Giáo trình dinh dưỡng và an toàn thực phẩm dành cho đào tạo bác sĩ y học dự phòng – Đại học Y Hà Nội 2012

Giáo trình dinh dưỡng và an toàn thực phẩm Đại học Y Hà Nội 2012 cung cấp kiến thức nền tảng y khoa, nguyên tắc dinh dưỡng và tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y học dự phòng

Tác giả

Phạm Duy Tường, Đỗ Thị Hòa, Phạm Văn Phú và cộng sự

Thể loại

Giáo trình

2012

266
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình dinh dưỡng và an toàn thực phẩm

Giáo trình dinh dưỡng và an toàn thực phẩm là tài liệu đào tạo chính quy dành cho bác sĩ y học dự phòng. Sách do Nhà xuất bản Y học phát hành năm 2012. Chủ biên công trình là PGS. Phạm Duy Tường cùng đội ngũ giảng viên Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng. Tác phẩm ra đời dưới sự tài trợ từ Dự án Nuffic Việt Nam – Hà Lan. Mục tiêu chính nhằm nâng cao năng lực giảng dạy y khoa và nghiên cứu thực địa. Cấu trúc giáo trình chia làm mười bài học trọng tâm. Nội dung kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết dinh dưỡng cổ điển và thực hành an toàn thực phẩm hiện đại. Sinh viên được trang bị tư duy khoa học về mối liên hệ giữa chế độ ăn uống, vệ sinh thực phẩm và gánh nặng bệnh tật. Cuốn sách chuẩn hóa các tiêu chuẩn khẩu phần cho từng nhóm tuổi. Tài liệu cũng định hướng kỹ năng tư vấn tiết chế tại bệnh viện. Đây là cẩm nang thiết yếu cho cán bộ y tế cơ sở và các nhà nghiên cứu cộng đồng.

1.1. Bối cảnh biên soạn và mục tiêu học thuật

Nhu cầu nâng cao năng lực y tế dự phòng đòi hỏi nguồn tài liệu giảng dạy chuẩn mực. Dự án Nuffic hợp tác giữa Việt Nam và Hà Lan tạo nền tảng ra đời cho tác phẩm. Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm Trường Đại học Y Hà Nội chủ trì biên soạn trực tiếp. Mục tiêu giáo trình hướng tới cung cấp kiến thức nền tảng về dịch tễ học dinh dưỡng. Bác sĩ dự phòng tương lai cần nắm vững cơ chế bệnh sinh liên quan đến dinh dưỡng. Tài liệu chuẩn bị kỹ năng giám sát và xử lý các vấn đề vệ sinh thực phẩm thực tế. Kiến thức sách gắn liền với các chiến lược y tế công cộng quốc gia.

1.2. Kết cấu mười bài học cốt lõi

Nội dung giáo trình phân bổ khoa học qua mười chuyên đề riêng biệt. Các bài học đầu giải thích cấu trúc cơ thể và nhu cầu năng lượng. Bài tiếp theo phân tích các chất sinh năng lượng và vi chất không sinh năng lượng. Khẩu phần ăn cho người trưởng thành, bà mẹ mang thai và trẻ nhỏ được quy định chi tiết. Nhóm bài sau tập trung vào vấn đề suy dinh dưỡng, béo phì và phương pháp tư vấn tiết chế bệnh viện. Cuối cùng, cuốn sách đi sâu vào ô nhiễm thực phẩm cùng biện pháp phòng ngừa ngộ độc. Hệ thống kiến thức logic này giúp người học xây dựng tư duy chẩn đoán dinh dưỡng toàn diện.

II. Vấn đề sức khỏe trong giáo trình dinh dưỡng và an toàn thực phẩm

Tài liệu phân tích gánh nặng kép về dinh dưỡng đang diễn ra tại các nước đang phát triển. Thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn tồn tại phổ biến ở trẻ em và phụ nữ. Điển hình là tình trạng thiếu hụt vitamin A gây khô mắt và suy giảm miễn dịch. Thiếu máu do thiếu sắt làm giảm khả năng học tập và lao động. Ngược lại, lối sống đô thị hóa thúc đẩy tỷ lệ thừa cân béo phì gia tăng nhanh chóng. Chế độ ăn thừa năng lượng và giàu chất béo bão hòa gây nên các bệnh mạn tính không lây. Các bệnh tim mạch, đái tháo đường và tăng huyết áp xuất hiện ngày càng sớm. Song song đó, nguy cơ ô nhiễm thực phẩm ngày càng diễn biến phức tạp. Ô nhiễm sinh học từ vi khuẩn, ký sinh trùng đe dọa trực tiếp đến hệ tiêu hóa. Ô nhiễm hóa học từ chất bảo quản độc hại gây nhiễm độc mạn tính nguy hiểm. Nhận diện chuẩn xác các nguy cơ này là tiền đề bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

