CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài 1. Những nghiên cứu về các véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phân bố, hình thái phân loại, sinh học, sinh thái, di truyền, vai trò truyền bệnh, các biện pháp phòng chống… các véc tơ SXHD. Hai véc tơ SXHD chủ yếu được xác định là Ae.
aegypti và Ae. Nghiên cứu về hình thái, sinh thái của Ae. aegypti, điển hình có một số công trình của Hopkin, 1952; Christopher, 1960; Belkin, 1970; Harison, 1973. Các tác giả đã mô tả chi tiết hình thái bên ngoài, bên trong của ấu trùng và muỗi trưởng thành.
Đặc biệt công trình nghiên cứu của Christopher, 1960 đã mô tả chi tiết và đầy đủ các đặc điểm về hình thái, phân loại, di truyền, sinh lý, sinh thái, phân bố, các pha phát triển của Ae. aegypti (trứng, bọ gậy, quăng và muỗi trưởng thành) và vai trò truyền bệnh của chúng. Các tác giả đã chỉ ra rằng, ngoài những đặc điểm chung của loài thì giữa các vùng địa lý khác nhau còn có một số khác nhau về hính thái như kích thước, màu sắc. Nghiên cứu về phân bố của Ae.
aegypti đã được nhiều tác giả quan tâm và cập nhật tương đối đầy đủ. Cho đến nay loài Ae. aegypti đã được phát hiện hầu khắp thế giới, ở tất cả các vùng địa động vật và các vùng khí hậu khác nhau ở 142 nước. Các tác giả đã xác định Ae.
aegypti phân bố từ khoảng 350 vĩ độ Bắc đến 350 vĩ độ Nam và ở độ cao dưới 1.000 mét so với mực nước biển [39]. Phân bố của Ae. albopictus: loài muỗi này vốn là loài bản địa ở châu Á, có khí hậu nhiệt đới, nhưng hiện nay vùng phân bố của chúng đã mở rộng và hiện diện ở 78 nước thuộc châu Mỹ, châu Phi và cả những vùng thuộc khí hậu ôn đới như châu Âu. Tập tính hút máu của hai loài Ae.
aegypti và Ae. albopictus đã được nhiều tác giả nhận định chúng thường đốt người vào ban ngày, đặc biệt là vào buổi sáng sớm và chiều tối [38]. Một nghiên cứu bằng cách sử dụng máy phân tích 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quang phổ, nhiệt và sự tương phản màu trắng đen cho thấy cường độ ánh sáng tăng lên thì Ae. aegypti có khả năng tìm kiếm vật chủ tốt hơn Ae.
Bệnh sốt xuất huyết Dengue do virus Dengue thuộc họ Flaviviridae, chi Flavivirus gây nên, bệnh này được biết cách đây trên 3 thế kỷ ở các khu vực khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Những vụ dịch đầu tiên xảy ra vào những năm 1778 – 1780 ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ. Tỷ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới đã tăng nhanh trong những năm gần đây. Bệnh SXHD lưu hành trên 100 quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương.
Cho đến nay người ta đã xác định có 4 chủng virus Dengue gây SXHD ở người viết tắt là DEN-I, DEN-II, DEN-III và DEN-IV. Không chỉ có số trường hợp mắc bệnh gia tăng mà khả năng nhiễm các chủng virus khác nhau cũng ngày càng đáng báo động [39]. Trong 50 năm qua, số ca mắc tăng 30 lần, cùng với sự gia tăng các vùng bị nhiễm mới, phân bố từ thành phố đến nông thôn. Ước tính khoảng 50 triệu ca SXHD xảy ra hàng năm và khoảng 2,5 tỉ người sống tại các quốc gia có bệnh lưu hành.
