Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển khoa học và giáo dục tại Việt Nam, hệ thống thuật ngữ và danh pháp hóa học trải qua nhiều giai đoạn chuyển biến nhưng chưa đạt được sự nhất quán tuyệt đối. Sau năm 1975, sự khác biệt giữa các quy tắc phiên âm ở miền Bắc (thiên về Việt hóa âm đọc) và miền Nam (sử dụng nhiều yếu tố gốc Pháp, gốc Hán) đã tạo ra sự phân tán trong cách biểu diễn tên gọi hóa chất. Dù Hội Hóa học Việt Nam đã triển khai đề tài cấp nhà nước và xuất bản ấn phẩm "Danh pháp và Thuật ngữ Hóa học Việt Nam" vào năm 2010, các quy tắc phiên chuyển nguyên âm, phụ âm và ghép vần vẫn tương đối phức tạp, dẫn đến hiện tượng một hợp chất có nhiều cách viết khác nhau trong các tài liệu khoa học và giáo trình.
Ngày 26/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông (CTGDPT) mới môn Hóa học. Một trong những thay đổi trọng tâm là quy định chuyển đổi hệ thống danh pháp hóa học sang sử dụng theo khuyến nghị của Liên minh Quốc tế về Hóa học thuần túy và Hóa học ứng dụng (IUPAC), có tham khảo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5529:2010 và TCVN 5530:2010). Sự thay đổi này nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và chuẩn hóa thuật ngữ khoa học, tuy nhiên cũng tạo ra rào cản bước đầu đối với giáo viên và học sinh phổ thông vốn đã quen thuộc với cách đọc, cách viết phiên âm tiếng Việt trước đây. Khóa luận "Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018" được tác giả Huỳnh Đình Quang thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng bảng tra cứu và thiết kế phương án dạy học đáp ứng sự chuyển đổi này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm 5 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài hệ thống hóa danh pháp hóa học hữu cơ trong CTGDPT mới năm 2018.
- Phân tích nội dung và danh pháp hữu cơ trong CTGDPT mới; so sánh danh pháp theo chương trình hiện hành (CTHH) với danh pháp theo khuyến nghị của IUPAC.
- Xây dựng bảng hệ thống danh pháp hóa học và quy tắc gọi tên các hợp chất hữu cơ theo khuyến nghị của IUPAC ứng dụng trong dạy học.
- Thiết kế giáo án bài "Luyện tập Alkane (Ankan)" thuộc chương trình Hóa học lớp 11 có tích hợp danh pháp IUPAC.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá khả năng tiếp cận và mức độ tiếp thu của học sinh đối với danh pháp hóa học theo chương trình mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Danh pháp các hợp chất hữu cơ được sử dụng trong môn Hóa học cấp Trung học cơ sở (THCS) và Trung học phổ thông (THPT) theo CTGDPT mới.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các hợp chất hữu cơ thường gặp và xuất hiện trong CTGDPT mới 2018 (hydrocarbon no, hydrocarbon không no, hydrocarbon thơm, dẫn xuất halogen, alcohol, phenol...). Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại trường THPT Phan Châu Trinh, thành phố Đà Nẵng trên đối tượng học sinh lớp 11.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng dựa trên các văn bản quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật và tài liệu chuẩn hóa quốc tế:
- Chương trình Giáo dục phổ thông môn Hóa học ban hành kèm theo Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 26/12/2018.
- Các quy định và khuyến nghị danh pháp của Liên minh Quốc tế về Hóa học thuần túy và Hóa học ứng dụng (IUPAC).
- Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 5529:2010 và TCVN 5530:2010 do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng ban hành; Quyết định số 2950-QĐ/BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ.
- Các công trình lịch sử danh pháp tiếng Việt: "Danh từ Khoa học" của GS. Hoàng Xuân Hãn (1942), "Từ điển hóa học Nga-Anh-Việt" của GS. Nguyễn Thạc Cát (1963), các công trình của GS. Lê Văn Thới (1962, 1967), "Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt" ban hành năm 1984, và công trình "Danh pháp và Thuật ngữ Hóa học Việt Nam" (2010).
Việc sử dụng thuật ngữ và danh pháp trong chương trình mới được quán triệt dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi:
- Nguyên tắc khoa học: Phản ánh chính xác bản chất hóa học, bảo đảm tính logic và có hệ thống theo chuẩn mực quốc tế.
- Nguyên tắc thống nhất: Áp dụng đồng bộ cách hiểu và cách viết trong toàn bộ môn Hóa học và hệ thống giáo dục phổ thông.
