Tổng quan luận án
Cột sống đóng vai trò nâng đỡ trọng lượng cơ thể, bảo vệ tủy sống và duy trì tư thế vận động. Các bệnh lý cột sống thường biểu hiện triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, nằm ở cấu trúc giải phẫu sâu và phức tạp. Việc chẩn đoán xác định bản chất tổn thương (phân biệt giữa lành tính và ác tính, giữa viêm nhiễm và u, giữa tổn thương do lao và không do lao) đòi hỏi phải có mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm mô bệnh học, tế bào học và vi sinh học.
Sinh thiết mở từng được coi là tiêu chuẩn với độ chính xác đạt khoảng 98%, tuy nhiên phương pháp phẫu thuật mở có tỷ lệ biến chứng tổn thương da, xương và phần mềm lên tới 7%, tỷ lệ mẫu không đạt yêu cầu hoặc bỏ sót tổn thương nhỏ là 18%. Phương pháp sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh ra đời nhằm khắc phục các nhược điểm này. Mặc dù kỹ thuật sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn cắt lớp vi tính (CLVT) đã phát triển trên thế giới từ năm 1981, tại Việt Nam kỹ thuật này trước đây chủ yếu triển khai ở quy mô nhỏ, thiếu tính đồng bộ về lựa chọn dụng cụ và quy trình thao tác, chưa có công trình tổng kết toàn diện về hiệu quả chẩn đoán cũng như mức độ an toàn.
Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Phạm Mạnh Cường thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội (chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh, mã số: 62720166) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phạm Minh Thông nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá giá trị chẩn đoán của phương pháp sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn Cắt lớp vi tính.
- Nhận xét kĩ thuật sinh thiết cột sống được thực hiện trong đề tài nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân có tổn thương cột sống được chỉ định thực hiện sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn cắt lớp vi tính tại cơ sở thực hành lâm sàng (Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Bạch Mai). Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết kế với quy mô trên 80 bệnh nhân nhằm đảm bảo giá trị phân tích thống kê y học.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Văn bản luận án đã hệ thống hóa lịch sử phát triển của kỹ thuật sinh thiết cột sống qua da trong nước và quốc tế qua các mốc nghiên cứu:
Các nghiên cứu quốc tế
- Robertson và Ball (1935): Báo cáo đầu tiên về kỹ thuật chọc hút mù qua da tổn thương tiêu hủy đốt sống bằng kim 18G hoặc 16G trên 15 trường hợp, đạt kết quả khẳng định ác tính ở 6/15 trường hợp. Kỹ thuật này chỉ áp dụng cho tổn thương nông, sờ thấy được và chỉ lấy được bệnh phẩm ở vùng trung tâm.
- Siffert và Arkin (1949): Thực hiện sinh thiết thân đốt sống (như trường hợp u nguyên sống L2 dựa vào mốc mỏm gai L1) dưới hướng dẫn của phim chụp Xquang tư thế thẳng sau - trước để xác định mốc giải phẫu.
- Ottolenghi và cộng sự (1969): Báo cáo kỹ thuật sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn Xquang trên 505 bệnh nhân (780 đốt sống), sử dụng lưới kim loại định vị đặt trên da, đạt tỷ lệ dương tính 73%, không rõ ràng 13% và âm tính 14%.
- Adapon Benjamin D. và cộng sự (1981): Công bố đầu tiên về sinh thiết cột sống dưới hướng dẫn CLVT trên 22 bệnh nhân tiêu xương thân đốt sống; đạt mức độ thỏa đáng ở 17/22 trường hợp; ghi nhận 1 trường hợp liệt thoáng qua 4 chi do kim chạm ống tủy cổ nhưng tự hồi phục sau 2 ngày.
- Tổng quan hệ thống của Ali Nourbakhsh và cộng sự (2008): Phân tích gộp 25 báo cáo sinh thiết cột sống dưới hướng dẫn CLVT và Xquang tăng sáng (XQTS), cho thấy CLVT có độ thỏa đáng (92,6% so với 90,1%, $p=0,4$) và độ chính xác (90,2% so với 88,3%, $p=0,59$) cao hơn XQTS, đồng thời tỷ lệ tai biến thấp hơn (3,3% so với 5,0%, $p=0,44$).
