CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC HỆ THỐNG HÓA DANH PHÁP HÓA HỌC HỮU CƠ 1. Sơ lược lịch sử về danh pháp hóa học Việt Nam 1. Tình hình trước năm 1975 Ngay từ trước cách mạnh tháng Tám, Năm 1942 GS. Hoàng Xuân Hãn đã cho xuất bản cuốn “Danh từ Khoa học” [5], trong đó có phần dành cho hóa học gồm cách gọi tên nguyên tố, các hóa chất, đặt tên cho các khái niệm, hiện tượng và quá trình chuyển hóa hóa học.
Đây là một công trình khoa học hết sức có ý nghĩa, góp phần quan trọng trong việc giảng dạy và truyền bá, phổ biến các kiến thức hóa học (bằng tiếng Việt) ở nước ta, đồng thời mở đường cho các thế hệ đi sau tiếp tục xây dựng hệ thống thuật ngữ hóa học Việt Nam. Trong bối cảnh ngày càng tăng cường giao lưu và hội nhập thế giới.Hoàng Xuân Hãn, việc biên soạn được tiếp nối bởi nhiều nhà hóa học mà tiêu biểu là GS.Nguyễn Thạc Cát (ở miền Bắc) và GS. Và bắt đầu từ thập niên 60, ở cả hai miền Nam, Bắc việc xây dựng hệ thống danh pháp tương đối khẩn trương, tuy nhiên, do cách tiếp cận có phần khác nhau, đã hình thành nên những sự khác biệt nhau trong các quy tắc phiên chuyển tên hóa chất và các thuật ngữ hóa học từ tiếng nước ngoài. Danh pháp và thuật ngữ hóa học ở miền Bắc trước năm 1975 Năm 1960, Ban Khoa học cơ bản thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước đưa ra “Quy định tạm thời về những nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” [9].
Bản quy định tạm thời này đã đề ra các tiêu chuẩn của một danh từ khoa học phải “(i) Rõ ràng, không thể hiểu nhầm lẫn; mỗi ý, mỗi vật, mỗi hiện tượng phải có danh từ riêng để biểu hiện. (ii) Ngắn, gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ. (iii) Chú ý tới thói quen, chú ý khoa học hóa các danh từ phổ thông; đồng thời chú ý quốc tế hóa trong phạm vi cần thiết. (iv) Chú ý những danh từ liên quan trong một hệ thống hoàn chỉnh”.
Bản quy định tạm thời này đề nghị đặt thêm một số vần mới như c (đọc là x trước e, i, y), f, j, p (đứng trước một nguyên âm), w, z (thay cho d), br, cl, cr, dr, pl, pr, ps, sp, sc, st, tr, ec, el, es, al, ol, ic, yl, ad, id, od, oz. Bản quy định tạm thời này nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Trong đó một bộ phận cho rằng các quy định này không cần thiết vì nó rườm rà và không hiệu quả. Mặt khác, một số người cho rằng nên tăng cường thêm những âm, vần mới này để giúp phiên chuyển những từ quốc tế mới.
5 Thực tế thì thời kì đó yêu cầu cần có một hệ thống danh pháp và thuật ngữ hóa học chưa phải là thật cấp bách và những điều kiện để có hệ thống như vậy cũng chưa chín muồi. Cộng đồng hóa học còn nhỏ, sách hóa học phần lớn bằng tiếng Nga. Khi dịch hoặc diễn giải nội dung bằng sách bằng tiếng Việt thì người ta dùng những thuật ngữ trong “Danh từ hóa học”, nếu không có thì tự đặt ra thuật ngữ mình cho là thích hợp hoặc sử dụng cách diễn đạt thông qua tiếng nước ngoài. Cho đến năm 1963, một nhóm các nhà hóa học chủ chốt của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, trong đó GS.
