Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi mua sắm trực tuyến - Chương 3: Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của sinh viên trường Đại học Thương mại - Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hành vi mua sắm trực tuyến của sinh viên trường Đại học Thương mại 9 CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI MUA SẮM TRỰC TUYẾN 2.1 Cơ sở lý luận về thương mại điện tử 2.1 Khái niệm và đặc điểm của thương mại điện tử 2. Một số thuật ngữ, cách hiểu và khái niệm thương mại điện tử Sự phát triển của Internet kéo theo các ứng dụng được khai thác nhằm phục vụ cho mục đích thương mại. Nhiều thuật ngữ khác nhau chỉ các hoạt động kinh doanh điện tử trên Internet đã xuất hiện như: “thương mại trực tuyến” (electronic commerce hay e- commerce); “thương mại điều khiển học” (cyber trade); “thương mại trực tuyến” (online trade); “thương mại không giấy tờ” (paperless commerce); “thương mại Internet” (Internet commerce); “thương mại số hóa” (digital commerce).
Thuật ngữ “thương mại điện tử” được hiểu theo 7 góc độ nghiên cứu khác nhau: công nghệ thông tin, .thương mại, quá trình kinh doanh, dịch vụ, giáo dục, hợp tác, cộng đồng. “Thương mại điện tử là việc sử dụng các phương tiện truyền thông điện tử và công nghệ xử lý thông tin trong giao dịch kinh doanh nhằm tạo ra, chuyển tải và định nghĩa lại mối quan hệ để tạo ra các giá trị giữa các tổ chức và giữa các tổ chức và cá nhân”. (Lallana và nnk., 2000) Theo ủy ban châu Âu: “Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng văn bản, âm thanh và hình ảnh”.
“Thương mại điện tử bao hàm các hoạt động kinh doanh trên mạng đối với các sản phẩm và dịch vụ”. (Rosen, 2000) Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc (OECD) đưa ra định nghĩa thương mại điện tử: “Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet”. 10 Tổ chức Thương mại thế giới WTO định nghĩa: “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”. Khái niệm “thương mại điện tử” được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng phụ thuộc vào cách tiếp cận rộng và hẹp của hai thuật ngữ “thương mại” và “điện tử”.
Bảng 1: Thương mại điện tử theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp (Minh, 2011, tr.18) Phương tiện điện tử (PTĐT) Nghĩa rộng Nghĩa hẹp Thương Nghĩa Thương mại điện tử là Thương mại điện tử là toàn bộ các mại rộng toàn bộ các giao dịch giao dịch mang tính thương mại được mang tính thương mại tiến hành bằng các phương tiện điện được tiến hành bằng các tử mà chủ yếu là các mạng truyền phương tiện điện tử. thông, mạng máy tính và Internet Nghĩa Thương mại điện tử là các Thương mại điện tử là các giao dịch hẹp giao dịch mua bán được mua bán được tiến hành bằng mạng tiến hành bằng các PTĐT Internet Từ đó, khái niệm “thương mại điện tử” có thể được khái quát như sau: “Thương mại điện tử là việc tiến hành các giao dịch thương mại thông qua mạng Internet, các mạng truyền thông và các phương tiện điện tử khác”. Đặc điểm của thương mại điện tử. Phương thức thương mại sử dụng các phương tiện điện tử : Thương mại điện tử là hình thức kinh doanh sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch.
Trong thương mại điện tử, mua sắm trực tuyến trở nên tiện lợi khi người tiêu dùng có thể truy cập trang web hoặc ứng dụng di động mọi lúc, mọi nơi. Thông tin chi tiết về sản phẩm, giá 11 cả, và ưu đãi được truyền tải qua mạng máy tính và Internet, giúp người tiêu dùng so sánh và lựa chọn một cách thuận tiện. Hệ thống thanh toán trực tuyến bằng thẻ tín dụng hoặc ví điện tử cũng được tích hợp trong thương mại điện tử, tăng cường tính tiện lợi cho quá trình thanh toán. Truyền thông thông tin qua mạng máy tính và Internet: Sự sử dụng các phương tiện điện tử cho phép truyền tải đa dạng thông tin từ văn bản đến hình ảnh động và video qua mạng máy tính và Internet.
Điều này mở ra cửa cho việc chia sẻ thông tin một cách linh hoạt và hiệu quả. Việc giới thiệu sản phẩm qua hình ảnh chất lượng cao và video không chỉ hấp dẫn mà còn tăng cường tương tác giữa doanh nghiệp và khách hàng, xây dựng mối quan hệ và trải nghiệm tốt nhất cho người tiêu dùng. Giảm sự phụ thuộc vào giấy in và quy trình in ấn: Trong lĩnh vực thương mại điện tử, việc giảm sự phụ thuộc vào giấy in và quy trình in ấn truyền thống đóng vai trò quan trọng. Thay vì sử dụng ghi chú giấy và tài liệu in ấn, thông tin được truyền tải điện tử giúp tối ưu hóa quá trình kinh doanh.
