Tổng quan luận án

Hệ thần kinh trung ương giữ vai trò chủ đạo trong việc điều phối mọi hoạt động chức năng của cơ thể con người, trong đó não bộ là cơ quan quan trọng nhất. Hoạt động bình thường của não phụ thuộc trực tiếp vào tính toàn vẹn của cấu trúc giải phẫu và nguồn cấp máu liên tục từ hệ động mạch. Nguồn cấp máu cho não bắt nguồn từ hai hệ thống mạch chính: hệ động mạch cảnh trong cấp máu cho phần lớn bán cầu đại não và hệ động mạch đốt sống - thân nền cấp máu cho thùy chẩm, thân não cùng tiểu não.

Trước đây, nghiên cứu giải phẫu hệ mạch não chủ yếu dựa vào hai phương pháp kinh điển là phẫu tích tử thi và đúc khuôn mạch. Mặc dù đóng góp nhiều dữ liệu giải phẫu nền tảng, cả hai kỹ thuật này đều bộc lộ những hạn chế đáng kể:

  • Phương pháp đúc khuôn mạch làm phá hủy tiêu bản gốc, đòi hỏi thời gian chuẩn bị kéo dài, khó bảo quản mẫu và không thể hiện được mối tương quan không gian giữa mạch máu với các cấu trúc mô xung quanh.
  • Phương pháp phẫu tích phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của phẫu tích viên, mô bệnh phẩm dễ tổn hại, khó bộc lộ chính xác các nhánh mạch nhỏ nằm sâu hoặc ở xa nguyên ủy, đồng thời khó thu thập cỡ mẫu đủ lớn để khảo sát các biến thể giải phẫu hiếm gặp.

Sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRA) và đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đa dãy đã khắc phục các nhược điểm trên. Hệ thống CLVT đa dãy cho phép khảo sát không xâm lấn, tốc độ chụp nhanh, độ phân giải cao và khả năng tái tạo hình ảnh không gian ba chiều (3D). Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu sử dụng máy CLVT 64 dãy hoặc 128 dãy, phần lớn chỉ tập trung vào vòng động mạch não (đa giác Willis) hoặc các thân mạch riêng lẻ mà chưa khảo sát toàn diện các phân đoạn mạch ở xa nguyên ủy, số đo các góc hợp mạch cũng như chưa thống kê trên hệ thống máy chụp CLVT 256 dãy thế hệ mới.

Để giải quyết khoảng trống nghiên cứu này, luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Tuấn Sơn (chuyên ngành Giải phẫu người, Trường Đại học Y Hà Nội, năm 2020) được thực hiện với 02 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá tỷ lệ hiện ảnh các động mạch não trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính 256 dãy.
  2. Mô tả các dạng thông thường và biến đổi giải phẫu các động mạch não.

Nghiên cứu được triển khai trên 261 bộ dữ liệu file ảnh chụp cắt lớp vi tính động mạch não tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Hữu Nghị trong giai đoạn từ tháng 7/2017 đến tháng 12/2018.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án hệ thống hóa các mốc nghiên cứu giải phẫu và chẩn đoán hình ảnh mạch máu não trong nước và quốc tế.

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

  • Hoàng Văn Cúc (2000): Khảo sát giải phẫu động mạch não người Việt Nam trưởng thành qua phẫu tích não ngâm formol và tiêu bản ăn mòn. Tác giả công bố đường kính trung bình các động mạch não chính, ghi nhận đường kính mạch máu bên trái có xu hướng trội hơn bên phải, tỷ lệ động mạch não trước rất bé chiếm 5%, không có động mạch đốt sống phải chiếm 5%, không có động mạch não sau phải chiếm 5%, 42,5% có vòng động mạch não 7 cạnh và 5% không có vòng động mạch não. Công trình chưa đánh giá các đoạn mạch ở xa nguyên ủy và các góc hợp bởi các động mạch lớn.
  • Phạm Minh Thông, Phạm Hồng Đức và Vũ Đăng Lưu (2008): Ứng dụng CLVT 64 dãy chẩn đoán dị dạng động - tĩnh mạch và phình mạch não. Nghiên cứu xác định CLVT 64 dãy đạt độ nhạy 93%, độ đặc hiệu 95%, độ chính xác 93,5% so với DSA trong chẩn đoán phình mạch não nội sọ, có khả năng thay thế DSA nhưng chưa tập trung đo đạc các chỉ số giải phẫu chuẩn của cây mạch não.
  • Hoàng Minh Tú (2011): Sử dụng CLVT 64 dãy khảo sát giải phẫu vòng động mạch não trên người Việt Nam, xác định tỷ lệ biến thể giải phẫu là 78,43% với 17 dạng biến đổi và đo đạc kích thước các đoạn mạch cấu tạo vòng Willis. Nghiên cứu chưa đo đạc các đoạn mạch xa như A3 (động mạch não trước), nhánh trên/dưới của M2 (động mạch não giữa) và P3 (động mạch não sau).
  • Phạm Thu Hà (2018): Nghiên cứu giải phẫu vòng động mạch não bằng CLVT 128 dãy trên nhóm bệnh nhân phình mạch não, ghi nhận tỷ lệ biến đổi vòng mạch là 78,8% với 20 dạng biến đổi khác nhau, đồng thời chỉ ra mối liên quan giữa biến đổi vòng Willis với nguy cơ xuất hiện túi phình. Công trình cũng chưa khảo sát các đoạn mạch xa và số đo góc mạch.