- Nguyên tắc hội nhập: Sử dụng danh pháp tiếng Anh theo khuyến nghị IUPAC để tạo thuận lợi cho tra cứu và nghiên cứu quốc tế.
- Nguyên tắc thực tế: Duy trì tên gọi tiếng Việt đã quen dùng cho 13 nguyên tố thông dụng (Vàng, Bạc, Đồng, Chì, Sắt, Nhôm, Kẽm, Lưu Huỳnh, Thiếc, Nitơ, Kali, Thủy ngân...) có kèm chú thích tiếng Anh, trong khi các hợp chất của chúng vẫn gọi theo IUPAC.
Tác giả phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành, sách giáo khoa; phân loại và hệ thống hóa các quy tắc danh pháp IUPAC; xây dựng giả thuyết khoa học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát sư phạm quá trình dạy và học; điều tra bằng phiếu khảo sát đối với học sinh lớp 11; trao đổi chuyên môn với giáo viên bộ môn Hóa học; thực nghiệm sư phạm có đối chứng tại lớp học.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng dữ liệu thực nghiệm sư phạm thông qua lập bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất tích lũy và tính toán các tham số đặc trưng thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về việc hệ thống hóa danh pháp hóa học hữu cơ
Chương 1 khái quát lịch sử danh pháp hóa học tại Việt Nam qua các thời kỳ: giai đoạn trước 1975 ở miền Bắc với các quy tắc của GS. Nguyễn Thạc Cát và miền Nam với công trình của GS. Lê Văn Thới; giai đoạn sau 1975 với các nỗ lực thống nhất của Bộ Giáo dục (1984) và Hội Hóa học Việt Nam (2005–2010). Tác giả phân tích cơ cấu tổ chức và nguyên tắc cập nhật danh pháp của IUPAC.
Nội dung thực tiễn của chương trình bày kết quả điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi trên đối tượng học sinh 4 lớp 11 tại trường THPT Phan Châu Trinh, Đà Nẵng:
| STT |
Nội dung khảo sát |
Tùy chọn trả lời |
Tỉ lệ (%) |
| 1 |
Mức độ hiểu biết về đổi mới thuật ngữ, danh pháp trong CTGDPT 2018 |
Chưa biết có sự đổi mới |
50,0% |
|
|
Đã nghe/giới thiệu nhưng chưa rõ cụ thể |
47,2% |
|
|
Đã nắm rõ cụ thể các điểm thay đổi |
2,8% |
| 2 |
Đánh giá lợi ích của việc sử dụng danh pháp IUPAC bằng tiếng Anh |
Đạt được sự thống nhất trong hệ thống danh pháp Việt Nam |
63,9% |
|
|
Giúp GV và HS tiếp cận nguồn tài liệu tiếng Anh phong phú |
51,7% |
|
|
Khắc phục các quy tắc phiên chuyển sang tiếng Việt phức tạp |
44,4% |
|
|
Không có lợi ích gì |
8,3% |
| 3 |
Khó khăn khi tiếp cận danh pháp mới theo IUPAC |
Phải nhớ nhiều tên mới của nguyên tố và hợp chất |
58,3% |
|
|
Chưa quen viết tên nguyên tố/hợp chất bằng tiếng Anh |
44,4% |
|
|
Đã quen với danh pháp và thuật ngữ cũ |
41,7% |
|
|
Chưa quen với cấu trúc gọi tên mới |
33,3% |
|
|
Chưa quen phát âm/đọc tên bằng tiếng Anh |
22,2% |
| 4 |
Thuận lợi khi tiếp cận danh pháp mới |
Cách gọi tên tương tự, chỉ khác một số cách viết |
50,0% |
|
|
Mới bắt đầu học Hóa hữu cơ nên không bị ảnh hưởng giữa mới và cũ |
50,0% |
|
|
Được tiếp cận học tiếng Anh từ nhỏ |
22,2% |
| 5 |
Ý kiến về định hướng áp dụng danh pháp |
Vẫn dùng CTHH, danh pháp CTM chỉ giới thiệu thêm |
44,4% |
|
|
Nên chuyển đổi hoàn toàn sang CTM |
27,8% |
|
|
Tiếp tục giữ nguyên danh pháp như CTHH |
27,8% |
Số liệu khảo sát phản ánh rằng phần lớn học sinh nhận thức được lợi ích hội nhập nhưng còn tâm lý e ngại ghi nhớ từ vựng tiếng Anh mới, khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng tài liệu hướng dẫn hệ thống hóa danh pháp.
