Đặc điểm sinh học quần thể ngoé Limnonectes limnocharis ở Vinh và Nghi Lộc

Nghiên cứu chi tiết về đặc điểm hình thái, dinh dưỡng, sinh sản của quần thể ngoé Limnonectes limnocharis tại khu vực Vinh và Nghi Lộc, Nghệ An.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Ngoé Limnonectes limnocharis

Ngoé Limnonectes limnocharis (Boie, 1834) là một loài ếch nước ngọt phổ biến tại Nghệ An, đặc biệt ở các khu vực VinhNghi Lộc. Đây là loài lưỡng cư quan trọng trong hệ sinh thái nước ngọt, có vai trò đáng kể trong việc kiểm soát quần thể côn trùng. Đặc điểm sinh học của ngoé được nghiên cứu kỹ lưỡng thông qua các công trình khoa học tại Đại học Vinh. Loài này thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Bắc Trung Bộ, là thành viên quan trọng của đa dạng sinh học lưỡng cư Việt Nam với khoảng 80 loài ếch nhái được ghi nhận.

1.1. Phân loại học và đặc điểm hình thái

Ngoé thuộc họ Dicroglossidae, được đặc trưng bởi vị trí phân loại rõ ràng. Đặc điểm hình thái bao gồm kích thước cơ thể trung bình, da có kết cấu độc đáo với các gờ kéo dài từ mắt đến hông. Màu sắc hoa văn của ngoé thay đổi theo mùa và điều kiện môi trường, thường có sắc nâu vàng hoặc xám. Các cá thể tại Nghệ An thể hiện tỉ lệ nhóm sắc đa dạng phản ánh sự thích nghi với sinh cảnh địa phương.

1.2. Phân bố và sinh cảnh tại Nghệ An

Loài ngoé phân bố rộng rãi tại Vinh và Nghi Lộc, chủ yếu ở các sinh cảnh như ruộng lúa, ao, hồ nước ngọt. Đặc điểm khí hậu của Nghệ An với độ ẩm cao, nhiệt độ ôn hòa tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của loài. Mật độ quần thể ngoé biến động theo mùa, cao nhất vào mùa mưa khi điều kiện sống thuận lợi.

II. Đặc điểm sinh học và hành vi của Ngoé

Đặc điểm sinh học của ngoé Limnonectes limnocharis tại Nghệ An đã được nghiên cứu chi tiết qua các công trình khoa học. Loài này thể hiện hoạt động theo ngày mùa rõ rệt, hoạt động mạnh mẽ vào ban đêm và mùa mưa. Dinh dưỡng của ngoé chủ yếu là côn trùng nhỏ, giun, các động vật không xương sống khác. Độ no của ngoé thay đổi theo mùa, cao nhất vào mùa sinh sản. Các tháng khác nhau cho thấy sự biến động trong lượng thức ăn tiêu thụ. Thành phần thức ăn phong phú giúp ngoé thích nghi tốt với các sinh cảnh khác nhau tại Nghệ An.

2.1. Hành vi và chế độ ăn

Hành vi ăn uống của ngoé thay đổi theo điều kiện môi trường sinh cảnh. Loài này là động vật ăn thịt chuyên ăn côn trùng, đặc biệt là các loài ruồi, muỗi, châu chấu. Tần số gặp thức ăn khác nhau ở các sinh cảnh gồm ruộng lúa, ao hồ. Ngoé thể hiện sự khác biệt rõ rệt trong hành vi giữa các giới tính, nhất là trong thời kỳ sinh sản.

2.2. Hoạt động theo mùa

Hoạt động theo mùa của ngoé ở Nghệ An phụ thuộc vào đặc điểm khí hậu vùng. Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 9) là thời gian hoạt động mạnh mẽ nhất. Mật độ quần thể tăng cao khi điều kiện ẩm ướt. Mùa khô, hoạt động của ngoé giảm, chúng tập trung ở các vùng nước sâu hơn.