2.1. Thiếu hụt vi chất và bệnh mãn tính

Thiếu hụt vi chất dinh dưỡng âm thầm phá hủy hệ miễn dịch con người. Giáo trình chỉ rõ vai trò của vitamin A trong việc duy trì biểu mô và bảo vệ thị giác. Dấu hiệu đầu tiên khi thiếu hụt là chứng quáng gà. Tình trạng kéo dài gây loét giác mạc và dẫn tới mù lòa vĩnh viễn. Ngoài ra, thiếu sắt dẫn đến thiếu máu nhược sắc, làm suy giảm thể lực của thanh thiếu niên. Đồng thời, sự mất cân đối khẩu phần gây bùng phát thừa cân béo phì. Năng lượng nạp vào vượt mức tiêu hao làm rối loạn mỡ máu và kháng insulin. Những biến đổi chuyển hóa này trực tiếp gây bệnh tim mạch và tiểu đường tuýp hai.

2.2. Nguy cơ ô nhiễm an toàn thực phẩm

Ô nhiễm thực phẩm gây tác hại khôn lường tới sức khỏe và nền kinh tế. Giáo trình chia ô nhiễm làm ba nhóm chính gồm sinh học, hóa học và vật lý. Ô nhiễm vi sinh vật qua Salmonella hoặc độc tố botulinum gây ngộ độc cấp tính nặng. Người bệnh có thể tử vong nếu không cấp cứu kịp thời. Đáng ngại hơn, các hóa chất độc như kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật tích tụ lâu dài trong mô mỡ. Các chất độc này gây đột biến gen và kích hoạt tế bào ung thư phát triển. Quá trình chế biến và bảo quản sai quy cách khiến thực phẩm nhanh chóng biến chất. Việc kiểm soát vệ sinh từ nguồn nuôi trồng là thách thức lớn.

III. Phương pháp can thiệp giáo trình dinh dưỡng và an toàn thực phẩm

Giáo trình thiết lập hệ thống giải pháp can thiệp dinh dưỡng khoa học và đồng bộ. Biện pháp cốt lõi là xây dựng khẩu phần cân đối theo nhu cầu khuyến nghị. Nhu cầu protein cho thanh thiếu niên cần đảm bảo tỷ lệ nguồn động vật từ ba mươi lăm đến bốn mươi phần trăm. Việc bổ sung khoáng chất như sắt, canxi phải căn cứ vào giá trị sinh học khẩu phần. Bên cạnh can thiệp cá thể, chiến lược giám sát dinh dưỡng cộng đồng giữ vai trò chủ chốt. Cán bộ y tế cần thu thập số liệu nhân trắc học định kỳ để phát hiện sớm trẻ suy dinh dưỡng. Công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm đòi hỏi quy trình thanh tra chặt chẽ chuỗi cung ứng thực phẩm. Giáo dục truyền thông vệ sinh an toàn thực phẩm cần triển khai sâu rộng đến từng hộ gia đình. Cuối cùng, quy trình tư vấn tiết chế tại bệnh viện giúp phục hồi thể trạng bệnh nhân nhanh chóng. Sự kết hợp đa phương pháp này đem lại hiệu quả dự phòng cao.

3.1. Tính cân đối khẩu phần dinh dưỡng

Xây dựng khẩu phần ăn cân đối đòi hỏi tính toán chính xác nhu cầu từng lứa tuổi. Tỷ lệ giữa ba chất sinh năng lượng protein, lipid và glucid phải duy trì mức hợp lý. Nhu cầu protein cho thanh thiếu niên từ mười sáu đến mười tám tuổi đạt khoảng bảy mươi mốt gam mỗi ngày. Giáo trình nhấn mạnh tầm quan trọng của các axit béo không no như linoleic và arachidonic đối với trẻ nhỏ. Ngoài ra, việc bổ sung vitamin A liều cao định kỳ giúp giảm đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Bữa ăn cân đối cần đa dạng hóa các nhóm thực phẩm từ động vật và thực vật.