Nguyễn Thạc Cát đóng vai trò chủ đạo, đã cho xuất bản “Từ điển hóa học Nga-Anh-Việt” gồm 15000 từ. Trong cuốn từ điển tác giả đã nhấn mạnh phương châm “khoa học, dân tộc, đại chúng” và đã để ra một số nguyên tắc biên soạn phần tiếng Việt, có thể tóm tắt như sau: (1) Đối với các chất chưa có tên tiếng Việt thì mượn từ của tiếng Âu và sửa lại sao cho gọn và dễ đọc. Khi viết cố gắng theo mặt chữ của từ mượn, gặp vần không có trong tiếng Việt thì thay bằng tiếng Việt có âm tương tự. Khi đọc thì phát âm theo tiếng Việt, dù không giống âm của tiếng mượn.
Ví dụ: Calcium → Canxi, Acetate → Axetat,… (2) Viết liền các âm tiết chứ không nối các âm tiết với nhau bằng gạch ngang. (3) Thêm phụ âm z thay cho d để dùng d thay cho đ; thêm f thay cho ph và bỏ h trong phụ âm kép để viết cho sát với mặt chữ từ mượn. Thêm một số phụ âm ghép như br, cl, fl, dr, kr, pl, pr, sc, st,… để viết cho gọn tên các nguyên tố và hợp chất; khi đọc thì theo lối đánh vần của tiếng Việt. Thêm một số vần mới là al, ol, yl để biểu thị các chức hóa học.
Ví dụ: Bromo → Brom, Acetal → Axetal, Chlorophenol → Clorophenol. (4) Đối với tên các nguyên tố, tìm cách giữ tên có đủ con chữ trong kí hiệu. Ví dụ: Hafnium (Hf) → Hafini, Zirconium → Ziriconi. (5) Không chấp nhận các vần ce, ci, cy như đề xuất của GS.
Hoàng Xuân Hãn và Ban Khoa học cơ bản trong “Quy định tạm thời về những nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” mà viết thành xe, xi, xy. Ví dụ: Aceton → Axeton. (6) Phụ âm r ở vần ngược hoặc bỏ đi, ví dụ, Argon → Agon, formic → fomic, hoặc chuyển thành c, ví dụ, carbon → carbon, terpen → tecpen. Phụ âm s, phụ âm d ở vần ngược chuyển thành t, ví dụ, photpho, axit, gluxit,… Mặc dù chỉ chấp nhận phụ âm cuối l trong các trường hợp biểu thị các chức hóa học, 6 còn phụ âm cuối s thì, như đã chỉ trên đây, chuyền thành t, vẫn chấp nhận các phụ âm l và s trong hợp chất hữu cơ.
Ví dụ: chỉ viết canxi nhưng lại được viết alcan, viết axit sunfuric nhưng lại viết aldehyt,… (7) Giống như “Danh từ hóa học” của GS. Hoàng Xuân Hãn, viết cả i và y như từ mượn mà không đánh dấu sắc ở vần trắc. (8) Khác với GS. Hoàng Xuân Hãn giữ nguyên phụ âm h trong các trường hợp có âm vận trong tiếng Việt (li-thi, ru-then, mê-than, ê-thy-len,… ), các tác giả từ điển bỏ hết âm h, trừ trường hợp lithi.
(9) Các đuôi ase, ose thuyền thành aza, oza, ví dụ, glucoza, amylaza, xenluloza,… (10) Về tên các hợp chất, các tác giả đã chủ trương viết phần dương trước, phần âm sau, ví dụ, natri clorua (NaCl), chứ không phải viết cơ-lo-rua na-tri như GS. Quy định này phù hợp với quy tắc của IUPAC được đưa ra sau đó mấy năm (1971). Nguyễn Thạc Cát công bố một bản Dự thảo về thuật ngữ và danh pháp hóa học [6]. Thực tế, các phương án phiên chuyển tên các nguyên tố và hợp chất cũng như cách gọi tên các hóa chất ở miền Bắc trước 1975 cũng như sau này trong các sách giáo khoa và tạp chí mà tác giả là người miền Bắc, đặc biệt là trong Tự điển Bách khoa Việt Nam phần lớn dựa theo các quy định trong bản Dự thảo này.