| Nghiên cứu | Phương pháp & Thời gian | Cỡ mẫu | Đối tượng | Loại kim sinh thiết | Kết quả chính |
|---|---|---|---|---|---|
| Garg và cs (2014) | Hồi cứu (9 năm) | 84 | Viêm cột sống đĩa đệm | Đồng trục Laurane 11G, Bonopty 14G | GPB(+) 41%; VS(+) 19% |
| Heyer và cs | Hồi cứu (5 năm) | 202 | Nhiều loại tổn thương cột sống | Đơn trục Ostycut 16G | GPB(+) 74%; Tai biến 0,5% |
| Rimondi và cs (2011) | Hồi cứu (8 năm) | 703 | Nhiều loại tổn thương cột sống | Đơn trục Trap 8G, Đồng trục Craig-Kogler 8G, Bonopty 14G | GPB(+) 76,4%; VS(+) 21%; Tai biến 0% |
| Lis và cs | Hồi cứu (8 năm) | 410 | Tổn thương ác tính cột sống | Đơn trục Ostycut 15G | GPB(+) 89% (tiêu xương 91%, đặc xương 76%); Tai biến 0,75% |
Các nghiên cứu trong nước
- Lê Chí Dũng và cộng sự (1990–1998): Báo cáo kết quả giải phẫu bệnh sau mổ mở 67 trường hợp u xương cột sống tại Trung tâm Chấn thương chỉnh hình TP. Hồ Chí Minh; ghi nhận u thứ phát (34/67) nhiều hơn nguyên phát; trong nhóm u nguyên phát ác tính, đa u tủy xương chiếm 34%, u lympho 24%, u nguyên sống 24%.
- Phạm Mạnh Cường: Báo cáo 4 trường hợp sinh thiết cột sống dưới XQTS kết hợp đổ xi măng đốt sống, cả 4 mẫu đều đạt tiêu chuẩn giải phẫu bệnh.
- Nguyễn Đại Bình: Nghiên cứu 26 trường hợp tổn thương nghi u xương ngoài cột sống, độ chính xác chọc hút kim nhỏ đạt 55%, sinh thiết kim lớn đạt 85%.
- Đinh Hoàng Việt: Thực hiện sinh thiết xương qua da dưới CLVT trên 55 bệnh nhân (58 lần sinh thiết) bằng kim đơn trục 14–18G; tỷ lệ lấy được bệnh phẩm là 96,6%, tỷ lệ biến chứng 2,6% (tụ máu trong cơ), tỷ lệ mẫu thỏa đáng đạt 60,5% (thấp hơn so với các tác giả quốc tế như Adams 91%, Sung 91,6%, Wu 77%, Omura 71%).
Vị trí của luận án: Các nghiên cứu hồi cứu trên thế giới thường sử dụng nhiều loại kim và kỹ thuật khác nhau trên cùng một mẫu, khiến việc so sánh và lựa chọn dụng cụ lâm sàng gặp khó khăn. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, sử dụng một hệ thống kim sinh thiết thống nhất, giá thành hợp lý, phù hợp điều kiện kinh tế y tế tại Việt Nam mà vẫn bảo đảm tính an toàn và độ chính xác chẩn đoán.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và hình ảnh học can thiệp
Luận án dựa trên giải phẫu định khu cột sống và nguyên lý tương tác hình ảnh của các phương tiện hướng dẫn:
- Cắt lớp vi tính (CLVT): Độ phân giải không gian cao, hiển thị rõ cả vỏ xương, tủy xương và tổ chức phần mềm cạnh sống; cho phép đo khoảng cách chính xác, định vị hướng kim theo mặt phẳng cắt ngang, tránh tổn thương mạch máu lớn và rễ thần kinh, đồng thời không gây nhiễm xạ cho nhân viên y tế trực tiếp thao tác.
- So sánh phương tiện hướng dẫn: Siêu âm hạn chế do sóng âm bị cản bởi vỏ xương; Xquang tăng sáng (XQTS) kiểm soát liên tục đường đi của kim theo thời gian thực nhưng không thấy rõ tổn thương nhỏ, không đo được khoảng cách phần mềm và gây nhiễm xạ cho bác sĩ; Cộng hưởng từ (CHT) có độ tương phản mô mềm cao nhưng thời gian chụp lâu, đòi hỏi bộ dụng cụ không nhiễm từ đắt tiền và mức độ sẵn có thấp.
