Tổng quan nghiên cứu

Phát triển bền vững là cam kết chiến lược của Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế toàn cầu. Theo Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030, Việt Nam đã đề ra 17 mục tiêu chung với 115 mục tiêu cụ thể nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Trong hệ thống phân công nhiệm vụ, ngành Xây dựng đóng vai trò nòng cốt khi được giao chủ trì thực hiện 11 mục tiêu cụ thể, tập trung vào hạ tầng cấp thoát nước, quản lý chất thải đô thị, quy hoạch đô thị xanh và phát triển nhà ở an toàn.

Tuy nhiên, công tác theo dõi và đánh giá việc thực hiện các mục tiêu này đang gặp nhiều rào cản do thiếu một hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành hoàn chỉnh, đồng bộ và có tính khả thi cao. Trên phạm vi quốc gia, Thông tư số 03/2019/TT-BKHĐT đã ban hành 158 chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững, nhưng số lượng chỉ tiêu giao riêng cho Bộ Xây dựng trực tiếp thu thập mới chỉ dừng lại ở 5 chỉ tiêu. Nhiều tiêu chí phản ánh tính bền vững đặc thù của ngành vẫn nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và chưa có quy chuẩn tính toán thống nhất.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ngành Xây dựng phục vụ công tác quản lý nhà nước giai đoạn 2020-2030. Đề tài tập trung phân tích thực trạng dữ liệu thống kê của ngành từ năm 2011 đến năm 2018, khảo sát thực nghiệm trong năm 2019, từ đó đề xuất danh mục chỉ tiêu chuẩn hóa, xác định nội dung phương pháp tính và lộ trình thực hiện chi tiết, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát thực thi các chính sách phát triển bền vững đô thị và xây dựng tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển bền vững hiện đại, khởi nguồn từ Báo cáo Brundtland (1987) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) với định nghĩa nền tảng: phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Luận văn tiếp cận mô hình phát triển bền vững ba cực (kinh tế - xã hội - môi trường) của hai nhà khoa học Jacobs và Sadler (1990), kết hợp với khung 5 trụ cột phát triển của Liên Hợp Quốc gồm Con người, Hành tinh, Thịnh vượng, Hòa bình và Đối tác.

Trong lĩnh vực kinh tế thống kê, nghiên cứu dựa trên lý luận về hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội. Hệ thống này bao gồm tập hợp các chỉ tiêu có mối liên hệ mật thiết, phản ánh cả mặt lượng và mặt chất của hiện tượng số lớn trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể. Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: phát triển bền vững ngành xây dựng, chất thải rắn sinh hoạt đô thị (CTRSH), chất thải rắn xây dựng (CTRXD) và quy hoạch đô thị tăng trưởng xanh. Các chỉ tiêu được thiết kế tuân thủ 5 nguyên tắc căn bản: tính hướng đích, tính hệ thống, tính thống nhất về phương pháp hạch toán, tính khả thi trong thu thập và tính kế thừa linh hoạt theo quy định của Luật Thống kê năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp chuyên gia (Delphi cải biên). Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm các văn bản pháp quy như Luật Thống kê 2015, Quyết định số 432/QĐ-TTg, Quyết định số 622/QĐ-TTg và Thông tư số 03/2019/TT-BKHĐT.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua 2 vòng khảo sát chuyên gia bằng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling):

  • Vòng 1: Cỡ mẫu gồm 40 chuyên gia am hiểu sâu về thống kê và ngành Xây dựng, trong đó 55% thuộc lĩnh vực thống kê (Tổng cục Thống kê, Vụ Phương pháp chế độ), 27,5% là cán bộ quản lý và 17,5% là chuyên gia kỹ thuật quy hoạch, hạ tầng. Phiếu khảo sát đánh giá 15 chỉ tiêu tiềm năng theo thang đo Likert 5 bậc (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm sàng lọc các chỉ tiêu đạt mức độ đồng thuận cao (điểm bình quân từ 3,0 trở lên).
  • Vòng 2: Cỡ mẫu mở rộng lên 60 chuyên gia, bao gồm thêm cán bộ quản lý và thống kê tại các Sở Xây dựng địa phương (cơ cấu: 61,7% thống kê, 26,7% quản lý, 11,7% chuyên môn xây dựng). Việc mở rộng mẫu nhằm kiểm chứng tính khả thi khi triển khai thu thập số liệu thực tế tại 63 tỉnh, thành phố.

