Chương 1: Tổng quan chung về phát triển bền vững; Chương 2: Nghiên cứu xây dựng Hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững ngành Xây dựng. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Khái niệm chung về phát triển bền vững 1. Khái niệm phát triển bền vững Năm 1980 tổ chức (Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên - IUCN) đã công bố ấn phẩm Chiến lược Bảo vệ toàn cầu (World Conservation Strategy).
Chiến lược này đưa ra một thông điệp mới: bảo vệ không đối lập với phát triển. Nó nhấn mạnh rằng bảo vệ phải bao gồm cả bảo tồn lẫn sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là phải mang lại cho con người một cuộc sống có đầy đủ phẩm giá và hạnh phúc không chỉ riêng cho thế hệ hôm nay mà phải cho cả các thế hệ mai sau. Bảo vệ cũng như phát triển là để phục vụ con người. Nếu phát triển nhằm đạt mục tiêu của con người thông qua việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên thì bảo vệ là để đạt các mục tiêu trên thông qua sự bảo đảm cách sử dụng như thế nào cho được bền vững.
Khi nhấn mạnh tính phụ thuộc lẫn nhau của bảo vệ và phát triển, lần đầu tiên chiến lược cho lưu hành thuật ngữ "phát triển bền vững" (Sustainable development; dévelopment durable), với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Như vậy, trong Chiến lược Bảo vệ toàn cầu, thuật ngữ “phát triển bền vững” mới chỉ nhấn mạnh ở góc độ bền vững sinh thái.Chiến lược này thúc giục các nước soạn thảo các chiến lược bảo vệ quốc gia của mình. Năm 1987, trong Báo cáo Tương lai chung của chúng ta (Our Common Future - ngoài ra còn thường được gọi là Báo cáo Brundtland), Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ “phát triển bền vững”, sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài. Báo cáo Tương lai của chúng ta đã định nghĩa: “ Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của hiện tại song không xâm 4 phạm tới khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai”1.
Định nghĩa này dường như được sự hưởng ứng và thống nhất của nhiều nước và nhiều nhà nghiên cứu về môi trường và phát triển. Như vậy, khái niệm “phát triển bền vững” được đề cập trong Báo cáo Tương lai chung của chúng ta với nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hòa giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Năm 1991, trong Chiến lược cho cuộc sống bền vững (A strategy for sustainable living) các tổ chức IUCN/UNEP/WWF cũng đã dùng khái niệm "phát triển bền vững" với ý nghĩa là: "cải thiện chất lượng cuộc sống của con người trong phạm vi khả năng chịu đựng được của các hệ sinh thái"2. Năm 1992, tại Rio de Janeữo, Brasil, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCED) đã gửi đi một thông điệp tới tất cả các cấp của các Chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường.
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững họp tại Johannesburg, Nam Phi với sự tham gia của các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường, các nhà lãnh đạo của gần 200 quốc gia đã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua đồng thời đã đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái. Trên quan điểm triết học, "phát triển bền vững" là tập hợp của hai khái niệm đơn "phát triển" và "bền vững". Khái niệm này phản ánh đúng sự đòi hỏi từ hiện thực khách quan của các nước chậm phát triển, đang phát triển và phát triển khi nền văn minh của chúng ta đang bị đe dọa. Chúng ta đã và đang sử dụng quá mức những nguồn tài nguyên thiên nhiên và làm suy thoái các hệ tự nhiên, đồng thời đang dồn Trái Đất đến những giới hạn của khả năng chịu đựng của nó.
Môi trường sống đang bị hủy hoại, cân bằng sinh thái và tính đa dạng sinh học đang bị biến mất, ảnh hưởng trực tiếp đến con người hiện tại và các thế hệ tương lai. 1 Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới, 1987, tr.43 2 Chiến lược cho cuộc sống bền vững (1993), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr10. 5 Tại Hội nghị cấp cao thế giới về Môi trường và Phát triển Rio-92, một lần nữa khái niệm "phát triển bền vững" cũng đã được làm rõ: "Phát triển bền vững" là "sự phát triển kinh tế- xã hội lành mạnh, dựa trên viêc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của họ”. Nói chung, đây là một định nghĩa tương đối đầy đủ, nó thể hiện được tính hai mặt của khái niệm.
Vì rằng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nên hướng vào việc khai thác có hiệu quả đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong khi vẫn tránh được sự hủy hoại khả năng tái tạo lâu dài của hệ thống này. Như vậy, sự "phát hiển bền vững" ít nhất bao gồm 3 yếu tố, đó là sự cân bằng giữa: kinh tế (thị trường, tăng trưởng, công nghiệp hóa.); xã hội (nhà nước, xã hội công dân, ý thức cộng đồng, hệ thống giá trị, công bằng xã hội.); môi trường (khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên, môi trường). Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững toàn cầu (SDGs) bắt nguồn từ Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững và các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Ngày 25/9/2015, Chương trình nghị sự 2030 chính thức được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc tại New York, Mỹ với 17 mục tiêu chung và 169 mục tiêu cụ thể.