| Phương tiện | Ưu điểm | Nhược điểm |
|---|---|---|
| Siêu âm | Cơ động, rẻ tiền, không nhiễm xạ, sinh thiết tại giường phần mềm quanh cột sống. | Hiếm khi áp dụng được cho tổn thương trong thân xương do cản âm. |
| CHT | Tương phản mô mềm rõ nét, đa mặt phẳng, không nhiễm xạ. | Dụng cụ chuyên dụng không từ tính giá cao, chụp lâu (4 phút/xung so với vài giây CLVT), ít sẵn có. |
| XQTS | Định hướng thời gian thực, điều chỉnh linh hoạt các góc chiếu đầu - chân. | Không kiểm soát tốt mô mềm, khó xác định tổn thương nhỏ ít hủy xương, gây nhiễm xạ cho kíp thủ thuật. |
| CLVT | Độ phân giải cao, đo đạc khoảng cách chuẩn xác, kiểm soát tốt cấu trúc cạnh sống, tránh nhiễm xạ cho bác sĩ. | Gây nhiễm xạ cho bệnh nhân, hạn chế hướng xiên đầu - chân ở vùng bản lề L5/S1, không theo dõi liên tục thời gian thực. |
| Kết hợp/Robot/3D | Giảm thiểu sai số, tiếp cận tổn thương rất nhỏ. | Trang thiết bị cồng kềnh, kỹ thuật phức tạp, chi phí thực hiện cao. |
Chỉ định và chống chỉ định sinh thiết cột sống dưới CLVT
- Chỉ định: Phân biệt xẹp đốt sống do lành tính hay ác tính; xác định tổn thương thứ phát di căn cột sống; hỗ trợ định danh u nguyên phát qua mô bệnh học và hóa mô miễn dịch; phân độ u xương nguyên phát; đánh giá u tái phát hoặc đáp ứng sau hóa/xạ trị; chẩn đoán vi sinh và làm kháng sinh đồ trong viêm thân đốt sống - đĩa đệm.
- Chống chỉ định tuyệt đối: Rối loạn đông máu nặng (INR > 1,5), giảm tiểu cầu dưới $50.000/\text{mm}^3$.
- Chống chỉ định tương đối: Nghi ngờ dị dạng mạch máu hoặc u máu đốt sống ngực; tổn thương gây chèn ép tủy cấp cần mổ giải ép cấp cứu; nhiễm trùng phần mềm tại vị trí định chọc kim; tổn thương ở vị trí C1 hoặc mỏm nha khó tiếp cận; người bệnh không thể nằm sấp do suy tim, suy hô hấp nặng; phụ nữ mang thai.
Phân loại mức độ biến chứng
- Biến chứng nhẹ: Mức A (tụ máu dưới da/trong cơ nhẹ, không cần can thiệp); Mức B (tụ máu trong cơ cần theo dõi qua đêm, tràn khí màng phổi lượng ít tự hấp thu).
- Biến chứng nặng: Mức C (cần can thiệp y tế bổ sung, nằm viện < 48 giờ); Mức D (tràn khí màng phổi cần đặt ống dẫn lưu, tụ máu lớn cần can thiệp, gãy kim sinh thiết cần vi phẫu lấy dị vật, nằm viện > 48 giờ); Mức E (để lại di chứng thần kinh, tổn thương tủy, tụ máu ngoài màng cứng, gieo rắc tế bào ung thư); Mức F (tử vong).
Dụng cụ và kỹ thuật can thiệp
- Kim chọc hút dịch/tế bào: Kim Chiba hoặc kim tủy sống (spinal needle) cỡ 18–22G.
- Kim cắt tổ chức phần mềm: Kim cắt cửa sổ bên tự động/bán tự động (như Stericut - TSK Nhật Bản) hoặc kim có lưỡi cắt ở đầu (Franseen 18G).
- Kim sinh thiết xương đơn trục: Kim đơn SURELOCK (TSK Nhật Bản) kích thước 8–13G với lõi kim hình kim cương hoặc mũi xoắn khoan xương. Kỹ thuật áp dụng gồm chọc trực tiếp hoặc chọc song song (Tandem).
- Kim sinh thiết đồng trục: Hệ thống kim dẫn và kim cắt (như Bonopty 14G, Laurane 11G, Craig-Kogler 8G, Trap 8G), hoặc hệ thống cải tiến dùng kim Chiba dẫn đường.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp cơ sở giải phẫu, sinh lý bệnh và các đường tiếp cận kim sinh thiết theo từng vùng đốt sống dưới hướng dẫn CLVT:
- Cung sau đốt sống: Chọc trực tiếp vào mỏm gai, mỏm ngang theo đường ngắn nhất; đối với cuống sống và lam sống, chọc theo hướng tiếp tuyến song song với bề mặt xương để tránh trượt kim vào ống tủy.