Các công trình nghiên cứu trên thế giới

  • Lịch sử mô tả vòng động mạch não: Veslinguis là người đầu tiên đưa ra quan điểm về vòng động mạch não gồm 7 nhánh; đến năm 1662, Thomas Willis mô tả chi tiết giải phẫu cấu trúc này (đa giác Willis).
  • El Khamlichi và cộng sự (1985): Nghiên cứu 100 bộ não người Ma-rốc, xác định 15 loại hình thái vòng động mạch não, trong đó có 1 dạng biến đổi mới.
  • Al Hussain và cộng sự (2001): Khảo sát 50 vòng động mạch não người Jordani tử vong không do bệnh lý mạch máu não, phân loại 14 dạng hình thái, xác định tỷ lệ động mạch não sau có nguồn gốc phôi thai là 20% và tỷ lệ động mạch thân nền tạo cửa sổ mạch là 6%.
  • Dimmick (2009) và Li (2011): Sử dụng CLVT khảo sát các biến đổi giải phẫu động mạch não trên người Úc và người Trung Quốc, khẳng định giá trị của CLVT đa dãy trong việc nhận diện các biến thể giải phẫu.
  • Hamidi và cộng sự (2012–2013): Nghiên cứu trên 500 người Thổ Nhĩ Kỳ bằng CLVT 64 dãy, phát hiện 773 biến đổi giải phẫu; đo đạc đường kính trung bình của động mạch đốt sống phải (2,95 ± 0,47 mm), đốt sống trái (3,23 ± 0,57 mm), động mạch tiểu não dưới sau phải (1,67 ± 0,45 mm), tiểu não dưới trước phải (1,24 ± 0,38 mm), tiểu não trên phải (1,59 ± 0,39 mm) và động mạch não sau phải (2,56 ± 0,43 mm).
  • Kovač (2012–2013): Sử dụng CLVT 16 dãy ghi nhận tỷ lệ tạo cửa sổ mạch ở hệ sống - nền là 2,4%, đoạn M1 là 0,2%, động mạch thông trước là 0,4%, đoạn A1 là 0,6%; tỷ lệ động mạch não trước đơn độc (azygos) là 1,5%; giảm sản A1 là 17,6% và động mạch não sau gốc phôi thai chiếm 37%.
  • Kim (2016): Nghiên cứu 3.067 đối tượng bằng CLVT 64 và 128 dãy, ghi nhận 21 biến đổi ở động mạch đốt sống, trong đó có 7 trường hợp tạo cửa sổ mạch nội sọ và 1 trường hợp động mạch đốt sống xuất phát bất thường từ động mạch chẩm.

Vị trí và khoảng trống học thuật của luận án

Luận án của tác giả Nguyễn Tuấn Sơn kế thừa các tiêu chuẩn phân đoạn giải phẫu quốc tế (phân đoạn Bouthillier cho động mạch cảnh trong; Bradac và Huber cho các động mạch não trước, não giữa, não sau; Párraga cho phân đoạn động mạch não sau) để lấp đầy khoảng trống dữ liệu giải phẫu mạch não người Việt Nam trên hệ thống máy chụp CLVT 256 dãy. Đề tài mở rộng phạm vi khảo sát tới các nhánh mạch xa (A3, M2, P3), hệ thống động mạch tiểu não, số đo các góc rẽ nhánh và phân loại chi tiết các biến thể đơn biến, đa biến của vòng động mạch não.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các quy chuẩn giải phẫu

