoài các phương thức lây truyền như trên, hiện nay chưa xác định được các phương thức lây khác như đường hô hấp, qua muỗi hoặc côn trùng đốt, hôn, dùng chung bát đũa. Hiện nay vắc xin phòng HIV vẫn còn đang thử nghiệm và cũng chưa có cách điều trị AIDS, việc phòng chống căn bệnh thế kỷ này chủ yếu vẫn thông qua hành vi tình dục an toàn. Do đó để việc phòng chống có hiệu quả thì mọi người phải có kiến thức, thái độ và hành vi đúng về HIV/AIDS, đặc biệt là những đối tượng có nguy cơ cao, những nhóm dễ cảm nhiễm với HIV. Chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV: chăm sóc toàn diện cho người nhiễm HIV trước khi điều trị thuốc kháng vi rút (ARV), điều trị nhiễm trùng cơ hội, điều trị thuốc ARV cho những người MSM nhiễm HIV [5].

Bệnh Giang mai Bệnh giang mai là một BLTQĐTD, do xoắn khuẩn nhạt, tên khoa học là Treponema pallidum gây nên. Bệnh có thể gây thương tổn ở da - niêm mạc và nhiều tổ chức, cơ quan của cơ thể mà chủ yếu ở cơ, xương khớp, tim mạch và thần kinh. Bệnh lây truyền chủ yếu qua QHTD và có thể lây truyền qua đường máu, lây truyền từ mẹ sang con. Bệnh có thể gây hậu quả trầm trọng như giang mai 5 thần kinh, giang mai tim mạch, giang mai bẩm sinh.

Điều trị sớm và đủ liều để khỏi bệnh, ngăn chặn lây lan, đề phòng tái phát và di chứng. Điều trị đồng thời cho cả bạn tình của bệnh nhân. Penicillin là thuốc được lựa chọn, cho đến nay chưa có trường hợp nào xoắn khuẩn giang mai kháng Penicilin [3]. Bệnh Chlamydia (nhiễm Chlamydia trachomatis) Bệnh Chlamydia là BLTQĐTD phổ biến, tiến triển của bệnh và biểu hiện lâm sàng của nhiễm Chlamydia trachomatis là do hiệu quả phối hợp của hủy hoại tổ chức tế bào do Chlamydia trachomatis nhân lên và đáp ứng viêm của tổ chức với vi khuẩn này và các chất hoại tử do tế bào bị phá hủy.

Chlamydia trachomatis có thể bị nhiễm khi QHTD qua hậu môn, âm đạo hoặc bằng miệng với người nhiễm Chlamydia trachomatis. Đối với nam, Chlamydia gây viêm niệu đạo, viêm mào tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, viêm trực tràng, hội chứng Reiter [3]. Lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục trên nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới Trong nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ nhiễm HIV, giang mai, chlamydia trachomatis cao ở nhóm MSM [31], [37], [39], [47]. QHTD giữa nam và nam có nguy cơ lây nhiễm các BLTQĐTD cao hơn QHTD giữa nam và nữ.

MSM sinh hoạt tình dục qua đường hậu môn, làm tăng nguy cơ bị lây nhiễm BLTQĐTD từ người bệnh sang người lành vì hậu môn không có dịch nhờn bôi trơn. Hơn nữa, niêm mạc trực tràng có nhiều mao mạch, dễ bị tổn thương, xây xước khi sinh hoạt tình dục. Qua những vết xây xước này, các tác nhân gây các BLTQĐTD sẽ xâm nhập từ người nhiễm sang người lành và từ đó vào máu. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục, kiến thức, thực hành ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới 1.

Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới 1. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình đồng giới trên thế giới Theo báo cáo của UNAIDS về tình hình dịch HIV/AIDS trên toàn cầu, trong năm 2017 có 36,9 triệu người sống với HIV tăng 4,5 triệu người so với năm 2010 (năm 2010 là 32,4 triệu người), kết quả cho thấy tiếp tục có nhiễm mới và những người sống lâu hơn với HIV [89], [90], tốc độ thay đổi theo nhóm tuổi, giới tính và khu vực [87], [88]. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM đã tăng ít nhất ba lần trong thập kỷ qua - từ 5,3% năm 2007 lên 17,9% năm 2019, tỷ lệ mắc bệnh lậu (18,7%), chlamydia (27,9%) và giang mai (9,6%) trong nhóm MSM trên toàn quốc. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhóm thanh niên MSM ở các trung tâm thành thị tăng gấp 4 lần trong giai đoạn 2011 - 2015 (từ 3,8% lên 15,6%), năm 2019 tỷ lệ hiện nhiễm cao 17,9% [72], [78], [93].

Năm 2018, tỷ lệ mắc các BLTQĐTD ở MSM bao gồm giang mai tiên phát, thứ phát và bệnh lậu kháng khuẩn cao hơn tỷ lệ được báo cáo ở phụ nữ và nam giới chỉ quan hệ tình dục với phụ nữ [55], [61]. So với năm 2014, MSM chiếm 83% các trường hợp giang mai tiên phát và thứ phát. MSM thường nhiễm BLTQĐTD bao gồm nhiễm chlamydia và lậu. Tỷ lệ mắc BLTQĐTD tương đối cao trong nhóm MSM có thể liên quan đến nhiều yếu tố, bao gồm hành vi cá nhân và hành vi tình dục [64], [77].