- Cột sống cổ:
- Đốt C1–C2: Tiếp cận qua đường miệng xuyên thành sau họng dưới gây mê toàn thân có sự phối hợp ngoại khoa.
- Đốt C3–C6: Tiếp cận theo đường trước - bên (nằm ngửa, đẩy bó mạch cảnh ra sau bằng ngón tay, đưa kim đi giữa khí quản/thực quản và mạch cảnh) hoặc đường sau - bên (đẩy bó mạch cảnh ra trước, tránh động mạch đốt sống).
- Đốt C7: Tiếp cận tương tự cột sống ngực do không có động mạch đốt sống đi qua lỗ mỏm ngang.
- Cột sống ngực: Tư thế nằm sấp. Do cuống sống hẹp, áp dụng đường xuyên cuống sống với kim nhỏ ($\le 11\text{G}$) cho tổn thương lệch bên, hoặc đường cạnh sống đi qua khớp sườn - sống / khớp sườn - mỏm ngang để tạo điểm tỳ vững chắc, tránh trượt mũi kim gây rách màng phổi hoặc tổn thương mạch máu lớn.
- Cột sống thắt lưng: Cuống sống rộng và trục chếch thuận lợi, ưu tiên sử dụng đường xuyên cuống sống vào thân đốt. Đường cạnh sống ít dùng do khoảng cách từ da đến tổn thương lớn và nguy cơ tụ máu cơ thắt lưng chậu cao.
- Cột sống cùng: Nằm sấp, đưa kim xuyên cuống sống theo hướng sau - trước, chếch ngoài cho tổn thương cánh xương cùng và chếch trong cho tổn thương giữa thân đốt.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân có tổn thương dạng tiêu xương, đặc xương, hủy xương hỗn hợp, xẹp đốt sống nghi ngờ ác tính hoặc tổn thương viêm nhiễm thân đốt sống - đĩa đệm.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có rối loạn đông máu chưa điều chỉnh, tổn thương mạch máu đốt sống, phụ nữ có thai hoặc không thể duy trì tư thế nằm thực hiện thủ thuật.
- Quy trình kỹ thuật:
- Chụp cắt lớp vi tính định vị, xác định điểm vào trên da, góc chọc và khoảng cách từ da đến tổn thương đích.
- Vô cảm bằng gây tê từng lớp tại chỗ từ da đến màng xương bằng kim tủy sống 22G.
- Rạch da nhỏ, đưa kim sinh thiết đơn trục (hoặc kim đồng trục) theo đường định vị dưới sự kiểm tra định kỳ của các lát cắt CLVT.
- Tiến hành xoay cắt mẫu mô bệnh học xương/mô mềm, tạo áp lực âm rút kim và đẩy mẫu bệnh phẩm vào dung dịch cố định giải phẫu bệnh hoặc môi trường nuôi cấy vi sinh.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
- Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Thống kê cơ cấu tuổi, giới tính, triệu chứng lâm sàng (đau cột sống, chèn ép rễ/tủy) và các đặc điểm cận lâm sàng trên phim Xquang, CLVT và CHT.
- Giá trị chẩn đoán của sinh thiết dưới hướng dẫn CLVT: Đánh giá tỷ lệ mẫu mô đạt tiêu chuẩn thỏa đáng cho chẩn đoán giải phẫu bệnh, độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác tổng thể và tỷ lệ tai biến của kỹ thuật.
- Phân tích theo nhóm bệnh lý: Đánh giá độ chính xác chẩn đoán ở nhóm u thứ phát (di căn), u nguyên phát ác tính, u lành tính và viêm thân đốt sống - đĩa đệm; đối chiếu kết quả tế bào học, giải phẫu bệnh và xét nghiệm nuôi cấy vi sinh/PCR.
- Nhận xét kỹ thuật can thiệp: Tổng kết số lần chọc kim trên một bệnh nhân, phương pháp giảm đau, tỷ lệ thực hiện thành công theo từng vị trí giải phẫu (cổ, ngực, thắt lưng, cùng), các đường chọc kim, kích thước kim sinh thiết và chất lượng bệnh phẩm thu được.
Chương 4: Bàn luận
- Phân tích mối tương quan giữa đặc điểm lâm sàng/hình ảnh học với kết quả giải phẫu bệnh thu được từ mẫu sinh thiết qua da.
