CHƯƠNG I GIGI THIEU TAC PHAM HANH THUC CA 1. TIỂU SU TÁC GIA Tac giả của “Hanh Thục ca" là Nguyễn Nhược Thi Bich, tự Lang Hoàn, con gái quan Bố chính Nguyễn Nhược Sâm, sinh năm Canh Dan (1830), quê huyện An Phước, đạo Ninh 'Phuận nay là huyện An Phước,tỉnh Ninh Thuan, Bà nổi tiếng giỏi thơ văn. Năm Kỷ Dậu (1849), ‘Tu Đức năm thứ 2, bà được tuyển vào cung lúc mới 19 tuổi, dự hàng 'Tài Nhân rồi Quy Nhân, Sau đó ba được cử làm Bi thư hầu Từ Dũ “Phái hậu - mẹ vun Tự Đức. Vua Tự Đức rất có hiếu với me.
Suốt hơn 35 năm trị vì, ông dã dịnh lệ cứ cách một ngày lại vào cung Dién ‘The lầu mẹ, trình thu tất cả các việc trong nước vừa mới xảy ra, Với vai trò là Bí thư riêng của Thái hậu Từ Dũ, bà Nguyễn Nhược Thị Bích biết được rất nhiều những sự kiện quan trọng của quốc gia và của cung đình dưới triều Tự Đức và các triều kế tiếp. Từ năm Mậu Thìn (1868), Tự Đức nim thứ 21, bà kiêm nhiệm chức Tiệp Dư để day hai hoàng tử Chánh Mông Ung K9(sau là vua Đồng Khánh) và Dưỡng Thiện Ưng Đăng (sau là vua Kiến Phúc). Trong cung vì thế bà còn được gọi là Tiệp Dư phu tử. Năm Nhâm Thìn (1892), Thành Thái năm thứ 3, bà được tấn phong là ‘Tam giai Lễ Tần.
Năm Kỷ Dậu (1909), Duy Tân năm thứ 3, bà mất thọ 79 tuổi, Nguyễn Nhược Thi Bích là người được tin cẩn, giữ chức bí thu riêng của bà Từ Dũ nên bà luôn luôn có mặt bên cạnh Thái hậu Tit DA để hầu việc ghi chép. Đồng thời bà là thầy dạy học của hoàng tử Chánh Mông sau là vua Đồng Khánh. Vì thế, lẽ tất nhiên bà phải đứng về phía triều đình Đồng Khánh. Hơn nữa, với địa vị của mốt người phụ nữ thuộc hoàng tộc, lập trường của bà là bảo vệ quyền lợi riêng của cũng đình.
Bà oán trách bất cứ ai có thể làm cho if) hoàng cũng mất yên ổn. Bà oán trách cả Pháp và cả những người mà bà xem là quyền thần. Do vậy, chúng ta cũng không ta gì khi bà thiết lên rằng: * Nỗi Tay lấn hiếp dã rồi. Ni mình lan hiếp nghi thái rất kỳ Chẳng qua gặp buổi suy vi Hoang thân quốc thích gian nguy khôn cing”.
Và cũng không lạ gì khi bà xem hai vị phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thuyết là hai kể quyền thần vì hai người chủ infing phế bỏ những ông vua thân Phái, 11. TÁC PHẨM “HẠNH THỤC CA” VA GIÁ TRI CUA NÓ VỀ PHƯƠNG DIỆN LỊCH SỬ 1. ‘Vic phẩm “Hạnh ‘Thue ca” "Hanh Thục ca" là một tác phẩm viết bằng chit Nom thee thé thơ lục bát, pồm 1018 câu ghi lại những diễn biến lịch sử quan trong của nước ta trong giai đoạn 1883-1885. Tai sao tác giả đặt tên cho tác phẩm là "Hạnh Thue ca"? Nguyên tên sách là “Loan dư Hạnh 'Thục quốc âm ca” gọi tất là "Hạnh Thue ca".
Tác giả đặt tên cho tác phẩm là "Hanh Thục ca” vì cho rằng hoàn cảnh vua Ham Nghỉ rời kinh thành ra Tân Sở tương tự hoàn cảnh vua Đường Minh Hoàng bên Trung Quốc, khi bị An Lộc Sơn đánh chiếm kinh đô, phải chạy vào đất Thục để lánh nạn. Theo nghĩa chữ Nho, khi vua đi đến đâu thì gọi là hạnh. Hạnh 'Thục là vua đi đến đất Thục. Với nội dung được ghi nhận, tác phẩm “Hanh ‘Thue ca" sẽ góp phần giúp các nhà nghiên cứu lịch sử có nhận định, đánh giá lai các sự kiện, nhân vật lịch sử trong giai đoạn này một cách khách quan hơn.