Virus SXHD chủ yếu lây truyền qua muỗi thuộc giống Aedes, trong đó loài Ae. aegypti và Ae. albopictus được coi là véc tơ (VT) chính truyền SXHD. Ngoài ra, trong một số vụ dịch còn phân lập được virus Dengue ở một số loài Aedes khác như: Ae.
cooki ở Nam Thái Bình Dương [41]. Sự nhiễm virus do muỗi cái hút máu từ người đang bị nhiễm virus Dengue trong giai đoạn từ 2-10 ngày sẽ bị nhiễm virus trong các tế bào thành ruột của nó. Khoảng 8-10 ngày sau virus xâm nhập đến các mô khác bao gồm tuyến nước bọt của muỗi. Virus Dengue dường như không gây hại cho muỗi, muỗi bị nhiễm vẫn sống bình thường [33].
Tình hình sử sụng hóa chất và các biện pháp phòng chống véc tơ SXHD. Hiện nay trên thế giới bệnh SXHD chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng mà chưa đưa vào sử dụng, chính vì 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy biện pháp phòng chống SXHD chủ yếu vẫn dựa vào việc kiểm soát véc tơ, trong đó biện pháp sử dụng hóa chất diệt côn trùng là đặc biệt có hiệu quả trong việc giảm nhanh chóng các quần thể muỗi gây bệnh [38]. Xu hướng chung của phòng chống véc tơ SXHD trên thế giới hiện nay là phối hợp đồng thời nhiều biện pháp và nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng trong loại trừ nguồn sinh sản là các ổ nước để tiêu diệt bọ gậy. Năm 1980, hội đồng chuyên gia của WHO về phòng chống véc tơ bằng sinh học đưa ra 3 hình thức quản lý môi trường bao gồm: Thay đổi môi trường, loại bỏ lâu dài nơi sinh sống của véc tơ; quản lý dụng cụ chứa nước (DCCN); phòng muỗi sinh sản trong các DCCN [41].
Đối với các biện pháp sử dụng hóa chất để phòng chống muỗi trưởng thành chủ yếu sử dụng biện pháp phun ULV. Tuy nhiên một số nghiên cứu cũng quan tâm đến biện pháp phun tồn lưu sau khi đã có những nghiên cứu kỹ lưỡng về các đặc điểm sinh học và sinh thái học của muỗi. Kết quả nghiên cứu của Chadee (2013), xác định tập tính của Ae. aegypti ở St Augustine, Trinidad, thấy đa số muỗi cái thu thập từ phòng ngủ (81,9%), phòng sinh hoạt (8,7%) và bếp (6,9%) và hầu hết muỗi được thu thập từ bề mặt tường tối gần sàn chứ không phải trên bề mặt phía trên cao của bức tường.
Những kết quả này tương tự như quan sát thấy của một số tác giả ở Cộng hòa Dominica năm 1990, Puerto Rico năm 1994, Panama năm 2000, Costa Rica năm 2003… Một nghiên cứu khác của Rozilawati và cộng sự (2005) ở Kuala Lumpur, Malaysia cho thấy Deltamethrin WG được phun tồn lưu ngoài nhà liều 25mg/m2 thấy có hiệu lực tồn lưu trong 6 tuần sau khi phun, nhưng không có hiệu quả làm giảm mật độ quần thể muỗi Aedes trong khu vực nghiên cứu [45]. Gần đây, vật liệu tẩm hóa chất diệt côn trùng (ITMs), được nghiên cứu và cho thấy có khả năng làm giảm mật độ véc tơ sốt xuất huyết trong các hộ gia đình. Vật liệu tẩm hóa chất diệt côn trùng có tác dụng diệt muỗi trưởng thành, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giai đoạn quan trọng nhất trong việc truyền bệnh của muỗi. Muỗi trưởng thành sẽ tiếp xúc trực tiếp với ITMs trong quá trình tìm kiếm vật chủ đề đốt mồi, làm giảm tuổi thọ của chúng, có hiệu quả làm thay đổi cấu trúc tuổi của quần thể véc tơ.