Chương 2: Hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình GDPT mới năm 2018
Chương này trình bày chi tiết các quy tắc danh pháp thay thế theo IUPAC cho từng nhóm hợp chất hữu cơ trong chương trình phổ thông, đối chiếu trực tiếp với cách gọi trong chương trình hiện hành:
1. Hydrocarbon no (Alkane và Cycloalkane):
- Alkane: Chuyển đổi hậu tố -an thành -ane. 10 alkane mạch không phân nhánh đầu dãy:
| Công thức |
Tên gọi CTHH |
Danh pháp IUPAC (CTM) |
| $\text{CH}_4$ |
Metan |
Methane |
| $\text{C}_2\text{H}_6$ |
Etan |
Ethane |
| $\text{C}_3\text{H}_8$ |
Propan |
Propane |
| $\text{C}4\text{H}{10}$ |
Butan |
Butane |
| $\text{C}5\text{H}{12}$ |
Pentan |
Pentane |
| $\text{C}6\text{H}{14}$ |
Hexan |
Hexane |
| $\text{C}7\text{H}{16}$ |
Heptan |
Heptane |
| $\text{C}8\text{H}{18}$ |
Octan |
Octane |
| $\text{C}9\text{H}{20}$ |
Nonan |
Nonane |
| $\text{C}{10}\text{H}{22}$ |
Đecan |
Decane |
Quy tắc gọi tên alkane phân nhánh tuân thủ 4 bước: (1) Chọn mạch chính dài nhất và có nhiều nhánh nhất; (2) Đánh số carbon mạch chính từ phía gần nhóm thế hơn (hoặc tổng chỉ số vị trí nhỏ nhất); (3) Định danh nhóm thế alkyl (thay đuôi -ane bằng -yl, ví dụ: methyl, ethyl, isopropyl, sec-butyl, isobutyl, tert-butyl, neopentyl); (4) Sắp xếp tên nhóm thế theo thứ tự chữ cái (Alphabet), dùng tiền tố độ bội (di-, tri-, tetra- hoặc bis-, tris-, tetrakis- cho nhóm phân nhánh phức tạp; tiền tố độ bội không xét thứ tự alphabet trừ iso và neo).
- Cycloalkane: Thêm tiền tố cyclo- vào tên alkane cùng số carbon (cyclopropane, cyclobutane, cyclopentane, cyclohexane, cycloheptane). Quy tắc xác định mạch chính (vòng hay nhánh mạch hở) dựa trên số lượng carbon; đánh số sao cho tổng vị trí nhóm thế nhỏ nhất; biểu diễn đồng phân hình học cis-, trans-.
2. Hydrocarbon không no (Alkene và Alkyne):
- Alkene: Chuyển đuôi -an thành -ene (thay cho -en trong CTHH). Chọn mạch chính chứa liên kết đôi; đánh số ưu tiên từ phía gần liên kết đôi nhất; liên kết đôi biểu diễn bằng số chỉ vị trí đặt ngay trước hậu tố -ene (ví dụ: 5-methylhex-2-ene). Nhiều liên kết đôi dùng -diene, -triene. Nhóm thế không no: methylene, vinyl, allyl. Quy tắc xác định đồng phân hình học cis/trans.
- Alkyne: Sử dụng hậu tố -yne (thay cho -in trong CTHH; ví dụ: 5-methylhex-2-yne). Hợp chất có nhiều liên kết ba dùng -diyne, -triyne.
- Hợp chất chứa cả liên kết đôi và liên kết ba: Chọn mạch chính chứa tối đa liên kết bội; đánh số ưu tiên liên kết bội gần đầu mạch hơn (nếu đối xứng thì ưu tiên liên kết đôi); tên gọi ghép theo trật tự: nhóm thế $\rightarrow$ mạch chính $\rightarrow$ vị trí liên kết đôi-en $\rightarrow$ vị trí liên kết ba-yne (lược bỏ chữ "e" ở đuôi -ene thành -en-yne).
3. Hydrocarbon thơm (Arene/Benzene):
- Sử dụng tên gốc benzene thay cho benzen.
- Hợp chất một nhóm thế: gọi tên nhóm thế + benzene (ethylbenzene, bromobenzene, nitrobenzene) hoặc dùng tên thông thường được IUPAC lưu dụng (toluene, phenol, aniline, styrene).
- Hợp chất hai nhóm thế: sử dụng số chỉ vị trí (1,2; 1,3; 1,4) hoặc các tiền tố ortho- ($o$-), meta- ($m$-), para- ($p$-).
- Gốc thế chứa vòng thơm: phenyl ($\text{C}_6\text{H}_5-$), benzyl ($\text{C}_6\text{H}_5\text{CH}_2-$).
