phần mở đầu, kết luận luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Hành động hỏi trực tiếp trong thơ Tố Hữu Chƣơng 3: Hành động hỏi gián tiếp trong thơ Tố Hữu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý thuyết về hành động ngôn ngữ Cho đến nay, lý thuyết về hành động ngôn ngữ luôn nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu Ngữ dụng học. Tuy nhiên đến nay, nó vẫn là một trong những “địa hạt” gây nhiều tranh luận với nhiều quan điểm khác nhau về cách hiểu, cách phân loại và cách nhận biết 1. Khái niệm về hành động ngôn ngữ Hành động ngôn ngữ còn đƣợc gọi bằng các tên khác nhƣ: hành động nói, hành động phát ngôn, hành vi ngôn ngữ.
Trong giao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ đƣợc coi là phƣơng tiện giao tiếp trọng yếu nhất của xã hội loài ngƣời. Việc sử dụng ngôn ngữ khi nói nhằm gây ra hiệu quả đối với nhân vật giao tiếp chính là chúng ta đang thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phƣơng tiện để thực hiện hành động đó là ngôn ngữ. Loại hành động đặc biệt đó đƣợc gọi là hành động ngôn ngữ. Vậy, hành động ngôn ngữ là gì? Theo GS.
Đỗ Hữu Châu: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phƣơng tiện là ngôn ngữ. Một hành động ngôn ngữ đƣợc thực hiện khi một ngƣời nói (hoặc viết) SP1 nói ra một phát ngôn U cho ngƣời nghe (hoặc ngƣời đọc) SP2 trong ngữ cảnh C” [6, 88]. Nguyễn Đức Dân lại cho rằng: “Khi thực hiện một phát ngôn trong một tình huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó, ngƣời nói đã thực hiện những hành vi ngôn ngữ nhất định và ngƣời nghe cảm nhận đƣợc điều này. Xảy ra hiện tƣợng đó là vì các hành vi ngôn ngữ mang tính chất xã hội, đƣợc ƣớc chế bởi xã hội” [10, 220].
Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” thì hành động ngôn ngữ là: “Một đoạn lời nói có mục đích nhất định thực hiện trong những điều kiện nhất định đƣợc tách biệt bằng các phƣơng tiện trên ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt âm đọc mà ngƣời nói, ngƣời nghe đều có liên lạc với một ý nghĩa nhƣ nhau, trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó. Ví dụ 1: Bài kiểm tra bị điểm kém, bé Khánh Linh có thể chuộc lỗi bằng các hiện tƣợng vật lý nhƣ: rửa bát, quét nhà, tắm cho em giúp mẹ,… cũng có thể dùng lời nói “con xin lỗi mẹ vì con đã không dùng giấy nháp để tính toán cẩn thận nên bài làm bị sai” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 Trong trƣờng hợp này, sự xin lỗi của bé Khánh Linh đã đƣợc thể hiện bằng ngôn ngữ, đƣợc thể hiện ngay trong phát ngôn. Hành động đó chính là hành động (hành vi) ngôn ngữ – hành động xin lỗi. Nhƣ vậy, dù đƣợc phát biểu dƣới những hình thức khác nhau nhƣng giữa các nhà ngôn ngữ học vẫn có điểm chung, thống nhất trong quan niệm về hành động ngôn ngữ - là loại hành động đặc biệt mà phƣơng tiện là ngôn ngữ đƣợc thực hiện khi ta nói năng.