- Bàn luận về độ chính xác và mức độ thỏa đáng của mẫu sinh thiết dưới CLVT trong mối so sánh với các công trình quốc tế (Nourbakhsh, Garg, Heyer, Rimondi, Lis) và các tác giả trong nước (Lê Chí Dũng, Đinh Hoàng Việt).
- Phân tích ưu thế của đường chọc xuyên cuống sống ở vùng thắt lưng và đường chọc qua khớp sườn - sống ở vùng ngực trong việc hạn chế tai biến tràn khí màng phổi và tụ máu mô mềm.
- Đánh giá tính kinh tế và hiệu quả kỹ thuật khi sử dụng hệ thống kim đơn trục chuẩn hóa so với các loại kim đồng trục đắt tiền.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn
- Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật: Luận án xây dựng quy trình sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn CLVT có tính an toàn cao, xác lập rõ các mốc giải phẫu đường vào (đường trước bên/sau bên ở vùng cổ, đường qua khớp sườn - sống ở vùng ngực, đường xuyên cuống sống ở vùng thắt lưng và cùng).
- Khẳng định giá trị chẩn đoán: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu và mức độ thỏa đáng của mẫu bệnh phẩm thu được bằng kỹ thuật sinh thiết định vị CLVT trên các nhóm bệnh lý u xương nguyên phát, thứ phát và tổn thương viêm nhiễm.
- Đánh giá tính an toàn: Thống kê tỷ lệ và mức độ biến chứng theo phân loại chuẩn, khẳng định sinh thiết dưới hướng dẫn CLVT có tỷ lệ tai biến thấp, tránh được phẫu thuật mở không cần thiết cho người bệnh.
- Tối ưu hóa chi phí điều trị: Chứng minh hiệu quả chẩn đoán của hệ thống kim sinh thiết đơn trục có giá thành phù hợp với điều kiện kinh tế của hệ thống y tế Việt Nam, không thua kém các bộ dụng cụ đồng trục phức tạp.
Kiến nghị và đề xuất
- Đề xuất ứng dụng rộng rãi quy trình kỹ thuật sinh thiết cột sống dưới hướng dẫn CLVT tại các trung tâm chẩn đoán hình ảnh và bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh/trung ương.
- Khuyến nghị sử dụng phối hợp kim cắt mô mềm và kim khoan xương tùy thuộc vào tính chất tiêu xương hay đặc xương của tổn thương trên hình ảnh CLVT.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Nghiên cứu tập trung vào các trường hợp có tổn thương hiển thị rõ trên hình ảnh cắt lớp vi tính; các tổn thương tủy xương giai đoạn rất sớm chưa làm thay đổi đậm độ bè xương trên CLVT gặp khó khăn trong việc định vị đích sinh thiết.
- Tỷ lệ nuôi cấy vi sinh vật dương tính từ mẫu sinh thiết xương đối với các trường hợp viêm cột sống đĩa đệm còn phụ thuộc vào việc bệnh nhân đã sử dụng kháng sinh trước đó hay chưa.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục nghiên cứu kết hợp hình ảnh cộng hưởng từ (CHT) và CLVT (fusion imaging) hoặc ứng dụng hệ thống định vị không gian 3 chiều (navigation), cánh tay robot hỗ trợ định vị chính xác các tổn thương kích thước nhỏ ở vùng giải phẫu khó như mỏm nha, đốt sống C1–C2 và đĩa đệm L5/S1.
- Nghiên cứu sâu hơn về kỹ thuật sinh thiết kết hợp xét nghiệm sinh học phân tử (PCR lao, giải trình tự gen) trên mẫu bệnh phẩm mô xương để nâng cao tỷ lệ chẩn đoán vi sinh ở bệnh nhân nhiễm trùng cột sống.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với:
- Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh can thiệp: Tham khảo chi tiết các bước lựa chọn đường vào giải phẫu, kỹ thuật đẩy bó mạch cảnh ở cột sống cổ, kỹ thuật xuyên cuống sống, kỹ thuật qua khớp sườn - sống và các thao tác xoay cắt mô xương bằng kim sinh thiết.
- Bác sĩ Chấn thương chỉnh hình và Phẫu thuật thần kinh cột sống: Có cơ sở chỉ định sinh thiết lấy mẫu mô trước khi quyết định phẫu thuật cắt u, phẫu thuật giải ép hoặc phẫu thuật cố định cột sống.