Timeline nghiên cứu và xử lý dữ liệu được tiến hành tập trung trong giai đoạn 2018 - 2019, định hướng áp dụng số liệu thống kê cho chu kỳ 2020 - 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, qua rà soát hệ thống 30 chỉ tiêu giám sát Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (theo Quyết định số 432/QĐ-TTg), cả nước mới thu thập được 24/30 chỉ tiêu (đạt tỷ lệ 80%), còn lại 6/30 chỉ tiêu chưa có số liệu. Riêng ngành Xây dựng được phân công 2 chỉ tiêu về xử lý chất thải rắn và nước thải, nhưng từ năm 2018 đã bị gián đoạn nguồn dữ liệu do thay đổi phân công chức năng quản lý khu công nghiệp và điều chỉnh danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia theo Luật Thống kê 2015.

Thứ hai, đánh giá việc thực hiện Thông tư số 03/2019/TT-BKHĐT cho thấy, trong 158 chỉ tiêu phát triển bền vững quốc gia, có 140 chỉ tiêu thuộc lộ trình A (thực hiện từ năm 2019) và 18 chỉ tiêu thuộc lộ trình B (thực hiện từ năm 2025). Bộ Xây dựng được giao chủ trì 5 chỉ tiêu trọng yếu (tỷ lệ cấp nước sạch đô thị, tỷ lệ xử lý nước thải, tỷ lệ thu gom xử lý CTRSH, tỷ lệ tái chế CTRXD và diện tích cây xanh đô thị). Tuy nhiên, trên thực tế ngành mới chỉ thu thập định kỳ được 2/5 chỉ tiêu (đạt 40%), các chỉ tiêu còn lại vẫn chưa có quy trình báo cáo thường xuyên.

Thứ ba, kết quả phân tích dữ liệu khảo sát chuyên gia vòng 1 (N = 40) đã sàng lọc 15 chỉ tiêu ban đầu. Có 3 chỉ tiêu bị loại bỏ do điểm đánh giá bình quân dưới 3,0 điểm gồm: Tổng số căn nhà ở hoàn thành (2,45 điểm), Tổng diện tích nhà ở hoàn thành theo dự án (2,42 điểm) và Tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố (2,47 điểm), do các chỉ tiêu này phản ánh quy mô xây dựng hơn là tính bền vững. Ngược lại, các chỉ tiêu đạt điểm đồng thuận rất cao gồm: Tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu, chi tiết đô thị (4,9 điểm), Tỷ lệ thất thoát nước sạch (4,8 điểm), Tỷ lệ thu gom CTRSH (4,8 điểm) và Tỷ lệ lồng ghép tăng trưởng xanh vào quy hoạch (4,7 điểm).

Thứ tư, kết quả khảo sát vòng 2 (N = 60) đã khẳng định sự nhất trí cao với hệ thống chỉ tiêu hoàn thiện, tất cả các chỉ tiêu đều đạt điểm bình quân từ 4,1 đến 4,6 điểm. Đồng thời, nghiên cứu đã thống nhất bổ sung 6 chỉ tiêu cấp thiết gắn liền với thực tiễn sản xuất sạch và bảo vệ môi trường, tiêu biểu như: Tỷ lệ đô thị có công trình xử lý nước thải đạt chuẩn, Tỷ lệ tái chế CTRSH thu hồi năng lượng (4,6 điểm) và Sản lượng vật liệu xây dựng xanh (4,6 điểm).

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân tán và thiếu hụt dữ liệu thống kê ngành Xây dựng bắt nguồn từ nguyên nhân thể chế và nguồn lực. Chế độ báo cáo thống kê ngành chưa được số hóa toàn diện, trong khi cuộc điều tra định kỳ về hạ tầng kỹ thuật đô thị (chu kỳ 2 năm một lần theo Chương trình điều tra thống kê quốc gia) chưa thể triển khai do hạn chế về kinh phí và nhân sự chuyên trách tại các địa phương.