III. Quá trình sinh sản và phát triển

Quá trình sinh sản của ngoé Limnonectes limnocharis là một phần quan trọng trong đặc điểm sinh học. Sự khác biệt về giới tính rõ rệt cả về kích thước và hành vi. Số trứng trong buồng trứng của cá thể cái trưởng thành lên đến hàng trăm quả, phụ thuộc vào kích thước cơ thể. Nơi đẻ trứng thường là các vùng nước cạn, thảo thực sinh nước. Đặc điểm trứng sau đẻ bao gồm kích thước nhỏ, không có vỏ cứng. Tỉ lệ nở của trứng khá cao trong điều kiện tự nhiên. Thời gian biến thái của nòng nọc kéo dài từ 2-3 tháng tùy theo điều kiện khí hậu.

3.1. Đặc điểm sinh sản

Sinh sản của ngoé diễn ra trong mùa mưa khi điều kiện ẩm ướt. Sự khác biệt giữa cá thể cái và đực rõ rệt ở kích thước và đặc điểm hình thái. Buồng trứng phình to trước mùa sinh sản. Nơi đẻ trứng được chọn lựa kỹ lưỡng ở các vùng sinh cảnh có thảo thực sinh nước dồi dào.

3.2. Phát triển nòng nọc và tỉ lệ sống sót

Tỉ lệ nở trứng của ngoé ở Nghệ An đạt 70-80%. Phát triển nòng nọc trải qua các giai đoạn rõ rệt với thời gian khác nhau. Tỉ lệ sống sót của nòng nọc trong tự nhiên phụ thuộc vào điều kiện sinh cảnh và lượng thức ăn. Biến thái hoàn thành thường diễn ra vào cuối mùa mưa.

IV. Vai trò sinh thái và ý nghĩa khoa học

Ngoé Limnonectes limnocharis đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nước ngọt tại Nghệ An. Là động vật ăn thịt chuyên ăn côn trùng, ngoé góp phần kiểm soát quần thể các loài côn trùng phá hoại mùa màng. Nghiên cứu đặc điểm sinh học của ngoé giúp hiểu rõ hơn về đa dạng sinh học lưỡng cư của Việt Nam. Công trình nghiên cứu tại Đại học Vinh đã góp phần xác định Nghệ An là vùng có tính đa dạng sinh học cao với khoảng 42 loài lưỡng cư. Các thông tin về sinh cảnhhoạt động theo mùa của ngoé có ý nghĩa quan trọng cho việc bảo vệ tài nguyên sinh họcquản lý môi trường bền vững.

4.1. Vai trò trong hệ sinh thái

Ngoévật ăn côn trùng quan trọng, giúp kiểm soát quần thể các loài côn trùng hại. Sinh cảnh nước ngọt tại Nghệ An được hưởng lợi từ hoạt động của loài này. Ngoé cũng là thức ăn của các loài chim, rắn nước, góp phần cân bằng hệ sinh thái. Mật độ quần thể ngoé phản ánh sức khỏe của sinh cảnh nước ngọt.