4. Dẫn xuất Halogen:
- Tên nguyên tố chuyển sang tiếng Anh: fluorine, chlorine, bromine, iodine.
- Tên nhóm thế tương ứng: fluoro-, chloro-, bromo-, iodo-.
- Nhóm halogen được coi như một nhóm thế alkyl và sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái khi gọi tên mạch chính (ví dụ: 4-chloro-2-methylhexane, 1-bromo-7-chloro-4-methylheptane).
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của tài liệu và giáo án:
- Mục đích: Đánh giá mức độ tiếp thu và khả năng vận dụng danh pháp IUPAC của học sinh lớp 11 khi học tập với giáo án được thiết kế theo chương trình mới.
- Địa bàn và đối tượng: 4 lớp 11 (11/14, 11/16, 11/18, 11/20) tại trường THPT Phan Châu Trinh, TP. Đà Nẵng, phân chia thành nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC). Giáo viên thực nghiệm là cô Hoàng Thị Trâm Anh.
- Nội dung triển khai: Giảng dạy bài "Luyện tập Alkane (Ankan)" có áp dụng phương pháp tiếp cận danh pháp mới.
- Phương pháp đánh giá: Học sinh hoàn thành bài kiểm tra trắc nghiệm sau bài học. Kết quả điểm số được thu thập và xử lý bằng các công cụ toán học thống kê: lập bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất tích lũy; tính điểm trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến thiên ($V$), sai số tiêu chuẩn và kiểm định giả thuyết thống kê để so sánh hiệu quả giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Tổng hợp đầy đủ các giai đoạn hình thành và tồn tại của danh pháp hóa học Việt Nam, chỉ rõ các điểm xung đột giữa phiên âm ngữ âm học và ký tự chữ viết mượn từ nước ngoài.
- Định lượng thực trạng tâm lý và nhận thức của học sinh phổ thông: 50% học sinh chưa tiếp cận thông tin đổi mới, 58,3% gặp khó khăn về trí nhớ thuật ngữ tiếng Anh, nhưng có đến 63,9% ủng hộ tính thống nhất của danh pháp quốc tế.
- Xây dựng hệ thống bảng đối chiếu chi tiết giữa CTHH và CTM theo chuẩn IUPAC cho toàn bộ các nhóm hợp chất hữu cơ cơ bản: alkane, cycloalkane, alkene, alkyne, arene, dẫn xuất halogen, alcohol, phenol và hợp chất tạp chức.
- Thiết kế hoàn chỉnh giáo án thực nghiệm bài "Luyện tập Alkane (Ankan)" Hóa học 11, đưa ra quy trình 4 bước đọc tên mạch phân nhánh rõ ràng, dễ thao tác.
Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất
- Biên soạn sổ tay hoặc tài liệu tra cứu danh pháp hữu cơ IUPAC đối chiếu song ngữ CTHH – CTM dành cho giáo viên và học sinh các trường phổ thông.
- Tập huấn phương pháp phát âm và quy tắc đánh số mạch chính, sắp xếp tiền tố theo bảng chữ cái tiếng Anh cho đội ngũ giáo viên bộ môn Hóa học.
- Đề xuất lộ trình chuyển đổi linh hoạt: trong giai đoạn đầu nên chú thích song song tên gọi CTHH bên cạnh danh pháp IUPAC để học sinh không bị gián đoạn tiếp thu.
Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn
- Đóng góp nguồn tư liệu tổng hợp có hệ thống về lịch sử danh pháp hóa học tại Việt Nam phục vụ công tác nghiên cứu lý luận dạy học.
- Cung cấp tài liệu đối chiếu chuẩn xác phục vụ trực tiếp cho quá trình chuyển giao chương trình Hóa học phổ thông từ khung 2006 sang khung 2018.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ mới triển khai tại một cơ sở giáo dục duy nhất là Trường THPT Phan Châu Trinh (thành phố Đà Nẵng) trên quy mô 4 lớp 11. Nội dung bài dạy thực nghiệm tập trung vào chuyên đề alkane mà chưa mở rộng thực nghiệm cho toàn bộ các nhóm hợp chất hữu cơ tạp chức, đa chức hoặc hợp chất thiên nhiên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục hệ thống hóa danh pháp IUPAC đối với các hợp chất hữu cơ phức tạp hơn trong chương trình Hóa học 12 (carbohydrate, amino acid, peptide, protein, polymer); mở rộng địa bàn điều tra và thực nghiệm sư phạm sang nhiều trường THCS và THPT ở các khu vực địa lý khác nhau để tăng tính đại diện thống kê.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
- Giáo viên Hóa học THCS và THPT: Sử dụng làm cẩm nang tra cứu quy tắc gọi tên IUPAC chuẩn xác, tham khảo cấu trúc giáo án bài tập danh pháp hydrocarbon no để áp dụng trực tiếp trong giảng dạy theo CTGDPT 2018.