Điều này không chỉ tiết kiệm tài nguyên mà còn mang lại sự linh hoạt cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý thông tin và tương tác nhanh chóng trong môi trường kinh doanh số. Liên kết mật thiết với công nghệ thông tin: Thương mại điện tử liên kết mật thiết với công nghệ thông tin, nhờ đó, ưu điểm và lợi ích của công nghệ thông tin được áp dụng trong quy trình kinh doanh thương mại điện tử, tối ưu hóa hiệu suất và tạo ra các giao dịch linh hoạt. Giao dịch trong thương mại điện tử thường diễn ra trực tuyến, trên nền tảng mạng máy tính điện tử. Khác biệt với các giao dịch truyền thống, thương mại điện tử không giao dịch trên giấy, qua điện thoại, hay qua các phương tiện vận chuyển truyền thống.
Điều này làm cho sự phát triển mạng máy tính và Internet trở thành yếu tố chủ chốt. Tính linh hoạt trong thương mại điện tử được thúc đẩy, cho phép giao dịch mở cửa liên tục, 24/7, và có khả năng đáp ứng nhanh chóng với sự phản hồi từ người tiêu dùng. Điều này không chỉ tăng hiệu suất mà còn loại bỏ những hạn chế của giao dịch truyền thống như sự cản trở vật lý, địa lý, và thông tin. Bốn nhóm hoạt động chính của thương mại điện tử: Giao dịch thương mại điện tử bao gồm bốn nhóm hoạt động chủ yếu: mua, bán, chuyển giao, và trao đổi sản phẩm, dịch vụ, và thông tin.
Các hoạt động hỗ trợ như marketing, quảng cáo, thanh toán điện 12 tử, đấu giá, và dịch vụ hỗ trợ công nghệ thông tin cũng là một phần quan trọng của thương mại điện tử. Tầm quan trọng lịch sử của thuật ngữ “Thương mại điện tử" : Thuật ngữ mang theo mình tầm quan trọng lịch sử. Không có định nghĩa duy nhất về thương mại điện tử do sự xuất hiện liên tục của các công nghệ mới, và việc khám phá và áp dụng hết khả năng của chúng là một thách thức không ngừng đối với ngành kinh doanh.2 Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C) 2.1 Khái niệm thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C) Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C) được định nghĩa như sau: ‘TMĐT B2C bao gồm các giao dịch bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp đến khách hàng là cá nhân và các hộ gia đình, những người tiêu dùng cuối cùng. Nội dung chủ yếu của loại hình TMĐT này là bán lẻ điện tử.2 Các mô hình thương mại điện tử B2C phổ biến hiện nay Mô hình bán hàng trực tiếp: Bán hàng trực tiếp được xem là mô hình phổ biến nhất trong thương mại điện tử B2C.
Với mô hình này, đối tượng khách hàng của các doanh nghiệp là những người mua hàng trực tuyến. Mô hình bán hàng trực tiếp này có thể áp dụng cho các nhà sản xuất, doanh nghiệp nhỏ hoặc các cửa hàng bách hóa tổng hợp. Sản phẩm và dịch vụ của họ đến từ các nhà sản xuất khác nhau. Mô hình trung gian trực tuyến: Trung gian trực tuyến là mô hình mà những nhà phân phối ở vị trí là các bên trung gian, không thực sự sở hữu các sản phẩm mà chỉ đóng vai trò kết nối người mua hàng và người bán hàng lại với nhau.
Các sàn thương mại điện tử là ví dụ điển hình cho mô hình trung gian trực tuyến. Các tên tuổi nổi tiếng trong lĩnh vực này có thể kể đến như Shopee, Lazada, và nhiều sàn thương mại điện tử khác. Đặc điểm chung của những doanh nghiệp này là họ không sở hữu trực tiếp các sản phẩm, mà họ chỉ đóng vai trò trung gian. Mô hình dựa trên quảng cáo: Trong mô hình này, doanh nghiệp sẽ tiến hành xây dựng nên những bài viết với nội dung hấp dẫn cùng nhiều thông tin giá trị, hữu ích nhằm mục tiêu thu hút số lượng người dùng truy cập vào trong trang web để xem các 13 bài viết đó.
Khi lưu lượng truy cập trang web tăng cao, doanh nghiệp có thể tận dụng cơ hội cung cấp dịch vụ quảng cáo cho bên thứ ba, chẳng hạn như nhận booking đặt banner, logo, … Cuối cùng, doanh nghiệp sẽ được nhận tiền từ chính hoạt động cho thuê quảng cáo trên các trang web thương mại điện tử này. Mô hình này cũng giúp tăng cường sự nhận diện thương hiệu, góp phần gia tăng đáng kể doanh thu cho doanh nghiệp. Mô hình dựa trên cộng đồng: Xây dựng và phát triển cộng đồng trực tuyến đang trở thành một xu hướng phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh. Các doanh nghiệp ngày càng tập trung vào việc chăm sóc, bán hàng và tư vấn cho khách hàng thông qua các cộng đồng này.
Đặc biệt, mô hình này giúp các doanh nghiệp xây dựng các chiến dịch tiếp thị và truyền thông dựa trên vị trí địa lý và nhân khẩu học cụ thể của khách hàng. Điều này tạo thêm hiệu quả cho việc triển khai các chiến dịch tiếp thị của doanh nghiệp và tiếp cận khách hàng một cách hiệu quả hơn. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang xây dựng cộng đồng trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, Instagram và các nền tảng khác. Điều này giúp họ dễ dàng triển khai các chiến dịch marketing và quảng cáo trực tiếp đến người tiêu dùng.