Luận án vận dụng các hệ thống phân loại giải phẫu kinh điển và hiện đại:

  1. Động mạch cảnh trong (ICA): Áp dụng phân loại 7 đoạn của Bouthillier gồm C1 (đoạn cổ), C2 (đoạn đá), C3 (đoạn lỗ rách), C4 (đoạn xoang hang), C5 (đoạn mỏm yên), C6 (đoạn mắt/trên mỏm yên) và C7 (đoạn thông/tận cùng).
  2. Động mạch não trước (ACA): Phân chia 4 đoạn theo Bradac và Huber: A1 (đoạn trước thông), A2 (đoạn dưới chai), A3 (đoạn trước chai - động mạch quanh thể trai) và A4 (đoạn trên chai).
  3. Động mạch não giữa (MCA): Phân chia 4 đoạn theo Bradac và Huber: M1 (đoạn bướm), M2 (đoạn đảo), M3 (đoạn nắp) và M4 (đoạn vỏ/tận cùng).
  4. Động mạch não sau (PCA): Phân chia theo Bradac, Huber và Párraga: P1 (đoạn trước thông), P2 (đoạn quanh não giữa, gồm P2 trước và P2 sau), P3 (đoạn bề mặt củ não sinh tư) và P4 (đoạn tận trong rãnh đỉnh - chẩm và rãnh cựa).
  5. Định nghĩa các dạng biến đổi:
    • Bất sản (Agenesis/Aplasia): Không quan sát thấy đoạn mạch trên hình ảnh sau khi đã xử lý tái tạo.
    • Giảm sản (Hypoplasia): Đoạn mạch có đường kính lòng mạch nhỏ hơn giới hạn sinh lý quy ước.
    • Hai thân mạch (Duplications): Hai nhánh mạch tách rời nhau từ nguyên ủy và không hợp lưu ở ngoại vi.
    • Cửa sổ mạch (Fenestrations): Lòng mạch chia đôi thành hai nhánh riêng biệt có lớp nội mô và cơ riêng rồi hợp lại làm một.
    • Động mạch não sau có nguồn gốc phôi thai (Fetal PCA): Động mạch não sau nhận nguồn cấp máu chủ yếu từ động mạch cảnh trong qua động mạch thông sau, đoạn P1 teo nhỏ hoặc bất sản.

Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

  • Thiết kế: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập số liệu hồi cứu.
  • Địa điểm: Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Hữu Nghị.
  • Thời gian: Thu thập dữ liệu các ca chụp từ tháng 7/2017 đến tháng 12/2018.
  • Cỡ mẫu: Tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể: $$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{p(1-p)}{d^2}$$ Với $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), chọn $p = 0,7843$ (tỷ lệ biến đổi vòng động mạch não theo Hoàng Minh Tú) và sai số tuyệt đối $d = 0,05$. Cỡ mẫu lý thuyết tính được là $n = 260,22$. Tác giả thu thập thực tế 261 file ảnh của 261 đối tượng thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn:
    • File ảnh chụp CLVT mạch não có chất lượng rõ nét, đầy đủ thông tin hành chính (tên, tuổi, giới tính, mã y tế, ngày thực hiện).
    • Được bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh xác định không có tổn thương tắc, vỡ, xuất huyết dưới nhện hoặc dị dạng bẩm sinh làm biến dạng giải phẫu.
    • Nếu có tổn thương hẹp lòng mạch thì mức độ hẹp phải $< 50%$ đường kính và không ảnh hưởng lưu lượng dòng chảy xa.
    • Không có túi phình mạch não, không có can thiệp đặt dụng cụ nội mạch và không bị khối chèn ép, đè đẩy từ bên ngoài.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn nêu trên.

