Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn lịch sử từ năm 1883 đến năm 1885 kéo dài khoảng 24 tháng nhưng chứa đựng những biến động chính trị gay gắt bậc nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam. Sau khi vua Tự Đức băng hà vào ngày 19 tháng 7 năm 1883, triều đình Huế đã trải qua 4 đời vua liên tiếp gồm Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Hàm Nghi cùng sự xác lập của 2 văn bản bảo hộ gồm Hiệp ước Quý Mùi năm 1883 với 27 điều khoản và Hiệp ước Giáp Thân năm 1884 với 19 điều khoản. Đề tài tập trung giải quyết vấn đề nhận thức chưa đầy đủ, thiếu chuẩn xác về các sự kiện cung đình, sự phân hóa giữa phái Chủ chiến và phái Chủ hòa, cũng như vai trò thực sự của các nhân vật chủ chốt.

Mục tiêu cụ thể của công trình là giải mã và chú giải 1018 câu thơ lục bát của tác phẩm Hạnh Thục ca do bà Lễ Tần Nguyễn Nhược Thị Bích sáng tác, kết hợp đối chiếu với bộ chính sử Đại Nam Thực Lục của Quốc sử quán triều Nguyễn. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát trọng tâm tại Kinh thành Huế, cửa biển Thuận An và căn cứ Tân Sở tại tỉnh Quảng Trị trong biên độ thời gian từ năm 1883 đến khi vua Đồng Khánh lên ngôi năm 1885. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa học thuật to lớn khi nâng tỷ lệ xác thực của các tình tiết lịch sử cung đình lên hơn 90%, bác bỏ những định kiến sai lệch kéo dài hơn 100 năm qua các tác phẩm truyền khẩu dân gian.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp nguyên tắc lịch sử cụ thể nhằm phân tích các hiện tượng chính trị trong mối liên hệ hữu cơ với bối cảnh xã hội nửa phong kiến nửa thuộc địa. Đồng thời, nghiên cứu ứng dụng lý thuyết phê phán và giám định sử liệu văn học để khai thác giá trị chứng cứ từ thi ca cổ điển.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được xây dựng xoay quanh 4 thuật ngữ chính: phái Chủ chiến đại diện bởi Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, phái Chủ hòa với tư tưởng thỏa hiệp, chế độ bảo hộ của thực dân Pháp và phong trào Cần Vương cứu nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thiết lập trên cỡ mẫu toàn diện gồm trọn vẹn 1018 câu thơ chữ Nôm của tác phẩm Hạnh Thục ca, đồng thời khảo cứu chọn mẫu mục tiêu đối với 12 đầu sách chính sử và chuyên khảo tiêu biểu như Đại Nam Thực Lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Việt Nam sử lược. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích văn bản học kết hợp đối chiếu lịch sử là bởi Hạnh Thục ca được viết bởi một nhân chứng trực tiếp trong hoàng cung, người từng giữ cương vị Bí thư cho Thái hậu Từ Dũ và dạy học cho 2 vị hoàng tử suốt hơn 30 năm.

Quá trình nghiên cứu được triển khai liên tục trong chu kỳ 4 năm từ 1996 đến năm 2000 qua 3 giai đoạn: phân loại hệ thống thông tin sự kiện, đối sánh đa nguồn sử liệu và tổng hợp luận giải khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn làm sáng tỏ nguyên nhân qua đời của vua Kiến Phúc vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân, tức ngày 31 tháng 7 năm 1884 sau 6 tháng trị vì. Dữ liệu từ Hạnh Thục ca và Đại Nam Thực Lục xác nhận vua mất do bạo bệnh dù đã được triều đình cầu đảo 2 lần, hoàn toàn phủ định giả thuyết đầu độc vô căn cứ trong các dị bản dân gian.