Trong số những người đàn ông da đen được chẩn đoán nhiễm HIV vào năm 2016, phần lớn các trường hợp chẩn đoán (80%) là do quan hệ tình dục nam - nam (10. Trong số tất cả MSM trưởng thành được chẩn 7 đoán nhiễm HIV vào năm 2016 (26.569), có sự chênh lệch về chủng tộc và dân tộc; 38% là người Mỹ gốc Phi hoặc da đen (10,223), 28% là gốc Tây Ban Nha/Latino (7,425), 28% là người da trắng (7,390), và 6% còn lại là người Mỹ bản địa/Alaska bản địa, người Châu Á, Đảo Thái Bình Dương hoặc nhiều chủng tộc (1,532) [57]. Phần lớn các ca nhiễm HIV trong nhóm MSM ở Hoa Kỳ xảy ra ở những người trong độ tuổi lao động. Tỷ lệ nhiễm ở Indonesia (2021) về HIV chiếm 30% ở nam giới vị thành niên và thanh niên có quan hệ tình dục đồng giới; 1/5 có các triệu chứng nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục trong năm qua.

13% biết trước tình trạng nhiễm HIV của mình và 17% biết được tình trạng nhiễm HIV của mình trong cuộc khảo sát. Tỷ lệ hiện mắc ở nhóm MSM từ 25 tuổi trở lên cao hơn 2,2 lần so với nhóm MSM trẻ tuổi [70]. Rein Willekens (2021) thực hiện một nghiên cứu cắt ngang tiền cứu, bao gồm MSM nhiễm HIV không có triệu chứng tham gia các cuộc khám định kỳ từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 12 năm 2017. Trong số 301 bệnh nhân được nghiên cứu bao gồm 60 bệnh nhân (19,9%) có ít nhất một STIs, phổ biến nhất là giang mai (33 trong số 69 STIs), tiếp theo là chlamydia (19 trong 69), lậu (10 trong 69), vi rút viêm gan C (4 trong 69) và lymphogranuloma venereum (3 trong 69).

Sử dụng ma túy bất hợp pháp trong khi quan hệ tình dục là biến số duy nhất có liên quan đáng kể đến sự hiện diện của STIs trên phân tích đa biến (OR = 2,13; KTC 95%: 1,17 - 3,89) [79]. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Việt Nam Trường hợp HIV đầu tiên được phát hiện ở nước ta vào tháng 12/1990 [9]. Trong 5 năm từ 2010 - 2015, số trường hợp HIV dương tính phát hiện năm 2010 từ 17.000 năm 2019, tử vong giảm từ 3.130 ca năm 8 2015, số bệnh nhân AIDS từ 8.900 ca năm 2010 xuống còn khoảng 6. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM đã tăng từ 5,1% năm 2015 lên 7,36% năm 2017 [10].

Một nghiên cứu được thực hiện tại Thừa Thiên Huế (2014), cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV của MSM là 1,5% [29]. Tỷ lệ lưu hành HIV ở nhóm MSM qua giám sát trọng điểm HIV, lồng ghép hành vi tại 9 tỉnh phía Nam năm 2010-2014 dao động ở mức 2 - 10% [31]. Tại Hà Nội, tỷ lệ dương tính với một trong 4 bệnh STIs gồm HIV, giang mai, lậu và chlamydia là 29%, trong đó, mắc 2 bệnh, 3 bệnh, 4 bệnh lần lượt là 77%, 17% và 6% [48]. Tại Hải Phòng (2018), tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm MSM là 2,0% [15].

Một nghiên cứu tại Hà Nội cho kết quả tỷ lệ nhiễm HIV/STIs ở nam bán dâm đồng giới 16-29 tuổi rất cao (nhiễm HIV: 6,1%; nhiễm ít nhất 1 bệnh STIs: 48,7%; mắc giang mai: 21,0%, lậu: 14,7%, chlamydia: 16,7%) [18]. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Bến Tre Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bến Tre: năm 2014 BLTQĐTD trong toàn tỉnh là 3.432 trường hợp tăng 372 trường hợp so với năm 2013. Trong đó, giang mai 9 trường hợp, lậu 15 trường hợp, sùi mào gà sinh dục 97 trường hợp, HIV 212 trường hợp, herpes sinh dục 3 trường hợp và các bệnh hoa liễu khác. Trong năm 2020, toàn tỉnh phát hiện thêm 296 trường hợp nhiễm HIV.

Lũy tích từ năm 1993 đến 30/11/2020 số người nhiễm HIV được phát hiện trong toàn tỉnh là 3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hiệu Quả Can Thiệp Phòng Chống Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục Ở Nam Giới Quan Hệ Đồng Tính Tại Bến Tre" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu sự lây lan của các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) trong cộng đồng nam giới quan hệ đồng tính tại Bến Tre. Nghiên cứu không chỉ đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc nâng cao nhận thức và hành vi phòng ngừa trong nhóm đối tượng này.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích từ tài liệu này, giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc phòng chống STIs và cách thức thực hiện các biện pháp can thiệp hiệu quả. Để mở rộng kiến thức, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận án nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh Bến Tre, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình và các biện pháp can thiệp tương tự.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ đặc điểm lâm sàng yếu tố liên quan bệnh lậu độ nhạy cảm với kháng sinh và gen kháng thuốc của vi khuẩn lậu tại Việt Nam, giúp bạn nắm bắt được các khía cạnh lâm sàng của một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến.

Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kiểu gen của chlamydia trachomatis ở phụ nữ vô sinh tại bệnh viện phụ sản trung ương 2020 2021 cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về một loại bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các góc nhìn khác nhau về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.