CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Về văn hoá Văn hoá được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, cho đến nay, chúng ta có khá nhiều quan niệm về văn hoá. Nhà nhân học xã hội người Anh Edward Bernett Tylor (1832 – 1917) là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hoá.
Theo ông, “Văn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên xã hội” [E. Với định nghĩa trên, Tylor chưa phân biệt hai phạm trù khái niệm văn hoá và văn minh. Ông chỉ định nghĩa văn hoá theo phương thức miêu tả đặc trưng. Định nghĩa hầu như chỉ đề cập đến mặt tinh thần mà chưa đề cập đến khía cạnh vật chất của văn hoá.
Nhận thấy được một số điểm cần khắc phục của loại định nghĩa theo lối liệt kê miêu tả, một số học giả đã đưa ra định nghĩa văn hoá theo hướng phân tích. Các học giả tiêu biểu cho loại định nghĩa này là L.White xem “Văn hoá là lớp vật thể và các hiện tượng phụ thuộc vào khả năng tượng trưng hoá của con người, được xem xét trong một văn cảnh”. Riêng Aroeber và Cl. Kluckhonhn thì cho rằng “Văn hoá bao gồm những chuẩn mực, nằm ở bên trong lẫn biểu lộ ra bên ngoài, xác định hành vi ứng xử được tập nhiễm nhờ các biểu tượng; văn hoá xuất hiện nhờ hoạt động của con người trong khi đưa sự biểu hiện của nó vào các phương tiện (vật chất).
Hạt nhân cơ bản của văn hoá gồm các tư tưởng truyền thống (được hình thành trong lịch sử), đầu tiên là những tư tưởng có giá trị đặc biệt. Hệ thống văn hoá 14 có thể được xem xét, một mặt như là kết quả của hoạt động người, mặt khác như là những sự điều chỉnh những hoạt động đó” [Dẫn theo A. Có thể nói, các định nghĩa trên đã góp phần định hướng cho giới nghiên cứu văn hoá học về sau. Ta thấy, sau định nghĩa của Tylor, A.
White, bắt đầu xuất hiện rất nhiều định nghĩa về văn hoá thuộc các trường phái khác nhau. Nhưng nhìn chung, cũng như các học giả nói trên, các học giả về sau vẫn chưa đưa ra định nghĩa mang tính toàn diện về văn hoá. Hầu hết các định nghĩa chỉ nhấn mạnh đến một trong những thành tố của văn hoá. Do đó, việc lý giải các hiện tượng văn hoá vì thế không bao quát được quy luật phát triển và tồn tại của nó.
Tiêu biểu ta có định nghĩa của B. Đây là định nghĩa dựa trên những thuộc tính ổn định của văn hoá. Nó nhấn mạnh đến tính lịch sử của văn hoá. Ngược lại với B.
Wissler định nghĩa văn hoá thiên về những chuẩn mực văn hoá, ông quan tâm đến tính giá trị và sự khác biệt ở mỗi nền văn hoá nhưng lại không chú trọng đến tính lịch sử của nó. Ông cho rằng: “Lối sống mà một công xã hay bộ lạc tuân thủ được gọi là văn hoá” [Dẫn theo Mai Văn Hai 2003: tr. Bên cạnh đó, một số học giả quan tâm đến tâm lý học dân tộc, họ đã dựa vào cơ sở tâm lý con người để lý giải các hiện tượng văn hoá trên thế giới. Với loại định nghĩa này, các học giả đã bỏ qua những điều kiện địa lý, môi trường sống tác động lên con người.
Họ quan niệm “Nhờ sự thống nhất về nguồn gốc và phương diện cư trú các cá thể của một dân tộc đều mang dấu vết thuộc bản chất đặc biệt của dân tộc ấy, thể hiện trên thân thể và tâm hồn của họ, tại đây tác động của những ảnh hưởng cơ thể lên tâm hồn đã gây ra thiên tư sắc sảo, xu hướng, tố chất, các thuộc tính tinh thần, thường là như nhau ở mọi cá thể, do đó mọi người đều sở hữu một tinh thần dân tộc. Tinh thần dân tộc được quan niệm như là sự giống nhau về tâm lý giữa những cá thể, cùng sở thuộc vào một dân tộc và đồng thời nó biểu hiện như là sự tự ý thức của họ” [Dẫn theo A. Dựa vào cơ sở đó, những nhà nghiên cứu 15 theo trường phái này định nghĩa văn hoá như sau: “Văn hoá như là thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ tự nhiên và xã hội và như là vai trò của con người trong vũ trụ ấy” [Victor C. Khác với các học giả theo trường phái tâm lý học, nhà xã hội học J.
Fichter quan niệm “Văn hoá là hình thái toàn diện của hệ thống thể chế (chính trị, kinh tế, gia đình, giáo dục, tín tưởng và giải trí) mà con người có cùng chung trong xã hội” [J. Trong định nghĩa này, J. Fichter đặc biệt quan tâm đến cấu trúc xã hội của văn hoá. Tuy nhiên, việc quan tâm đến cấu trúc xã hội văn hoá sẽ dễ dàng bỏ qua những yếu tố đặc trưng của văn hoá.