Về nguyên tắc, bản Dự thảo cho rằng “Danh pháp hóa học tiếng Việt được xây dựng dựa trên danh pháp hóa học đã được nhiều hội nghị quốc tế công nhận, chỉ riêng phần thuật ngữ phải sửa đổi cho phù hợp với quy định về cách đặt thuật ngữ tiếng Việt trên cơ sở thuật ngữ nước ngoài… Đặt thuật ngữ hóa học tiếng Việt trong nhiều trường hợp có thể dựa vào thuật ngữ nước ngoài mà sửa đổi một cách sáng tạo sao cho đồng hóa vào tiếng Việt để dễ nhớ, dễ đọc, nhưng không quá xa với thuật ngữ của nhiều nước. Khi viết phải áp dụng nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là nói thế nào viết thế ấy và viết thế nào đọc thế ấy”. Bản Dự thảo đưa ra các quy tắc có thể tóm lược như sau: Các phiên chuyển các thuật ngữ (đơn chất và hợp chất) - Rút gọn (chỉ cần giữ lại những âm tiết chính đủ nhận ra thuật ngữ (tên) gốc. Ví dụ: oxi, hidro, natri… Không dùng thanh dấu trong mọi trường hợp.
7 - Về phụ âm: Có thể viết liền hai phụ âm, nhưng cố gắng chỉ áp dụng ở đầu thuật ngữ (các phụ âm kép). Ví dụ franxi, brom…. Còn ở các vị trí khác thì thêm nguyên âm i ở giữa cho dễ đọc như osimi (Os), cadimi (Cd),… - Về nguyên âm: Thay y bằng i trong mọi trường hợp, trừ trong tên và kí hiệu nguyên tố và gốc hữu cơ. - Về vần ngược: Ở vị trí phụ âm cuối của vần ngược, đổi b,f và v thành d; d và s thành t; l thành n (iot, molipden,…) trừ trong các vần al, ol, yl trong hữu cơ.
Bỏ r trong các vần ngược ar, er, or (agon, asen,…) - Giữ nguyên các tiền tố như trans, cis,… - Thêm r giữa âm tiết tận cùng bằng một nguyên âm và âm tiết tiếp theo bắt bầu bằng một nguyên âm để tránh nhầm lẫn âm tiết. Ví dụ: clorua, peroxit,… - Nếu dùng thuật ngữ các ngành khác thì viết y nguyên các thuật ngữ đó - Tên các nguyên tố hóa học: các nguyên tố có tên Việt thì viết tên Việt, đồng thời viết tên Latin trong ngoặc đơn bên cạnh. Các quy định về tên các hợp chất vô cơ - Tên phần dương viết trước, phần âm viết sau. Quy tắc này đến năm 1971 IUPAC mới đưa ra.
- Dùng hậu tố ua thay cho hậu tố ure trong tiếng Pháp và ide trong tiếng Anh (bromua, cacbua,…) - Đối với các axit có hậu tố ique trong tiếng Pháp và ic trong tiếng Anh thì dùng hậu tố ic (sunfuric, nitric,…). Đối với các axit có hậu tố eux trong tiếng Pháp và ous trong tiếng Anh thì dùng hậu tố ơ (sunfurơ, clorơ,…) - Các muối của axit có hậu tố ic thì chuyển thành hậu tố at (sunfat, nitrat,…), còn muối của axit có hậu tố ơ thì chuyển thành hậu tố it (sunfit, nitrit,…) - Trong công thức các phức chất, nguyên tử trung tâm viết đầu tiên, sau đó lần lượt tới các phối tử âm, trung tính và dương, nhưng trong tên gọi thì nguyên tử trung tâm viết sau tất cả các phối tử. Ví dụ: [Pt(OH)2(NH3)4]2+ tetrammindihidroxoplatin(IV) Các quy định về tên các hợp chất hữu cơ Nguyên tắc chung là theo danh pháp Geneve, tên gọi các hợp chất hữu cơ tùy thuộc vào: (i) Cấu tạo mạch cacbon chính của hợp chất; (ii) Tính chất, số lượng cùng thứ 8 tự ưu tiên của các nhóm thế; (iii) Đặt tên thế nào cho đơn giản nhất. Tên gọi gồm 3 phần: Tên của mạch cacbon chính, tiếp đầu ngữ (tiền tố), tiếp vị ngữ (hậu tố).
Ngoài danh pháp Geneve, danh pháp thông dụng vẫn được sử dụng.