Chương trình nghị sự 2030 có độ bao phủ chính sách phổ quát và rộng lớn cũng như toàn diện, vì lợi ích của mọi người dân trên toàn thế giới, cho các thế hệ hôm nay và mai sau với mục tiêu hoàn tất công việc dang dở của MDGs và Chương trình nghị sự 21 “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Cách tiếp cận hệ thống và tổng hợp cho phép hai nhà môi trường học Canada là Jacobs và Sadler trình bày mối quan hệ biện chứng giữa phát triển và môi trường trong sơ đồ dưới đây.1: Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trƣờng ( Nguồn: Giáo trình Phát triển bền vững, trường Đại học Vinh - 2014, tr104) Mô hình này cũng có thể được trình bày dưới dạng một tam giác đều với ba cực: kinh tế, xã hội và môi trường.2: Các cách tiếp cận của sự Phát triển bền vững ( Nguồn: Giáo trình Phát triển bền vững, trường Đại học Vinh - 2014, tr105) Cách tiếp cận "xã hội" lấy con người làm trung tâm trong những quyết định về chính sách phát triển. Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế, còn có quan điểm phát triển mang tính xã hội, nhằm đảm bảo duy trì sự ổn định hệ thống văn hóa và 7 xã hội của đất nước; giảm bớt những tác động tiêu cực về xã hội của phát triển kinh tế đảm bảo tính công bằng xã hội với mục tiêu giảm tỷ lệ dân số sống trong nghèo đói là mục tiêu phát triển cơ bản của đất nước. Như vậy, sự phát triển kinh tế phải đi đôi với sự phát triển xã hội, nghĩa là phải nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người.
Cho nên, “phát triển con người, hơn thế nữa, phát triển con người một cách bền vững, có nghĩa là phải phát triển nhiều mặt, cả tự nhiên lẫn xã hội, phải phát triển toàn diện con người không chỉ trong một thời gian nhất định mà là suốt cả cuộc đời; không phải chỉ trong một thế hệ mà là của nhiều thế hệ, của cả dân tộc”. Đó cũng chính là sự phát triển tự sinh do chính xã hội ấy chủ động thực hiện chứ không phải là một sự phát triển ngoại sinh, sống nhờ hoàn toàn vào nguồn lực từ bên ngoài. Cách tiếp cận môi trường được phổ biến rộng rãi từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, tập trung vào những vấn đề môi trường đang ngày càng trở nên nóng bỏng trên toàn thế giới. Cũng giống như sự phát triển của sinh vật, sự phát triển xã hội phải giải đáp được những bài toán do môi trường đặt ra.
Trong bất kỳ phương án quy hoạch phát triển nào theo Cách tiếp cận "xã hội" lấy con người làm trung tâm trong những quyết định về chính sách phát triển. Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế, còn có quan điểm phát triển mang tính xã hội, nhằm đảm bảo duy trì sự ổn định hệ thống văn hóa và xã hội của đất nước; giảm bớt những tác động tiêu cực về xã hội của phát triển kinh tế; đảm bảo tính công bằng xã hội với mục tiêu giảm tỷ lệ dân số sống trong nghèo đói là mục tiêu phát triển cơ bản của đất nước. Như vậy, sự phát triển kinh tế phải đi đôi với sự phát triển xã hội, nghĩa là phải nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người. Cho nên, “phát triển con người, hơn thế nữa, phát triển con người một cách bền vững, có nghĩa là phải phát triển nhiều mặt, cả tự nhiên lẫn xã hội, phải phát triển toàn diện con người không chỉ trong một thời gian nhất định mà là suốt cả cuộc đời; không phải chỉ trong một thế hệ mà là của nhiều thế hệ, của cả dân tộc”.
Đó cũng chính là sự phát triển tự sinh do chính xã hội ấy chủ động thực hiện chứ không phải là một sự phát triển ngoại sinh, sống nhờ hoàn toàn vào nguồn lực từ bên ngoài. 8 Cách tiếp cận môi trường được phổ biến rộng rãi từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, tập trung vào những vấn đề môi trường đang ngày càng trở nên nóng bỏng trên toàn thế giới. Như vậy, phát triển và môi trường có mối quan hệ qua lại rất chặt chẽ, thường xuyên, phụ thuộc và quy định lẫn nhau.