Thứ hai, việc phế lập các vị vua Dục Đức và Hiệp Hòa phản ánh cuộc đấu tranh sinh tử giữa đường lối kháng chiến và xu hướng đầu hàng Pháp. Việc phế truất Dục Đức bắt nguồn từ việc vi phạm sửa đổi di chiếu và thái độ bất tuân quy chế hoàng gia, thay vì hành vi lộng quyền cá nhân của 2 vị phụ chính đại thần.

Thứ ba, biến cố Kinh đô thất thủ đêm ngày 4 rạng sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885 là một hành động quân sự mang tính chủ động của phái Chủ chiến trước áp lực tối hậu thư ngang ngược từ tướng De Courcy gửi ngày 2 tháng 7 năm 1885.

Thứ tư, vai trò của Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường được phục hồi khách quan: việc ông ở lại Huế sau biến cố xuất phát từ mệnh lệnh của Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ nhằm trì hoãn áp lực ngoại giao, trước khi ông bị thực dân Pháp bắt giam sau 2 tháng và lưu đày đến đảo Tahiti vào cuối năm 1885.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến những hiểu lầm lịch sử trước đây bắt nguồn từ việc các nhà nghiên cứu tiền bối tiếp cận nguồn tư liệu văn học dân gian thiếu kiểm chứng hoặc chịu ảnh hưởng từ góc nhìn bảo hộ của Pháp. Các dữ liệu so sánh có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua một bảng đối chiếu chi tiết giữa Hạnh Thục ca và Đại Nam Thực Lục theo từng mốc thời gian, kết hợp biểu đồ tiến trình biến thiên quyền lực triều Nguyễn từ năm 1883 đến năm 1885. Phát hiện của luận văn tương thích với các kết luận tại 2 hội thảo khoa học lớn do Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 1991 và Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 1996.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các viện nghiên cứu lịch sử tiến hành số hóa 100% kho tàng văn học ký sự lịch sử chữ Nôm, đặc biệt là các tác phẩm của các tác giả hoàng tộc, hoàn thành trong vòng 24 tháng tới nhằm tạo nguồn tài nguyên mở cho giới học thuật.

Thứ hai, Hội đồng thẩm định sách giáo khoa quốc gia cần rà soát và hiệu đính các nội dung giảng dạy lịch sử giai đoạn 1883-1885 ở bậc trung học trong thời hạn 12 tháng, bảo đảm phản ánh công bằng vai trò của phái Chủ chiến và làm rõ hoàn cảnh lịch sử của vua Kiến Phúc và đại thần Nguyễn Văn Tường.

Thứ ba, Viện Sử học chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu đối chiếu chéo giữa 31 tỉnh thành hành chính thời Nguyễn và các kho lưu trữ tại Pháp, thiết lập hệ thống định danh sự kiện đạt độ chuẩn xác trên 95% trước năm 2028.

Thứ tư, các trường đại học sư phạm trên toàn quốc đẩy mạnh tổ chức hội thảo khoa học định kỳ 2 năm một lần về phương pháp giám định văn bản lịch sử qua thi ca, nâng cao năng lực nghiên cứu tư liệu cổ cho hơn 1000 sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà nghiên cứu và giảng viên lịch sử cận đại, những người cần nguồn đối chiếu sử liệu gốc có độ tin cậy cao từ 1018 câu thơ Nôm để phục vụ các công trình chuyên khảo.

Nhóm thứ hai là giáo viên giảng dạy môn Lịch sử tại các trường trung học phổ thông, giúp bổ sung tư liệu chuyên sâu và góc nhìn khách quan khi phân tích bài giảng về phong trào Cần Vương từ năm 1885 đến năm 1896.

Nhóm thứ ba là sinh viên và học viên cao học ngành Hán Nôm và Văn học cổ điển, có thể ứng dụng phương pháp giải mã văn bản ký sự lịch sử của luận văn làm mô hình tham chiếu cho hơn 20 tác phẩm cùng thời.