- Sinh viên ngành Sư phạm Hóa học: Nắm vững cơ sở lý luận, phương pháp hệ thống hóa kiến thức và kỹ năng thiết kế bài giảng tích hợp thuật ngữ danh pháp quốc tế.
- Học sinh Trung học phổ thông: Sử dụng các bảng tổng hợp và sơ đồ phân tích 4 bước để tự học, tra cứu cách đọc, cách viết các nhóm chức và gốc hydrocarbon bằng tiếng Anh.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn nguyên tắc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học trong Chương trình GDPT 2018 là gì?
Bốn nguyên tắc được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định gồm: (1) Nguyên tắc khoa học (phù hợp với sự phát triển khoa học thế giới, bảo đảm tính hệ thống); (2) Nguyên tắc thống nhất (áp dụng đồng bộ trong toàn bộ chương trình); (3) Nguyên tắc hội nhập (sử dụng theo khuyến nghị của IUPAC, tham khảo TCVN 5529:2010 và 5530:2010); (4) Nguyên tắc thực tế (giữ lại tên tiếng Việt cho các nguyên tố quen dùng).
2. Những nguyên tố hóa học nào được giữ lại tên gọi quen dùng trong tiếng Việt theo chương trình mới?
Chương trình mới giữ lại tên gọi tiếng Việt quen dùng cho 13 nguyên tố thông dụng (có chú thích tiếng Anh để tra cứu), bao gồm: Vàng, Bạc, Đồng, Chì, Sắt, Nhôm, Kẽm, Lưu Huỳnh, Thiếc, Nitơ, Kali, Thủy ngân... Hợp chất của các nguyên tố này vẫn được gọi tên theo khuyến nghị của IUPAC.
3. Điểm khác biệt chính giữa cách viết tên các alkane không phân nhánh theo CTHH và CTM là gì?
Trong CTM theo chuẩn IUPAC, tên alkane không phân nhánh giữ nguyên hậu tố -ane (thêm ký tự "e" so với CTHH như methane, ethane, propane, butane, pentane, hexane, heptane, octane, nonane, decane). Đối với methane và ethane, phụ âm ghép "th" được phục hồi thay vì lược thành "t" (metan, etan); ký tự "d" được sử dụng thay cho "đ" trong decane (đecan).
4. Khó khăn lớn nhất mà học sinh gặp phải khi chuyển sang sử dụng danh pháp IUPAC theo kết quả khảo sát là gì?
Theo kết quả khảo sát tại Bảng 1.1 trên học sinh lớp 11 Trường THPT Phan Châu Trinh, khó khăn lớn nhất là việc phải ghi nhớ nhiều tên mới của các nguyên tố và hợp chất bằng tiếng Anh (chiếm tỉ lệ cao nhất với 58,3% học sinh đồng ý), tiếp theo là khó khăn trong việc viết tên chính xác (44,4%) và rào cản do đã quen thuộc với danh pháp cũ (41,7%).
5. Khi một phân tử hydrocarbon chứa cả liên kết đôi và liên kết ba thì quy tắc chọn mạch chính, đánh số và gọi tên theo IUPAC được quy định như thế nào?
Mạch chính được chọn là mạch dài nhất chứa tối đa số liên kết bội (cả đôi và ba). Đánh số mạch chính bắt đầu từ phía gần liên kết bội hơn; nếu khoảng cách từ hai đầu đến liên kết đôi và liên kết ba bằng nhau thì ưu tiên đánh số 1 từ phía liên kết đôi. Tên gọi được ghép theo cấu trúc: tên mạch chính + vị trí liên kết đôi-en + vị trí liên kết ba-yne (lưu ý lược bỏ ký tự "e" của đuôi -ene để tránh hai nguyên âm liền kề -en-yne).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Đình Quang đã tổng hợp toàn diện bối cảnh lịch sử và cơ sở pháp lý của việc đổi mới danh pháp hóa học trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tại Việt Nam. Công trình xây dựng thành công hệ thống quy tắc và bảng đối chiếu chi tiết danh pháp các nhóm hợp chất hữu cơ theo khuyến nghị quốc tế IUPAC, làm rõ sự khác biệt so với chương trình cũ. Kết quả khảo sát và thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Phan Châu Trinh khẳng định tính khả thi của phương án giảng dạy tích hợp danh pháp mới, cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thiết thực cho giáo viên và học sinh trong giai đoạn đổi mới chương trình.