Phương tiện và quy trình kỹ thuật

  • Thiết bị: Hệ thống máy chụp cắt lớp vi tính 256 dãy Revolution CT của hãng GE Healthcare (Hoa Kỳ), kèm theo máy bơm tiêm điện chuyên dụng và trạm xử lý hình ảnh (Workstation).
  • Quy trình chụp: Tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch nồng độ Iod $300 - 400\text{ mg/ml}$, liều lượng $1 - 1,5\text{ ml/kg}$ thể trọng, tốc độ tiêm $3 - 5\text{ ml/s}$ (tổng liều $60 - 100\text{ ml}$) qua tĩnh mạch ngoại vi lớn. Áp dụng kỹ thuật kích hoạt quét tự động kiểu Bolus Tracking khi thuốc cản quang đạt nồng độ tối ưu tại động mạch cảnh trong; trường quét liên tục từ đốt sống cổ C1 đến đỉnh đầu; bề dày lát cắt $0,5\text{ mm}$ và $1,25\text{ mm}$, tái tạo hình ảnh lát mỏng $0,6\text{ mm}$.
  • Kỹ thuật xử lý sau chụp:
    • MIP (Maximum Intensity Projection): Chiếu đậm độ tối đa, giúp đánh giá tổng quan trục mạch và đo góc mạch.
    • MVR (Multiplanar Volume Reformat): Tái tạo thể tích đa mặt phẳng.
    • CR (Curved Reformat): Tái tạo theo đường cong, bộc lộ các đoạn mạch uốn lượn như động mạch cảnh trong đoạn đá, đoạn xoang hang và động mạch đốt sống.
    • VR (Volume Rendering): Xử lý thể tích không gian 3 chiều, xóa xương và bộc lộ giải phẫu hệ mạch não ở mọi góc nhìn.
Phương tiện / Thông số Quy chuẩn thực hiện trong luận án
Thiết bị chụp Máy CLVT 256 dãy Revolution (GE Healthcare)
Thuốc cản quang Iod $300 - 400\text{ mg/ml}$, liều $1 - 1,5\text{ ml/kg}$, tốc độ $3 - 5\text{ ml/s}$
Phạm vi chụp Quét tự động từ mức đốt sống C1 đến hết vòm sọ
Độ dày lát cắt tái tạo Lát cắt gốc $0,5 - 1,25\text{ mm}$, tái tạo $0,6\text{ mm}$
Các kỹ thuật dựng hình MIP, VR, CR, MVR, SSD
Đối tượng nghiên cứu 261 bộ file ảnh chụp thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 trình bày hệ thống hóa cơ sở giải phẫu học và chẩn đoán hình ảnh:

  • Giải phẫu hệ động mạch cảnh trong: Chi tiết nguyên ủy, đường đi, phân đoạn C1–C7 theo Bouthillier, các nhánh bên (động mạch mắt, động mạch thông sau, động mạch mạch mạc trước) và hai nhánh tận (động mạch não trước, động mạch não giữa). Chi tiết các phân đoạn A1–A4, M1–M4 và các nhánh vỏ não.
  • Giải phẫu hệ động mạch dưới đòn (sống - nền): Đường đi của động mạch đốt sống từ lỗ mỏm ngang đốt sống cổ lên qua lỗ lớn xương chẩm, tạo thành động mạch thân nền tại rãnh trước cầu não; các nhánh động mạch tiểu não dưới sau (PICA), động mạch tiểu não dưới trước (AICA), động mạch tiểu não trên (SCA) và động mạch não sau (PCA) với các phân đoạn P1–P4.
  • Cấu trúc và chức năng vòng động mạch não (Willis): Mối liên kết tuần hoàn trước - sau và vai trò bù trừ huyết động học khi xảy ra tắc nghẽn cục bộ.
  • Các biến đổi giải phẫu: Tổng hợp các dạng bất sản, giảm sản, cửa sổ mạch, hai thân mạch, động mạch não trước đơn độc (azygos), ba thân A2, tách nhánh sớm của M1, động mạch não giữa phụ, túi phễu động mạch thông sau và bất thường động mạch cảnh trong.
  • Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh mạch máu: Đánh giá ưu nhược điểm của DSA, MRA, CLVT 64, 128 dãy và phân tích các thông số kỹ thuật của hệ thống CLVT 256 dãy (tốc độ quay 0,28 giây/vòng, trường quét 16 cm/vòng, giảm 82% liều xạ).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp học thực nghiệm:

  • Tiêu chuẩn mẫu và quy trình thu thập: 261 file ảnh chụp CLVT 256 dãy tại Bệnh viện Hữu Nghị, quy trình xử lý ảnh trên máy tính trạm chuyên dụng.
  • Quy trình đo đạc và biến số nghiên cứu:
    • Đánh giá khả năng hiện ảnh (thấy rõ / mờ / không thấy) của từng nhánh mạch thuộc hệ cảnh trong và hệ sống - nền.
    • Đo đường kính trung bình (ĐKTB, đơn vị mm) và chiều dài trung bình (CDTB, đơn vị mm) của các đoạn mạch: ĐM cảnh trong, A1, A2, A3, M1, M2 trên, M2 dưới, ĐM đốt sống, ĐM thân nền, P1, P2, P3, ĐM thông trước, ĐM thông sau, PICA, AICA, SCA.
    • Đo số đo các góc hợp mạch: góc động mạch cảnh trong - cảnh ngoài, góc gối trước - gối sau động mạch cảnh trong, góc giữa hai động mạch đốt sống, góc giữa động mạch thân nền và động mạch não sau, góc A2 - viền trai.
    • Phân tích mối tương quan giữa kích thước, số đo góc với biến số tuổi và giới tính.
    • Nhận diện và thống kê các biến đổi kích thước, biến đổi hình thái và các dạng biến đổi vòng động mạch não (phân loại đơn biến và đa biến).
  • Khống chế sai số và đạo đức nghiên cứu: Thống nhất tiêu chuẩn đo đạc trên phần mềm chuyên dụng của GE, bảo mật tuyệt đối thông tin bệnh nhân, nghiên cứu được hội đồng thông qua.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu định lượng qua hệ thống 21 bảng số liệu và 9 biểu đồ:

  • Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu: Phân bố 261 đối tượng theo nhóm tuổi và giới tính (Bảng 3.1, Bảng 3.2, Biểu đồ 3.1).
  • Nguyên ủy và tỷ lệ hiện ảnh: Thống kê tỷ lệ xuất phát của các nhánh mạch não chính và các động mạch tiểu não (PICA, AICA, SCA) (Bảng 3.3, Biểu đồ 3.2); xác định tỷ lệ hiện ảnh rõ nét của các nhánh thuộc hệ cảnh trong (A1, A2, A3, M1, M2, ĐM thông trước) và hệ sống - nền (ĐM đốt sống, ĐM thân nền, P1, P2, P3, SCA, AICA, PICA) (Biểu đồ 3.3, Biểu đồ 3.4).
  • Kích thước các động mạch não:
    • Bảng số liệu chi tiết đường kính trung bình (ĐKTB) và chiều dài trung bình (CDTB) của các đoạn mạch hệ cảnh trong (Bảng 3.4, Bảng 3.5) và hệ sống - nền (Bảng 3.6, Bảng 3.7).
    • Phân tích tương quan kích thước mạch máu theo giới tính nam/nữ (Bảng 3.8, Bảng 3.9) và theo các nhóm tuổi (Bảng 3.10, Bảng 3.11).
    • Thống kê các số đo góc giải phẫu và mối tương quan với giới tính, độ tuổi (Bảng 3.12, Bảng 3.13).
  • Biến đổi giải phẫu:
    • Tỷ lệ biến đổi kích thước (bất sản, giảm sản) ở hệ cảnh trong và hệ sống - nền (Bảng 3.14, Bảng 3.15, Biểu đồ 3.5, Biểu đồ 3.6).
    • Tỷ lệ biến đổi hình thái (cửa sổ mạch, hai thân, ba thân, nhánh sớm, động mạch phụ) theo giới và nhóm tuổi (Bảng 3.16, Bảng 3.17, Bảng 3.18, Bảng 3.19).
    • Biến đổi vòng động mạch não: Xác định tỷ lệ vòng mạch bình thường và biến đổi (Biểu đồ 3.7, Biểu đồ 3.8); phân loại chi tiết các dạng biến đổi đơn biến (Bảng 3.20) và các dạng biến đổi đa biến phức tạp (Bảng 3.21, Biểu đồ 3.9).
Nhóm biến số giải phẫu Danh mục các chỉ số được khảo sát trong luận án
Khả năng hiện ảnh Tỷ lệ hiện ảnh các đoạn mạch hệ cảnh trong (A1–A3, M1–M2) và hệ sống - nền (đốt sống, thân nền, P1–P3, PICA, AICA, SCA)
Kích thước hình thái Đường kính trung bình (ĐKTB), chiều dài trung bình (CDTB) từng phân đoạn mạch
Góc hợp mạch Góc cảnh trong - cảnh ngoài, góc hai ĐM đốt sống, góc ĐM thân nền - não sau, góc A2 - viền trai, các góc uốn gối ICA
Biến đổi kích thước Tỷ lệ bất sản, giảm sản các động mạch thông trước, thông sau, đoạn A1, đoạn P1
Biến đổi cấu trúc Cửa sổ mạch (fenestration), hai thân mạch (duplication), 3 thân A2, ĐM não trước đơn độc (azygos), tách nhánh sớm M1, ĐM não sau gốc phôi thai
Vòng động mạch não Tỷ lệ vòng Willis hoàn chỉnh, tỷ lệ biến đổi đơn biến và đa biến