Nhóm thứ tư là các nhà biên kịch, đạo diễn và tác giả tiểu thuyết lịch sử, giúp xây dựng kịch bản tái hiện chân thực hơn 10 nhân vật trọng yếu của triều đình Huế cuối thế kỷ XIX.

Câu hỏi thường gặp

Tác phẩm Hạnh Thục ca có độ tin cậy lịch sử như thế nào? Tác phẩm sở hữu độ tin cậy đặc biệt cao vì tác giả Nguyễn Nhược Thị Bích sinh năm 1830 và mất năm 1909, là người hầu cận bên cạnh Thái hậu Từ Dũ suốt hơn 35 năm. Tác giả trực tiếp chứng kiến hầu hết các biến cố cung đình trong suốt giai đoạn 1883-1885 và ghi chép chân thực tâm tư hoàng tộc qua 1018 câu lục bát.

Vua Kiến Phúc có thực sự bị Nguyễn Văn Tường đầu độc không? Hoàn toàn không có bằng chứng xác thực. Luận văn đã đối chiếu Hạnh Thục ca cùng Đại Nam Thực Lục để chỉ ra rằng vua Kiến Phúc qua đời vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân do mắc bạo bệnh kéo dài suốt 6 tháng trị vì, các chi tiết đầu độc chỉ xuất hiện trong những suy đoán thiếu căn cứ của thơ vè dân gian.

Tại sao Nguyễn Văn Tường không đi theo xa giá vua Hàm Nghi ra căn cứ Tân Sở? Theo ghi chép của Hạnh Thục ca và sử liệu triều Nguyễn, Nguyễn Văn Tường ở lại Kinh thành Huế theo ý chỉ của Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ để thương thuyết, hòa hoãn với quân Pháp nhằm bảo toàn tông thất. Sau đó ông bị tướng Pháp bắt giữ và chịu án lưu đày đến đảo Tahiti vào cuối năm 1885.

Nguyên nhân trực tiếp nào dẫn đến cuộc tấn công đêm ngày 4 tháng 7 năm 1885? Nguyên nhân trực tiếp là thái độ khiêu khích và đòi hỏi ngang ngược của Thống tướng De Courcy khi đến Huế vào ngày 2 tháng 7 năm 1885, yêu cầu đi cửa chính Ngọ Môn và mưu toan bắt giữ Tôn Thất Thuyết. Tình thế đó buộc phái Chủ chiến phải chủ động ra tay trước để tạo ưu thế đàm phán.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp thi ca đem lại lợi thế gì? Phương pháp này mở rộng nguồn sử liệu vượt ra khỏi giới hạn của chính sử cung đình, giúp kiểm chứng tâm lý xã hội và những chi tiết nội cung kín đáo. Qua đó, nhà nghiên cứu có thể phục dựng bức tranh lịch sử đa chiều với độ chính xác đạt trên 90%.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc giải mã và chú thích lịch sử toàn diện cho 1018 câu thơ Nôm của kiệt tác ký sự Hạnh Thục ca.
  • Công trình đóng góp luận cứ khoa học vững chắc giúp đính chính những sai lệch về nguyên nhân cái chết của vua Kiến Phúc và hành trạng của Nguyễn Văn Tường trong giai đoạn 1883-1885.
  • Nghiên cứu phục dựng trung thực bối cảnh bi tráng của triều đình Huế trước họa xâm lăng của thực dân Pháp qua 4 đời vua liên tiếp.
  • Mô hình phân tích liên ngành giữa văn học và sử học mở ra phương pháp tiếp cận mới cho hơn 12 công trình nghiên cứu sử liệu cổ giai đoạn cận đại.
  • Kế hoạch tiếp theo cần tập trung mở rộng số hóa và đối chiếu tư liệu lưu trữ hải ngoại trong lộ trình 24 tháng tới nhằm hoàn thiện bức tranh lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX. Quý độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy khai thác toàn văn công trình để có cái nhìn sâu sắc và công tâm nhất về lịch sử nước nhà.