4.2. Ý nghĩa khoa học và bảo vệ

Nghiên cứu đặc điểm sinh học ngoé cung cấp dữ liệu quý giá cho bảo vệ đa dạng sinh học. Hiểu biết về quá trình sinh sản, dinh dưỡng, hành vi giúp xây dựng chiến lược bảo tồn loài. Ô nhiễm môi trường và biến đổi sinh cảnh đe dọa quần thể ngoé, cần có biện pháp quản lý bền vững để bảo vệ loài.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o Tr-êng ®¹i häc VINH --------------------------------------- bïi thÞ huÖ ®Æc ®iÓm sinh häc quÇn thÓ ngoÐ limnonectes limnocharis (boie, 1834) ë vinh vµ nghi léc, nghÖ an luËn v¨n th¹c sÜ sinh häc VINH - 2009 Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o Tr-êng ®¹i häc VINH --------------------------------------- bïi thÞ huÖ ®Æc ®iÓm sinh häc quÇn thÓ ngoÐ limnonectes limnocharis, boie, weigmann, 1835 ë vinh vµ nghi léc, nghÖ an Chuyªn ngµnh : §éng vËt häc M· sè : 62.10 LuËn V¡N TH¹C sÜ sinh häc Nguời hƣớng dẫn khoa học: 1.TS HOµNG XU©N QUANG 2. cao tiÕn trung VINH - 2009 1 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh quá trình học tập và nghiên cứu của bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều tập thể và cá nhân. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo trƣờng Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm Khoa Sinh, Khoa Sau đại học, Tổ bộ môn Động vật và các Phòng ban của Trƣờng đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi về cơ sở vật chất, điều kiện học tập nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Sinh, Khoa Sau đại học đã trực tiếp giảng dạy, hƣớng dẫn về phƣơng pháp luận giúp chúng tôi hoàn thành đề tài này.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo: PGS. Hoàng Xuân Quang, TS. Cao Tiến Trung đã trực tiếp hƣớng dẫn tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện luận văn này. Xin chân thành cảm ơn bạn bè, và nhất là những ngƣời thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bản luận văn này.

Vinh, ngày 30 tháng12 năm 2009 Tác giả Bùi Thị Huệ 2 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN. Tính cấp thiết của đề tài. Mục đích nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu.

5 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Lƣợc sử nghiên cứu ếch nhái, bò sát ở Việt Nam. Những nghiên cứu về thành phần loài lƣỡng cƣ, bò sát. Những nghiên cứu về sinh học và sinh thái lƣỡng cƣ.2 Cơ sở khoa học và lý luận.

Cơ sở thực tiễn. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu.1 Đặc điểm khí hậu tỉnh Nghệ An và thành phố Vinh .2 Đặc điểm khí hậu huyện Nghi Lộc - Nghệ An .3 Đặc điểm kinh tế - xã hội. 18 CHƢƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Địa điểm nghiên cứu và đặc điểm sinh cảnh.

Đối tƣợng nghiên cứu. Mẫu vật và tƣ liệu nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu hình thái. Phƣơng pháp nghiên cứu đặc điểm sinh thái học.

Phƣơng pháp nghiên cứu đặc điểm sinh trƣởng và phát triển của Ngoé. Nghiên cứu sự phát triển của nòng nọc. Phƣơng pháp tính toán số liệu bằng thống kê sinh học. 24 CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.

Đặc điểm hình thái của Ngoé. Vị trí phân loại. Mô tả đặc điểm hình thái. Đặc điểm màu sắc hoa văn.

26 Tỉ lệ các nhóm sắc hoa văn của quần thể Ngoé tại Đông Vĩnh, Vinh. Đặc điểm hình thái của Ngoé - Limnonectes limnocharis. Đặc điểm hình thái của Ngoé - Limnonectes limnocharis. Mật độ quần thể Ngoé.

Hoạt động theo ngày mùa của Ngoé. Đặc điểm dinh dƣỡng của Ngoé. Đặc điểm dinh dƣỡng của Ngoé theo mùa. Thành phần và tần số gặp thức ăn của Ngoé ở các sinh cảnh.

Độ no của Ngoé ở các tháng, mối quan hệ giữa độ no và giới tính. Đặc điểm sinh sản. Sự khác biệt về giới tính. Số trứng trong buồng trứng ở các cá thể Ngoé cái trƣởng thành.

Đặc điểm nơi đẻ trứng. Đặc điểm trứng sau đẻ. Tỉ lệ nở của trứng. Tỉ lệ sống sót của nòng nọc trong tự nhiên.

Thời gian biến thái của nòng nọc. 60 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT. 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tính cấp thiết của đề tài Là một quốc gia nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có độ ẩm lớn, do đó Việt Nam là một trong những nƣớc có tính đa dạng sinh học cao, đặc biệt là nhóm Lƣỡng cƣ Bò sát.