Như vậy, tuổi đời của muỗi sẽ sống ngắn hơn, không đủ lâu để có thể truyền bệnh. Hơn nữa, vật liệu tẩm hóa chất diệt côn trùng tồn lưu có hiệu lực kéo dài trong thời gian ít nhất 1 đến vài năm [40], dài hơn bất kỳ biện pháp áp dụng nào khác trong việc phòng chống muỗi gây bệnh. Một số thử nghiệm trước đây ở trong cũng như ngoài nước cho thấy, việc sử dụng ITMs trong phòng chống muỗi có thể ảnh hưởng đến quần thể véc tơ và có mức độ chấp nhận cao của các hộ gia đình [31]. Hiện tại, ITMs được khuyến cáo như là công cụ có hiệu quả trong phòng chống véc tơ truyền sốt rét, sốt xuất huyết.
Các nghiên cứu tại Mexico và Venezuela: từ 2002 - 2003, đã đánh giá tác động của rèm cửa và nắp đậy các dụng cụ trữ nước có tẩm hóa chất diệt côn trùng lên quần thể véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết (Ae. aegypti) và khả năng lan truyền sốt xuất huyết. Trong cả hai địa điểm nghiên cứu, các chỉ số cuối cùng của cuộc thử nghiệm thấp hơn đáng kể hơn so với lúc ban đầu, mặc dù không có sự khác biệt đáng kể giữa những cụm đối chứng và can thiệp. Chỉ số Breteau (BI) trung bình giảm từ 60% (ở những cụm can thiệp) và 113% (cụm đối chứng) đến 7% (cụm can thiệp) và 12% (cụm đối chứng) ở Veracruz và từ 38% đến 11% (cụm can thiệp) và từ 34% đến 17% (cụm đối chứng) ở Trujillo.
Các chỉ số muỗi, quăng/bọ gậy ở các mô hình là như nhau. Ngược lại, trong những xã không thử nghiệm gần đó thì các chỉ số côn trùng biến đổi theo mô hình lượng mưa. Can thiệp cũng làm giảm các chỉ số muỗi, bọ gậy ở quần thể muỗi ở điểm đối chứng lân cận (hiệu quả lan tỏa); những nhà gần với nhà nghiên cứu ít có khả năng nhiễm hơn so với những nhà ở xa. Điều này tạo ra một hiệu ứng cộng đồng, theo đó số lượng muỗi giảm khắp các điểm nghiên cứu [31].
Nghiên cứu tại Venezuela từ 2006-2008, đã đánh giá hiệu quả của vật liệu tẩm hóa chất diệt côn trùng tồn lưu lâu lên rèm và nắp đậy dụng cụ trữ nước 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phòng chống muỗi truyền sốt xuất huyết (Ae. aegypti) ở 10 cụm dân cư (5 cụm thuộc vùng đô thị và 5 cụm thuộc vùng ngoại ô) với khoảng 4000 hộ gia đình ở Trujillo, Venezuela. Kết quả thấy rằng, tỷ lệ hộ gia đình có ≥ 1 ITMs là 79,7% trong vùng nội thành và 75,2% ở vùng ngoại thành, nhưng lại giảm còn 32,3% và 39,0% sau 18 tháng. Các con số tương ứng cho tỷ lệ dụng cụ chứa nước sử dụng nắp đậy ITMs là 34,0% và 50,8% tại vùng nghiên cứu và 17,0% và 21,0% sau 18 tháng.
Trước khi can thiệp, chỉ số Breateu (Breateu Index-BI) = 8,5 ở các cụm trong vùng đô thị và 42,4 ở các cụm trong vùng ngoại thành, và chỉ số quăng trên người (Pupae per Person Index- PPI) tương ứng sau can thiệp là 0,2 và 0,9. Với các cụm nghiên cứu trong cả hai vùng đô thị và ngoại thành, chỉ số BI cho thấy duy trì giảm 55% [39]. Nghiên cứu tại Haiti từ tháng 7/2003 đến tháng 7/2004, sử dụng màn tẩm hóa chất diệt côn trùng trong phòng chống véc tơ truyền truyền bệnh sốt xuất huyết. Khu vực nghiên cứu (1017 nhà) được chia thành 18 cụm: 9 cụm sử dụng màn Olyset® tẩm hóa chất diệt côn trùng tồn lưu lâu và 9 cụm đối chứng không sử dụng màn này.