Các loại hành động ngôn ngữ Nhƣ trên đã nói, hành động ngôn ngữ đƣợc thực hiện khi ngƣời nói (hoặc ngƣời viết) nói ra một phát ngôn cho ngƣời nghe (hoặc ngƣời đọc) trong một ngữ cảnh nhất định.Austin, trong mọi cuộc giao tiếp, một phát ngôn thƣờng đƣợc tạo ra do ba loại hành động ngôn ngữ, đó là: - Hành động tạo lời (Hành động tạo ngôn) - Hành động mƣợn lời (Hành động dụng ngôn) - Hành động ở lời (Hành động ngôn trung) 1. Hành động tạo lời (locutioncary act) Theo Austin, hành động tạo lời là “hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ nhƣ: ngữ âm, từ vựng, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn có hình thức và nội dung” [6, 88]. Nói cách khác, hành động tạo lời là hành động chúng ta nói (/phát ngôn) ra một điều gì đó. Ví dụ 2: Để có phát ngôn “Sắp nộp luận văn rồi đấy!” ta phải tạo ra nó bằng cách sử dụng các từ ngữ cần thiết, kết hợp chúng lại và phát âm ra (nói ra) điều đó.
Hành động ở lời (inlocutionary act) Đây là “những hành vi ngƣời nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tƣơng ứng với chúng ở ngƣời nhận” [7, 447]. Ví dụ 3: Sp1: Cuối tuần này cậu có bận không? Sp2: Không. Ở ví dụ trên, khi Sp1 hỏi (Cuối tuần này cậu có bận không?), hiệu quả của hành động ở lời này đƣợc thể hiện ở phát ngôn trả lời của Sp2 (Không).
Điều này có nghĩa Sp2 đã tạo nên một phản ứng ngôn ngữ tƣơng ứng với hành vi ngôn ngữ mà Sp1 thực hiện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Cũng có những trƣờng hợp, hành động ở lời có hiệu quả là một hành động mƣợn lời vật lý. Ví dụ 4: Sp1: Con ăn nhanh đi để còn học bài. Tuy nhiên, ngay cả những trƣờng hợp mà hiệu quả của hành động ở lời là một hành động mƣợn lời nhƣ ở ví dụ (4) thì hành động mƣợn lời đó vẫn có thể có hành động ở lời đi kèm.
(chẳng hạn, Sp2 ở ví dụ (4) vừa đáp “Vâng ạ!” vừa cầm bát ăn nhanh ) Do hiệu quả giao tiếp của hành động ở lời là những hiệu quả thuộc về ngôn ngữ nên hành động ở lời có ý định (tức có đích), có quy ước và có thể chế. Ý định (hay đích) của hành động ở lời thuộc về cá nhân ngƣời phát ngôn còn quy ước và thể chế thuộc về cộng đồng ngôn ngữ. Dù không đƣợc thể hiện một cách hiển ngôn nhƣng các quy tắc vận hành các quy ƣớc, thể chế của các hành động ở lời đƣợc mọi ngƣời trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác. Điều đó có nghĩa là nắm đƣợc âm, từ ngữ, câu… nắm đƣợc những quy tắc điều khiển các hành vi ở lời trong ngôn ngữ nào đó là chúng ta đã biết các quy tắc để “thiết lập” nên các hành động “hỏi”, “yêu cầu”, “hứa hẹn”… đó sao cho đúng lúc, đúng chỗ cho phù hợp với ngữ cảnh, văn hóa giao tiếp… là một vấn đề không kém phần quan trọng.
Ví dụ 5: Là bạn bè thân thiết, chúng ta có thể hỏi thăm nhau về mức thu nhập. Hành động hỏi trong trƣờng hợp này đƣợc chấp nhận nhƣ là sự quan tâm lẫn nhau. Tuy nhiên, với ngƣời bạn mới quen – nhất là bạn khác giới, nếu hỏi nhau về thu nhập, ngƣời hỏi dễ bị ngƣời nghe đánh giá sai về bản chất, về quan niệm sống…v.v… Khác với hành động tạo lời và hành động mƣợn lời, hành động ở lời có khả năng “thay đổi tƣ cách pháp nhân của ngƣời đối thoại” (O.Ducrut – dẫn theo [7, 447]). Khi thực hiện một hành động ở lời, “tƣ cách pháp nhân” của ngƣời phát ngôn và ngƣời thụ ngôn đã có sự thay đổi về nghĩa vụ và quyền lợi so với “tình trạng” của họ khi chƣa thực hiện hành động ở lời đó.