Trong công ƣớc đa dạng sinh học (CDB) đã nêu rõ: "Nƣớc ta là nƣớc đƣợc thiên nhiên ƣu đãi về sự phong phú, sự đa dạng các hệ sinh thái, đa dạng các loài, đa dạng về tài nguyên di truyền. Theo thống kê năm 1995 ở nƣớc ta có khoảng 12000 loài thực vật có mạch, 275 loài thú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái, 2470 loài cá, 5500 loài côn trùng". Theo thống kê hiện nay ở nƣớc ta có khoảng 13700 loài thực vật có mạch, 275 loài thú, 828 loài chim, 342 loài lƣỡng cƣ, bò sát, 2600 loài cá, 7000 loài côn trùng [1]. Mỗi nhóm sinh vật trong đó có lƣỡng cƣ đều góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học trên hành tinh này.

Ngoài ra lƣỡng cƣ còn có ý nghĩa rất quan trọng trong các hệ sinh thái. Theo Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quốc Thắng (1977): Lƣỡng cƣ là nhóm động vật hữu ích cho con ngƣời, cùng với các loài côn trùng thiên địch khác chúng góp phần khống chế sự phát triển của sâu hại)[6], " Ếch nhái là đội quân hùng hậu, phong phú về số lƣợng, tích cực tiêu diệt côn trùng phá hoại mùa màng" Lƣỡng cƣ là nhóm động vật rất quen thuộc với con ngƣời, chúng có mặt ở khắp mọi nơi trên trái đất. Riêng khu hệ lƣỡng cƣ ở Nghệ An đƣợc xác định là có tính đa dạng sinh học cao, hiện biết có 42 loài lƣỡng cƣ (Hoàng Xuân Quang, 1998, 2006, 2008)[ 16,18,19] Những năm gần đây với sự phát triển của nông nghiệp cùng với các biện pháp cơ giới, canh tác. con ngƣời đã lạm dụng các loại thuốc hoá học làm cho môi trƣờng bị ô nhiễm.

Đặc biệt việc tăng dân số quá nhanh đã thu hẹp diện tích rừng, diện tích đất nông nghiệp. Đồng thời với sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên để đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống nhƣ: Làm dƣợc liệu, thực phẩm (cóc nhà, Ngoé, chẫu chuộc.) đã làm ảnh hƣởng đến đa dạng sinh học, kéo theo là sự suy giảm mật độ của các loài này cũng đang 5 diễn ra ngày càng gay gắt. Vì vậy lƣỡng cƣ là một trong những nhóm động vật đang có nguy cơ bị đe doạ lớn nhất, với 1/3 trong tổng số các loài lƣỡng cƣ trên trái đất đƣợc liệt vào danh sách có nguy cơ đe dọa toàn cầu và gần nhƣ các thông tin về quá trình tác động đến sự tuyệt chủng của chúng đƣợc biết rất ít. Chính điều đó đã làm cho mức độ đe dọa của Lƣỡng cƣ trở nên cao hơn so với chim và thú (Jodi R.

Trên cơ sở lý thuyết cũng nhƣ thực tiễn chúng tôi tiến hành đề tài: “Đặc điểm sinh học quần thể Ngoé Limnonectes limnochari (Boie,1835) ở Vinh và Nghi lộc, Nghệ An” 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của quần thể Ngoé góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho các biện pháp khôi phục, bảo vệ và phát triển bền vững loài động vật này, đồng thời bổ sung tƣ liệu cho bộ môn Herpetology, Trên cơ sở quá trình nghiên cứu góp phần nâng cao năng lực chuyên môn và phƣơng pháp nghiên cứu lƣỡng cƣ bò sát. Nội dung nghiên cứu - Đặc điểm hình thái phân loại của Ngoé tại Vinh và Nghi Lộc, Nghệ An: + Đặc điểm hình thái Ngoé + Hoạt động theo ngày mùa + Mật độ quần thể Ngoé ở các sinh cảnh phân bố + Đặc điểm dinh dƣỡng + Đặc điểm sinh sản 6 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lƣợc sử nghiên cứu ếch nhái, bò sát ở Việt Nam 1.