Dữ liệu khảo sát chuyên gia cho thấy sự chuyển dịch tư duy quản lý rõ nét: tính bền vững của ngành Xây dựng không nằm ở sản lượng hay diện tích nhà ở thương mại hoàn thành, mà nằm ở hiệu quả sử dụng tài nguyên (giảm tỷ lệ thất thoát nước sạch), khả năng tái chế chất thải (tái sử dụng CTRXD, thu hồi nhiệt thừa trong sản xuất xi măng) và chất lượng sống đô thị (mật độ cây xanh, xử lý nước thải tập trung).

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu có thể được mô tả thông qua biểu đồ radar (mạng nhện) thể hiện mức độ đồng thuận của chuyên gia trên 4 nhóm lĩnh vực: Hạ tầng kỹ thuật đô thị, Quy hoạch và phát triển đô thị, Phát triển nhà ở xã hội, và Sản xuất vật liệu xây dựng. Bên cạnh đó, một bảng ma trận phân loại chỉ tiêu theo chu kỳ báo cáo (1 năm, 2 năm, 5 năm) và cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm sẽ cung cấp cái nhìn tổng thể về tính khả thi của hệ thống thống kê chuyên ngành trong mối tương quan với bộ chỉ tiêu quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác thống kê phát triển bền vững ngành Xây dựng giai đoạn 2020-2030, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Ban hành và chuẩn hóa quy chế báo cáo thống kê chuyên ngành: Bộ Xây dựng cần phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư quy định Hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ngành Xây dựng. Mục tiêu đạt 100% các đơn vị thuộc Bộ và 63 Sở Xây dựng thực hiện báo cáo đúng biểu mẫu chuẩn hóa trước năm 2022.

  2. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số và tự động hóa thu thập: Triển khai nền tảng số hóa quản lý thông tin thống kê ngành Xây dựng tích hợp từ cấp tỉnh đến trung ương. Đặt mục tiêu tự động hóa cập nhật 100% các chỉ tiêu thuộc lộ trình A từ giai đoạn 2021-2025, giảm thời gian tổng hợp báo cáo từ 45 ngày xuống dưới 15 ngày sau kỳ báo cáo.

  3. Tổ chức thực hiện định kỳ cuộc điều tra thống kê hạ tầng kỹ thuật đô thị: Bộ Xây dựng cần bố trí ngân sách chuyên biệt để triển khai cuộc điều tra hạ tầng kỹ thuật đô thị theo chu kỳ 2 năm một lần (bắt đầu thí điểm vào năm 2020, mở rộng các năm 2022, 2024, 2026). Hoạt động này nhằm giải quyết triệt để sự thiếu hụt số liệu về tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý và tỷ lệ tái chế chất thải rắn xây dựng.

  4. Nâng cao năng lực chuyên môn và đào tạo nhân lực thống kê: Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Xây dựng) chủ trì tổ chức các khóa tập huấn phương pháp tính toán và phân tổ chỉ tiêu phát triển bền vững cho hơn 500 cán bộ phụ trách thống kê tại các Sở Xây dựng, phấn đấu nâng tỷ lệ báo cáo thống kê gửi đúng hạn và đạt chuẩn chất lượng lên trên 95% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách tại Bộ Xây dựng và các Sở Xây dựng địa phương: Sử dụng hệ thống chỉ tiêu làm công cụ đo lường, giám sát tiến độ thực hiện Kế hoạch hành động phát triển bền vững ngành đến năm 2030, đồng thời xây dựng quy hoạch đô thị xanh và cơ chế khuyến khích vật liệu xây dựng thân thiện môi trường.
  • Chuyên viên thống kê tại Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố: Tham khảo phương pháp xây dựng chỉ tiêu chuyên ngành, quy trình phân tổ dữ liệu và phương pháp phối hợp liên ngành trong việc tích hợp số liệu thống kê phát triển bền vững quốc gia.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Thống kê kinh tế, Quản lý đô thị, Kinh tế môi trường: Khai thác khung lý thuyết ba cực, quy trình khảo sát chuyên gia 2 vòng (Delphi cải biên) và phương pháp đánh giá độ tin cậy thang đo Likert để ứng dụng vào các đề tài nghiên cứu tương tự.
  • Lãnh đạo các doanh nghiệp ngành xây dựng, cấp thoát nước, môi trường đô thị và hiệp hội sản xuất vật liệu: Nắm bắt các định hướng quản lý nhà nước về tiêu chuẩn xanh, từ đó điều chỉnh chiến lược kinh doanh, đầu tư hệ thống thu hồi nhiệt thừa và tối ưu hóa quy trình tái chế chất thải rắn xây dựng.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững ngành Xây dựng gồm những nhóm lĩnh vực cốt lõi nào?
Hệ thống chỉ tiêu được cấu trúc thành 4 nhóm lĩnh vực trọng tâm: Hạ tầng kỹ thuật đô thị (cấp thoát nước, quản lý chất thải), Quy hoạch và phát triển đô thị xanh, Phát triển nhà ở (tập trung vào nhà ở xã hội), và Sản xuất vật liệu xây dựng thân thiện môi trường.