- Bác sĩ Ung bướu và Giải phẫu bệnh: Sử dụng kết quả sinh thiết kim lớn để nhuộm hóa mô miễn dịch, xác định nguồn gốc u di căn chưa rõ u nguyên phát và phân độ mô học u xương.
- Học viên sau đại học và Nghiên cứu sinh: Nguồn tư liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu can thiệp chẩn đoán hình ảnh và quy chuẩn đánh giá tai biến thủ thuật.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn CLVT lại ưu thế hơn sinh thiết dưới Xquang tăng sáng (XQTS)?
CLVT có độ phân giải không gian cao, hiển thị chi tiết vỏ xương, tủy xương và tổ chức phần mềm xung quanh. Bác sĩ có thể đo khoảng cách chính xác từ da đến tổn thương, lựa chọn đường chọc tránh mạch máu và tủy sống. Ngoài ra, CLVT không gây nhiễm xạ cho nhân viên y tế thao tác trực tiếp, khắc phục nhược điểm mất kiểm soát phần mềm và nguy cơ chiếu xạ của XQTS.
2. Kỹ thuật tiếp cận kim sinh thiết vào thân đốt sống cổ từ C3 đến C6 được thực hiện như thế nào?
Do cuống sống cột sống cổ nằm ngang, không thể chọc từ phía sau. Kỹ thuật viên cho bệnh nhân nằm ngửa, thực hiện đường chọc trước - bên bằng cách dùng ngón tay ấn đẩy bó mạch cảnh ra sau để tạo khoang an toàn giữa khí quản/thực quản và mạch cảnh, sau đó đưa kim tiếp cận mặt trước - bên thân đốt sống. Ngoài ra có thể dùng đường sau - bên (đẩy bó mạch cảnh ra trước và tránh động mạch đốt sống).
3. Khi sinh thiết tổn thương ở cột sống ngực, tại sao đường chọc qua khớp sườn - sống lại được ưu tiên hơn đường chọc trực tiếp vào bờ ngoài thân đốt?
Đốt sống ngực có cuống sống nhỏ. Khi dùng đường cạnh sống, việc đi xuyên qua khớp sườn - sống (hoặc khớp sườn - mỏm ngang) giúp mũi kim được cố định vững chắc bởi cấu trúc xương khớp, tránh hiện tượng trượt mũi kim trên bề mặt cong của vỏ thân đốt sống và giảm thiểu nguy cơ chọc thủng màng phổi gây tràn khí hoặc tổn thương mạch máu lớn.
4. Trong trường hợp nào thì sử dụng mũi kim dạng kim cương và khi nào dùng mũi kim dạng khoan?
Mũi kim hình kim cương là loại thông dụng nhất, dễ dàng đi qua mô mềm và vỏ xương có độ cứng vừa phải. Khi tổn thương có tính chất đặc xương nhiều hoặc vỏ xương quá cứng, việc dùng mũi kim cương có thể bị trượt hoặc đòi hỏi dùng búa trợ lực gây nguy cơ gãy xương; lúc này bắt buộc phải sử dụng mũi kim dạng khoan (xoắn) xoay theo chiều kim đồng hồ để xuyên qua mô xương cứng.
5. Tiêu chuẩn chống chỉ định tuyệt đối của thủ thuật sinh thiết cột sống qua da dưới CLVT là gì?
Chống chỉ định tuyệt đối áp dụng cho các trường hợp có rối loạn đông máu nặng chưa được điều chỉnh (chỉ số đông máu INR > 1,5) và tình trạng giảm số lượng tiểu cầu nghiêm trọng trong máu (dưới $50.000/\text{mm}^3$) do nguy cơ chảy máu không cầm, tụ máu ngoài màng cứng gây chèn ép tủy cấp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Phạm Mạnh Cường là công trình nghiên cứu hệ thống về giá trị và kỹ thuật sinh thiết cột sống qua da dưới hướng dẫn cắt lớp vi tính tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định tính an toàn, độ chính xác cao và mức độ thỏa đáng của mẫu bệnh phẩm mô xương - phần mềm phục vụ chẩn đoán mô bệnh học và vi sinh học. Luận án đã chuẩn hóa các đường vào giải phẫu theo từng vùng đốt sống và tối ưu hóa việc sử dụng dụng cụ kim sinh thiết đơn trục, mang lại giá trị ứng dụng lâm sàng thiết thực cho chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh và Phẫu thuật cột sống.