Những nghiên cứu về thành phần loài lưỡng cư, bò sát Ếch nhái bò sát ở Việt nam đã đƣợc nghiên cứu từ thế kỷ 19 khi mà các nhà khoa học phƣơng tây tìm đến nƣớc ta. Các nghiên cứu ở thời đó có: Tirant (1885), Boulenger (1903), Smit (1921,1923,1924) [21]. Đến năm 1923 Parker có đề cập đến một loài ếch nhái-bò sát ở Huế là Mycrohyla ornata. Cũng năm này Bourret đã thông báo có 9 loài thu đƣợc ở Quảng Trị, Quảng Bình.

Đến cuối năm 1937 Bourret đã thống kê đƣợc 12 loài thu đƣợc ở Quảng Trị, Quảng Bình có 6 loài đƣợc bổ sung và 2 loài rùa cũng thuộc Bắc Trung Bộ đó là Cyclemys quadriocenllata, Ocadia sinensis. Bourret (1939) tiếp tục công bố 12 loài trong đó có một số loài mới, Năm 1940 ông tiếp tục điều tra và công bố có thêm hai loài thu đƣợc ở Tân ấp (Quảng Bình) và Sông Mã (Thanh Hoá): Peolochelys bibroni, Calamaria septentrionalis. Từ khi nghiên cứu đến giai đoạn này các nhà nghiên cứu đã công bố ở Bắc Trung Bộ có tới 58 loài ếch nhái-bò sát. Sau đó việc điều tra nghiên cứu bị gián đoạn do chiến tranh cho đến sau 1954 việc nghiên cứu điều tra mới đƣợc tiếp tục và đã có nhiều công trình nghiên cứu đƣợc công bố: Năm 1960 Đào Văn Tiến đã công bố danh sách 12 loài điều tra ở Vĩnh Linh (Quảng Trị), bổ sung 3 loài trong đó có một loài mới.

Năm 1970 Campden Main đã thông báo kết quả nghiên cứu rắn Việt Nam thống kê có 25 loài thuộc Bắc Trung Bộ (từ vĩ tuyến 17 trở vào) ông đã ghi nhận thêm 7 loài. Việc điều tra ếch nhái-bò sát ở các địa điểm phía Bắc Trung Bộ đã đƣợc Uỷ ban khoa học và kỹ thuật nhà nƣớc tổ chức rất quy mô vào 1974 - 1975 và kết quả đợt khảo sát này đƣợc công bố vào những năm sau. Hoàng Đức Đạt, Trần Văn Minh (1978) đã công bố kết quả điều tra ở địa điểm phía Nam của vùng và bổ sung 13 loài ếch nhái-bò sát. Năm 1977, 1979 Đào Văn Tiến đã xây dƣng khoá định loại đặc điểm phân loại và khoá định loại ếch nhái-bò sát.

7 Năm 1981 Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc trong công trình “Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam” Đã thống kê ở miền Bắc có 159 loài bò sát thuộc 72 giống, 19 họ, 2 bộ và 69 loài ếch nhái thuộc 16 giống, 9 họ, 3 bộ [26]. Tiếp đó đến 1985 Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc trong tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê Động vật Việt Nam của Viện Sinh thái và Tài Nguyên Sinh vật, viện Khoa học Việt Nam đã nói tới các loài ếch nhái-bò sát ở vùng Bắc Trung Bộ. Các tác giả đã đề cập đến sự phân bố ếch nhái-bò sát ở các sinh cảnh và phân chia các khu phân bố địa lý lƣỡng cƣ bò sát ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