2. Vì sao các chỉ tiêu về tổng số căn nhà hay diện tích nhà hoàn thành bị loại khỏi hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững?
Qua khảo sát chuyên gia vòng 1, các chỉ tiêu này chỉ đạt điểm bình quân 2,42 đến 2,47 điểm (dưới ngưỡng chọn 3,0 điểm). Lý do là chúng chỉ phản ánh quy mô tăng trưởng số lượng của thị trường bất động sản, không đại diện cho tính bền vững về mặt xã hội hay môi trường sống an toàn.

3. Thách thức lớn nhất trong việc thu thập số liệu phát triển bền vững ngành Xây dựng hiện nay là gì?
Thách thức lớn nhất là nguồn dữ liệu bị phân tán, thiếu kinh phí tổ chức các cuộc điều tra thống kê chuyên sâu về hạ tầng đô thị, và tỷ lệ thu thập số liệu định kỳ của ngành mới chỉ đạt khoảng 40% so với yêu cầu của Thông tư số 03/2019/TT-BKHĐT.

4. Lộ trình triển khai các chỉ tiêu thống kê ngành Xây dựng được phân chia như thế nào?
Các chỉ tiêu được phân theo hai mốc lộ trình: Lộ trình A (thực hiện ngay từ năm 2019 với các chỉ tiêu có sẵn nguồn dữ liệu như cấp nước, thu gom rác thải) và Lộ trình B (chuẩn bị điều kiện và triển khai thu thập từ năm 2025 đối với các chỉ tiêu mới về tái chế CTRXD và vật liệu xanh).

5. Điểm mới nổi bật nhất của luận văn là gì?
Luận văn đã chuẩn hóa danh mục chỉ tiêu chuyên ngành bằng phương pháp khảo sát thực nghiệm 2 vòng qua 100 lượt chuyên gia, thiết lập nội dung và phương pháp tính chi tiết cho từng chỉ tiêu, đồng thời gắn kết chặt chẽ trách nhiệm quản lý của Bộ Xây dựng với 11 mục tiêu cụ thể tại Quyết định 622/QĐ-TTg.

Kết luận

  • Tổng kết cốt lõi: Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển bền vững và vai trò sống còn của hệ thống chỉ tiêu thống kê trong quản lý nhà nước ngành Xây dựng.
  • Đánh giá thực trạng: Làm rõ sự đứt gãy và thiếu hụt dữ liệu thống kê chuyên ngành giai đoạn 2011-2018, chỉ ra chỉ có 2/5 chỉ tiêu giao cho Bộ Xây dựng tại Thông tư số 03/2019/TT-BKHĐT được thu thập thường xuyên.
  • Đóng góp khoa học: Thiết lập thành công hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ngành Xây dựng thông qua phương pháp khảo sát chuyên gia 2 vòng với độ tin cậy và tính thực tiễn cao.
  • Kế hoạch hành động tiếp theo: Triển khai đề án thí điểm điều tra hạ tầng kỹ thuật đô thị năm 2020 và hoàn thiện phần mềm cơ sở dữ liệu số hóa toàn ngành trước năm 2025.
  • Thông điệp hành động: Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp xây dựng cần đẩy mạnh liên kết, ứng dụng ngay bộ chỉ tiêu vào thực tiễn quy hoạch và quản lý để kiến tạo các đô thị Việt Nam thịnh vượng, bao trùm và bền vững.