Bởi nghiên cứu văn hóa dưới góc độ xã hội có nghĩa là nghiên cứu sự phát triển của văn hoá như một mảng hoạt động trong đời sống xã hội. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu dựa trên tính lịch sử, tính giá trị, nguồn gốc, tâm lý,…hình thành nên nền văn hoá của mỗi dân tộc. Mỗi định nghĩa thể hiện cho một tiêu chí nghiên cứu của mỗi ngành khoa học khác nhau. Trước sự đa dạng về định nghĩa văn hoá, nhằm tạo sự thống nhất trong nghiên cứu, UNESSCO đã đưa ra định nghĩa mang tính tổng quát.
Trong định nghĩa này, UNESSCO đặc biệt nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hoá nhưng vẫn đảm bảo nội hàm của định nghĩa về văn hoá mà các tác giả đã đề cập. Vào năm 1970, tại Venise, cộng đồng quốc tế đã chấp nhận định nghĩa về văn hoá của UNESSCO như sau: “Đối với một số người, văn hoá chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [Dẫn theo Phạm Đức Dương 2001: 51]. Xét về việc nghiên cứu văn hoá học ở Việt Nam, với sự kế thừa những thành tựu nghiên cứu về văn hoá học thế giới nói trên, Đào Duy Anh là học giả đầu tiên đưa ra ý niệm về văn hoá: “Người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng loài người, nhân thế mà xem văn hoá có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải là như vậy.
Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hoá, nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết 16 thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải ở trong phạm vi văn hoá hay sao? Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt” [Đào Duy Anh 2000: 13]. Tuy nhiên, việc nghiên cứu lý luận về văn hoá ở Việt Nam vẫn chưa thật sự phát triển, ngành văn hoá học đã áp dụng những thành quả nghiên cứu của văn hoá học thế giới, điều đó đã mang lại cho ngành văn hoá học Việt Nam những bước đi đúng. Trước tình hình thực tế của nền văn hoá, ngành văn hoá học Việt Nam vẫn phải tìm một công cụ lý luận phù hợp với việc nghiên cứu văn hoá dân tộc. Trần Quốc Vượng nhận định “Môn nghiên cứu tộc người đã được phương Tây khai thác trong công cuộc khám phá và chinh phục thổ dân miền đất mới, mở rộng thị trường, và có thể, cả trong việc kích thích mâu thuẫn sắc tộc ở các quốc gia độc lập.
Vào thời hiện đại, các nước phương Tây đi từ “tộc người học” đến “nhân học”, ít chú ý đến văn hoá quốc gia - dân tộc, thậm chí, vấn đề bản sắc dân tộc gắn với độc lập quốc gia có vẻ như không thích hợp với chiến lược toàn cầu hoá. Trong khoa học phương Tây, văn hoá là nội dung cơ bản của “xã hội học”. Từ lâu, giới khoa học Việt Nam đã nhận thấy “Chúng ta còn thiếu hẳn việc xây dựng một khung cảnh khái niệm và những công cụ lý luận phân tích và tổng hợp, để áp dụng vào việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam dù là dưới nhãn quan đồng đại hay dưới nhãn quan lịch đại” [Trần Quốc Vượng 2000: 94]. Như vậy, việc áp dụng phương pháp nghiên cứu văn hoá phương Tây vào trong nền văn hoá Việt Nam vẫn có những điểm chưa phù hợp, đòi hỏi người nghiên cứu phải có những cơ sở nghiên cứu để áp dụng vào thực tiễn nền văn hoá.
Do đó, khi nghiên cứu đề tài, người viết dựa vào những quan điểm nghiên cứu của tác giả Trần Quốc Vượng và tác giả Trần Ngọc Thêm - những học giả xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu văn hoá xuất phát từ đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam - để khảo sát đề tài: 17 Theo Trần Quốc Vượng “Cái văn hoá là sự biến đổi cái tự nhiên của từng cộng đồng người nhất định. Văn hoá là sự phản ứng, sự chế ngự, sự trả lời của một cộng đồng người trước những thách đố của mọi cái gì tự nhiên (kể cả môi trường tự nhiên lẫn cái được gọi là bản năng tự nhiên của con người). Văn hoá là lối sống (Way of life) của một cộng đồng người, là thế ứng xử tập thể (hay công thể) (comportment collectif) của một cộng đồng người, của một xã hội, là tổng số những đồng nhất thể (identités) của các thành viên về các phương diện nhận thức, quan niệm, chuẩn mực, biểu tượng và hệ thống các giá trị… Văn hoá, hiểu như vậy thì vừa có mặt bao la (toàn bộ các thành tựu của con người) vừa có mặt chặt chẽ (phản ứng tập thể của từng cộng đồng người, do đó có nhiều loại hình văn hoá khác nhau)” [Trần Quốc Vượng 1981: 151, 159]. Dựa vào định nghĩa trên, người viết nhận thấy tác giả Trần Quốc Vượng đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
Đặc biệt, ông chú trọng đến mặt xã hội của con người trong quá trình nghiên cứu văn hoá. Vì vậy, các nhà nghiên cứu cần tiếp cận nền văn hoá Việt Nam cả về phương diện lịch đại lẫn đồng đại.