Vì như trên đã nói, tác giả "Hạnh Thục ca” là người biết khá tường lận những sự việc lịch sử xảy ra Lòng giai đoan này. Hãy nêu một vài ví dụ: - Việc vua Kiến Phúc mất: từ trước đến nay, phần lớn các tác giả của các sử sách thông sử, truyện ké lịch sit. đều cho rằng nguyên nhân vua Kiến Phúc mất là do Nguyễn Văn Tường và Ton Thất Thuyết giết vì vua có thái đô thân 1 Pháp. Nhưng sự thật thì như thế nào? Tác giả “Hanh Thục ca" phí lại việc vua Kiến Phúc mất như sau: “Nao ngờ nhiPu nỗi chẳng may.
Trị vì sâu thang bệnh ray lai mang, Hết lòng khấn vái thuấc thang. _ Gam âu số mệnh: dành khôn cải hd Nương mây phiit sứm tech vời. Năm Thân thing sdu rung rời cành vựân ” Trong sự kiện kinh đô thất thủ (5-7-1885), Phụ chính Jai thần Nguyễn Văn 'Tường không theo xa giá ra Quảng Trị mà ở lại thương thuyết với Pháp đã được tic giả "Hạnh Thue ca” phí nhận: “Thay người trước đón lên đường Gui rằng có Nguyễn Văn Tường chực đây. Phan rằng: Sự đã dường này Người tua Ở lại ngõ này vử phân Vang lời Tường mới lui chân.” Việc vua nối ngôi là Dục Đức Vag Chân bị phế là do vị tự quân này phạm phải tội sửa di chiếu hay do hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết “đổi di chiếu ”?.
Kinh đô thất thủ là do Tôn Thất Thuyết va nhóm chủ chiến đã chủ động hay là do thực dân Pháp bức bách? Những vấn đề này được tác giả "Hạnh Thục ca” ghi lại khá chỉ tiết, Dựa vào tác phẩm, những vấn đề này sẽ được đánh giá khách quan hơn. Đó chính là giá trị của tác phẩm "Hạnh Thục ca" về phương diện lịch sử. CHƯƠNG II TRÍCH ĐỌC - CHÚ THÍCH TÁC PHẨM "HẠNH THỤC CA" VỀ PHƯƠNG DIEN LICH SỬ I. GIAI DOAN TỪ KHI PHÁP XÂM LƯỢC VIỆT NAM ĐẾN KHI VUA TỰ ĐỨC MẤT (từ câu 35 đến câu 160) 35.
La thay cái nước Pháp Lan. Băng ngàn vượt biển lướt sang gidm hành. Thẳng vào Gia Định tung hoành. (1) Cay nghé tau súng pha thành như chơi.
(2) Ngăn ngừa không mặt hùng tài 40. Cát lắm thương bấy dân trời một phương. Chước hòa vậy phải tạm khoan Ghi thù sau sẽ liệu toan rửa hờn. Quyền nghi hết sức lo lường Sai quan đi sứ trăm đường tốn hao.
Cầu hòa ba tỉnh cắt giao. (3) Hãy còn ba tỉnh lẻn vào cướp không. (4) Liêu mình đốc vẹn niém trung. Nhin ăn cho chết Phan công hết lòng (5) Tóm thâu sáu nh Nam Trung -=&2 (6) 50.
Lại đòi tién bạc béi cùng nam năm. Chịu mềm chỉn đã rất căm. Lồng tham nào khác như tim ăn lên Lam cho nhọc lượng lo phién. Càng ngày càng thấy những thêm việc vàng.
Tay Tau ¥ thé doc ngang. (7) Thêm đoàn Bắc khấu quân ngoan cùng dòng. (8) Song nhờ chế biến khéo dùng. (9) Chom ong lũ kiến déu cùng quét thanh.
Vua Tau tuy có giúp bình. Lấy rồi việc cũng khoe rằng mình công. Ciiặc chưa tắt việc chưa xong. Biết bao tiền của cấp cung hao phiền.
(10) Mấy năm sau mới chút yên. ‘Tau vừa dep đăng ‘Ty liền lại gây, 05. Bắc Kỳ gấm ghé bay nay. (II) Quyết lòng trở mặt ra tay cướp vầy, (12) Thinh Noh lửa dậy đạn bay.
(13) Sa cơ trí đũng tướng ray bị thương. « (14) Trượng phu trác trac gan vàng. Liam bêu đầu giặc sá mang thuốc hay. Da đành chín suối chơi may Danh thần tiết liệt xưa nay cùng truyền, Ding công An — nghiệp tài hèn (15) Bj Lưu Vĩnh Phúc giết liền rất ưng, (16) 75, Sài lang thói dữ chút răn.