Ví dụ 6: Lời tự sự của một chàng trai khi tình yêu tan vỡ: Giá như mình đừng quen nhau Em sẽ bình yên đón cơn mưa khác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 Còn anh như áng mây lưu lạc Quên cả đường đi, quên cả lối về… Hành vi tự sự đó dù rất ít ràng buộc đối với cả ngƣời nói (chàng trai) và ngƣời nghe (cô gái) nhƣng chúng ta vẫn thấy tƣ cách pháp nhân của những ngƣời này thay đổi khi hành vi này đƣợc phát ra (chẳng hạn, với cô gái, ít ra cũng mang tâm trạng áy náy). Để tạo ra một diễn ngôn, ngƣời ta thực hiện một cách thống nhất cả ba loại hành hành động: hành động tạo lời, hành động mƣợn lời, hành động ở lời.3 Hành động mượn lời (perlocationary act) Là những hành động “mƣợn phƣơng tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mƣợn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngôn ngữ nào đó ở ngƣời nghe, ngƣời nhận hoặc ở chính ngƣời nói” [7, 446]. Nói cách khác, hành động mƣợn lời là hành động thực hiện một phát ngôn nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý, trong hành động vật lý có thể quan sát đƣợc, gây ra một tác động nào đó với ngữ cảnh. Ví dụ 7: Đến tiết Văn học nƣớc ngoài, thầy giáo lên lớp nói với sinh viên: “Hôm nay, tôi không được khỏe, chúng ta nghỉ học” (2).
Sau khi nghe phát ngôn này sẽ có những cách “phản ứng” khác nhau: một số sinh viên hò reo vui sƣớng vì đƣợc nghỉ học: một số sinh viên thở phào nhẹ nhõm, có học sinh lại thấy luyến tiếc, thậm chí, một số sinh viên tỏ ra bực mình trƣớc “phản ứng” không lành mạnh của bạn bè (hò reo vì đƣợc nghỉ học) vì họ cho rằng bạn của mình quá vô tâm trƣớc tình trạng sức khỏe của thầy giáo (Và quả thực, thầy giáo cũng đã nghĩ nhƣ thế vì sau khi tiếng reo hò của học trò vừa ngớt, thầy hạ giọng: “Thật quá đáng!” và bƣớc ra khỏi lớp trƣớc những ánh mắt ân hận của học trò). Đó chính là hiệu quả mƣợn lời của phát ngôn (2). Nhƣ vậy, hiệu quả của hành động mƣợn lời là những hiệu quả ngoài ngôn ngữ (đúng hơn là ngoài diễn ngôn). Hiệu quả này có thể có chủ ý hoặc không có chủ ý.
Chúng rất phân tán, không có tính quy ƣớc và khó có thể tính toán để tìm ra cơ chế chung. Điều kiện sử dụng các hành động ở lời Nhƣ đã trình bày ở 1.2, hành động ở lời về cơ bản là hành động xã hội. Vì vậy, điều kiện sử dụng các hành động ở lời là những điều kiện mà một hành động ở lời “phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh và sự phát ngôn ra nó” [7, 465]. Tất nhiên, các điều kiện trên đây chỉ thỏa mãn (/đáp ứng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 đƣợc) với hành động ở lời chân thực.
Các hành động ngôn ngữ không chân thực, gián tiếp hay phái sinh sẽ không thuộc diện áp dụng của những điều kiện này. Chẳng hạn: Hành động “hứa hẹn”: a. Ngƣời nói thực hiện hành động “hứa hẹn” đồng thời có ý định thực hiện lời hứa của mình. Ngƣời nói thực hiện hành động hứa hẹn để lừa dối.