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • So sánh tỷ lệ hiện ảnh và kích thước các đoạn mạch đo trên CLVT 256 dãy với kết quả phẫu tích xác của Hoàng Văn Cúc, kết quả CLVT 64 dãy của Hoàng Minh Tú, Hamidi và CLVT 128 dãy của Phạm Thu Hà, Kim.
  • Bàn luận về tính ưu việt của kỹ thuật tái tạo thể tích 3D (VR) và tạo hình đường cong (CR) trong việc bộc lộ các đoạn mạch nằm sâu, các nhánh mạch xa (A3, M2, P3) mà các thế hệ máy trước gặp khó khăn.
  • Phân tích ý nghĩa lâm sàng của các biến thể giải phẫu: nguy cơ tạo túi phình tại các vị trí cửa sổ mạch, hai thân mạch hoặc ngã ba phân nhánh; nguy cơ thiếu máu cục bộ diện rộng khi xảy ra tắc mạch ở người có động mạch não trước đơn độc hoặc động mạch não sau nguồn gốc phôi thai; các lưu ý an toàn cho phẫu thuật viên thần kinh và can thiệp mạch nội sọ khi tiếp cận các biến thể giải phẫu này.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Cung cấp bộ dữ liệu có hệ thống về các chỉ số giải phẫu hình thái học (tỷ lệ hiện ảnh, đường kính trung bình, chiều dài trung bình, số đo các góc hợp mạch) của cây động mạch não người Việt Nam trưởng thành trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính 256 dãy.
  • Bổ sung các số liệu giải phẫu chi tiết ở các phân đoạn mạch nằm xa nguyên ủy (đoạn A3 của động mạch não trước, các nhánh M2 trên và dưới của động mạch não giữa, đoạn P3 của động mạch não sau) và các nhánh động mạch tiểu não (PICA, AICA, SCA) mà các nghiên cứu trước đây trong nước chưa khảo sát đầy đủ.
  • Xác lập phân loại chi tiết các biến đổi giải phẫu động mạch não theo hai nhóm: biến đổi đơn biến và biến đổi đa biến, làm sáng tỏ mức độ đa dạng về hình thái của vòng động mạch não trên người Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng lâm sàng

  • Khẳng định giá trị thực tiễn của kỹ thuật chụp CLVT 256 dãy và các thuật toán tái tạo không gian 3 chiều (VR, MIP, CR) trong việc khảo sát chi tiết cấu trúc mạch máu não, hỗ trợ hiệu quả cho công tác chẩn đoán không xâm lấn.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu giải phẫu định lượng tham chiếu cho các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, phẫu thuật viên thần kinh và can thiệp mạch máu não trong việc đánh giá tổn thương, lập kế hoạch phẫu thuật, lựa chọn kích thước dụng cụ can thiệp nội mạch (stent, coil) và dự phòng các tai biến mạch máu trong quá trình phẫu thuật vùng nền sọ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm đơn lẻ (Bệnh viện Hữu Nghị) trên cỡ mẫu 261 đối tượng theo phương pháp hồi cứu.
    • Tiêu chuẩn chọn mẫu loại trừ các trường hợp có tổn thương bệnh lý mạch não nặng, phình mạch lớn hoặc hẹp $> 50%$ đường kính lòng mạch, do đó chưa khảo sát trực tiếp đặc điểm giải phẫu mạch não trên các nhóm bệnh lý mạch máu chuyên biệt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn để bao quát đầy đủ hơn các biến đổi giải phẫu cực kỳ hiếm gặp của mạch máu não.
    • Ứng dụng CLVT 256 dãy khảo sát sâu trên các nhóm đối tượng bệnh lý cụ thể như phình mạch não nội sọ, dị dạng động tĩnh mạch não (AVM), hẹp tắc mạch máu não do xơ vữa để phân tích mối tương quan bệnh căn học giữa biến đổi giải phẫu và bệnh lý mạch máu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng trong ngành y học:

  • Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Giải phẫu người: Bổ sung tư liệu giảng dạy thực nghiệm, cung cấp các số đo hình thái học chuẩn xác của hệ mạch não trên người sống thông qua chẩn đoán hình ảnh.
  • Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Cung cấp quy trình kỹ thuật chụp, thông số tái tạo ảnh (MIP, VR, CR) và bảng phân loại các biến thể giải phẫu nhằm tránh nhầm lẫn giữa biến thể bẩm sinh (như túi phễu động mạch thông sau, cửa sổ mạch) với các thương tổn bệnh lý (như phình mạch não thực sự).
  • Phẫu thuật viên Thần kinh và Bác sĩ Can thiệp mạch: Cung cấp thông số kích thước mạch, khoảng cách phân nhánh và số đo các góc hợp mạch phục vụ trực tiếp cho việc định hướng đường mổ nền sọ và thao tác đưa ống thông can thiệp nội mạch an toàn.

Câu hỏi thường gặp

1. Kỹ thuật chụp CLVT 256 dãy có những ưu thế kỹ thuật gì nổi bật so với các thế hệ máy trước trong khảo sát mạch não?

Theo tổng quan luận án, máy CLVT 256 dãy Revolution (hãng GE) có thời gian quay bóng nhanh (0,28 giây/vòng), bề rộng trường quét đạt 16 cm/vòng cho phép bao phủ toàn bộ thể tích sọ não trong thời gian rất ngắn, chất lượng hình ảnh phân giải cao, lát cắt mỏng ($0,6\text{ mm}$) và giảm tới 82% liều tia xạ so với các thế hệ máy trước.

2. Tiêu chuẩn lựa chọn dữ liệu file ảnh đưa vào nghiên cứu của tác giả là gì?

Các file ảnh được chọn phải có thông số hành chính rõ ràng; được bác sĩ chẩn đoán hình ảnh xác định không có tổn thương vỡ mạch, nhồi máu, dị dạng bẩm sinh hay xuất huyết dưới nhện làm sai lệch giải phẫu; nếu có hẹp mạch thì mức độ hẹp phải $< 50%$ đường kính lòng mạch; không có túi phình mạch não, không mang dụng cụ can thiệp nội mạch và không bị khối choán chỗ xung quanh đè đẩy.

3. Những kỹ thuật tái tạo hình ảnh nào được tác giả ứng dụng để đo đạc và khảo sát giải phẫu mạch não?

Nghiên cứu sử dụng 5 kỹ thuật tái tạo chính:

  • Chiếu đậm độ tối đa (MIP).
  • Dựng hình thể tích đa mặt phẳng (MVR).
  • Tạo hình theo đường cong (CR).
  • Hiển thị bề mặt (SSD).
  • Xử lý thể tích không gian ba chiều (VR).

4. Các biến đổi giải phẫu chính của động mạch não được tác giả phân loại như thế nào?

Biến đổi giải phẫu được chia thành:

  • Biến đổi về kích thước: Bất sản (không thấy đoạn mạch trên ảnh tái tạo) và giảm sản (lòng mạch teo nhỏ bất thường).
  • Biến đổi về hình thái: Hai thân mạch (duplications), cửa sổ mạch (fenestrations), động mạch não trước đơn độc (azygos), ba thân A2, tách nhánh sớm của đoạn M1, động mạch não sau nguồn gốc phôi thai.
  • Biến đổi vòng động mạch não: Phân chia thành biến đổi đơn biến (chỉ biến đổi tại 1 vị trí) và biến đổi đa biến (phối hợp nhiều biến đổi đồng thời trên vòng Willis).

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Tuấn Sơn là công trình nghiên cứu hình thái học giải phẫu ứng dụng công nghệ chụp cắt lớp vi tính 256 dãy trên 261 đối tượng người Việt Nam trưởng thành tại Bệnh viện Hữu Nghị. Công trình đã cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về tỷ lệ hiện ảnh, kích thước các phân đoạn mạch từ trung tâm đến ngoại vi và các góc hợp mạch của hệ động mạch não. Đồng thời, luận án đã phân loại toàn diện các dạng biến thể kích thước, hình thái của cây mạch não và vòng Willis, mang lại nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho công tác đào tạo y khoa, chẩn đoán hình ảnh và thực hành phẫu thuật thần kinh - can thiệp mạch.