Đất thành giao lại quan quân tha về, (17) Hiểm sâu chước quỷ khôn dé. Miễn là dang của kể gì ước giao. Những người lấy đức rộng bao. Tin thành cảm mến Mọi Lao mến ân.
Vậy nên dẹp thói lung lăng Mấy mươi năm ấy dân chăng khốn nghèo Lòng tham dang ít muấn nhiều, Tới năm Nhâm Ngọ đánh liều làm hung (18) 85, Long Thành pháo lửa ding đùng. (19) Một gươm Hoàng Diệu gan trung ai bi (20) Nghìn thu để tiếng Bắc Kỳ. Lánh nan trộm sống kể chỉ những người (21) Cướp thành thu thập tiển tài 0(), Bay giờ Tây chẳng xem ai ra gì. Lại đòi bảo hộ mới kỳ.
Đám làm uy phúc khinh quá chừng. Cả triều võ tướng văn thần Nhìn nhau ng lặng biết rằng mưu chỉ. Phải lo phòng thủ cd nghỉ Gitip lành còn cậy an nguy có trời, 10 Xót thay thánh chúa lo đời, (22) Ôm lòng luống những vấn dài thở than. Nước nhiwwon việc sửa sang, LÚU, Chita lo nên bệnh thuấc thang khôn bồi Hóa thành đội đức dim dười, Ai Tà ai chẳng lay trời thương vua, Tôi con đều dạ âu lo, Hết lòng khấn vai xin cho thd trường, 10S.
Trời kia sao nỡ chẳng thương. Xe rồng vội give vân hương tếch vời, (23) Tinh thâm một phút ra rời. Cam thay Thánh mẫu bay mươi tác gid, (24) Than ôi như cắt ruột rà L ‘Tha cùng đều thác chẳng thà lòng đau. Sụt sùi huyết lệ thấm bào.
Một phen vĩnh biệt muôn thâu thim sầu. Vâng lời di chúc để sau. Việc nhà việc nước lo âu đặn dò. Ngùi hang máu, toa Đỉnh hồ.
Chúa tôi đôi ngã bảo phò lấy ai. Than ôi đất rộng trời dài. Từ đây nào biết sự đời làm sao. Xót thầm vóc ngọc tuổi cao.
Nhớ chừng thường chẳng nhang xao bi hoài. Tưởng khi dưới gối hôm mai. Rất lòng thành kính chẳng sai chẳng rời. Văn cung Thuấn mộ vẹn mười.
Những mong lọn dạo, vâng vui dài ngày. Bởi đâu vật đổi sao dời, Tac tình chẳng toại mệnh trời vậy vay Tri vì sáu sáu năm chày. Vạn cơ dư hạ chăm điều bút nghiên. Muốn cho ai cũng đều nên Đặt thành sách vở để khuyên day người.: Chin là ngâm vịnh đủ tài.
Lời châu liếng ngọc trong đời ngợi khen. 135, Rảnh thường dạo bắn pidi phiền E: dè trên những những sợ kiêng mười phần. Ngẫm nên lệnh chúa hiền quân Gap tuần bi vận gian truân khôn nai Thừa hoan dưới gối không ai. 140), Co sao riêng chịu thiệt thoi nối sau „ Nhân Cao nghĩa Tống khác đâu Gót lân vắng trổ luống sâu tu phiền Minh linh sớm phải chọn hiền, Hoàng trừ ba vị khuyên nuôi bù trì, (26) 145, Sinh nuôi nào có khác chỉ 'Fác thành đều đội rộng suy dn dày.
Lượng trên há có riêng tây. Chin lo tông xã sau này vững yên. Vậy bèn kén chọn đấng hiền (27) 150. Song mà thơ ấu chưa nên kế vì.
"Trưởng quân vốn đã có vi (28) Điều ưng vậy phải tùy nghỉ trao cùng. Mội thiên di chiếu tỏ lòng. “ Giữ sau răn trước đủ trong mấy aN 155. Nên hư là hệ bởi trời.
Ở sao cho vẹn đạo người ấy vay. Lai vì lựa kẻ chân tay (29) Đặt quan phụ chính để nay giúp phò. Mọi điều trước đặn biểu cho 160. Di lưu chẳng sót hãy lo việc đời.
/ CHÚ THÍCH (1) Gia Định: tinh Gia Định Theo Đại Nam nhất thống chí (Nguyễn Tạo dịch), Gia Định xưứa là nước Phi Nam, sau đó bị Chân Lap thôn tính poi là Thủy Chân Lap.