3.2. Giám sát dịch tễ và kiểm soát an toàn

Giám sát dinh dưỡng là công cụ quản lý y tế công cộng không thể thiếu. Hoạt động này theo dõi liên tục sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng của quần thể dân cư. Dữ liệu giám sát cung cấp căn cứ thực tế để hoạch định chính sách can thiệp kịp thời. Đi cùng với đó là các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm thực phẩm tại cơ sở chế biến. Quy trình vệ sinh đòi hỏi kiểm soát nguồn nước, nguyên liệu tươi sống và dụng cụ nhà bếp. Việc áp dụng các nguyên tắc kiểm tra vệ sinh giúp loại bỏ nguy cơ ngộ độc tập thể. Đào tạo kiến thức an toàn thực phẩm cho người kinh doanh đóng vai trò then chốt.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ giáo trình dinh dưỡng và an toàn thực phẩm

Giáo trình dinh dưỡng và an toàn thực phẩm năm 2012 vẫn giữ nguyên giá trị ứng dụng thực tiễn cao trong ngành y tế. Công trình cung cấp hệ thống lý luận khoa học vững chắc cho sinh viên và bác sĩ y học dự phòng. Kiến thức trong tài liệu là cơ sở xây dựng thực đơn tiết chế phục hồi cho bệnh nhân nội trú. Các chỉ số nhân trắc học hỗ trợ nhân viên y tế đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe bệnh nhân. Trong y tế công cộng, cuốn sách định hình phương pháp triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về dinh dưỡng. Nhân viên y tế cơ sở vận dụng lý thuyết để tuyên truyền phòng chống thiếu vi chất cho cộng đồng. Ngoài ra, các tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm giúp cơ quan quản lý thực hiện thanh tra hiệu quả. Sự kết hợp giữa dinh dưỡng và an toàn thực phẩm tạo lá chắn vững chắc bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tài liệu là kim chỉ nam cho sự phát triển của y học dự phòng Việt Nam.

4.1. Đào tạo thực hành cho bác sĩ dự phòng

Sinh viên y khoa tiếp thu các kỹ năng lâm sàng và dự phòng thông qua từng chương mục. Giáo trình cung cấp công cụ nhận định khẩu phần và phân tích thể trạng chuẩn mực. Bác sĩ dự phòng có khả năng lập kế hoạch can thiệp khi xảy ra ngộ độc tập thể. Đồng thời, kỹ năng tư vấn dinh dưỡng tiết chế được rèn luyện bài bản. Bác sĩ có thể thiết kế chế độ ăn chuyên biệt cho bệnh nhân suy dinh dưỡng, đái tháo đường hoặc suy thận. Sự hiểu biết sâu về dịch tễ dinh dưỡng giúp họ hoàn thành tốt vai trò bảo vệ sức khỏe người dân.

4.2. Xây dựng chính sách y tế cộng đồng

Số liệu và phương pháp trong tài liệu đóng góp vào hoạch định chính sách y tế quốc gia. Cơ quan quản lý dựa vào hướng dẫn nhu cầu dinh dưỡng để ban hành các quy chuẩn khẩu phần học đường. Các chương trình bổ sung vi chất cho phụ nữ mang thai cũng áp dụng khuyến nghị này. Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn vệ sinh tạo cơ sở pháp lý cho công tác thanh tra cơ sở chế biến. Việc giám sát ô nhiễm thực phẩm giúp kiểm soát chuỗi cung ứng nông sản an toàn. Nhờ vậy, chính sách y tế công cộng được thực thi đồng bộ và mang lại hiệu quả bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/10/2026
Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm trường đại học y hà nội nhà xuất bản y học hà nội 2012 trường đại học y hà nội viện đào tạo y học dự phòng và y tế công cộng bộ môn dinh dưỡng an toàn thực phẩm

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho nền Y dược dân tộc nước ta. Trong số 586 dưỡng, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân vào năm 1997 và tái vị thuốc nam do ông sưu tầm và tổng kết trong tác phẩm nổi tiếng “Nam bản vào các năm 2003, 2012. dược thần hiệu” có tới 246 loại là thức ăn và gần 50 loại có thể dùng làm đồ uống. Ông còn đặt nền móng cho việc trị bệnh bằng ăn uống.

Can thiệp dinh dưỡng: Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác (1720-1790), thầy thuốc danh Dinh dưỡng học không chỉ phát hiện ra các thành phần dinh dưỡng tiếng của nước ta vào thế kỷ 18, đã xác định rất rõ tầm quan trọng của của thức ăn mà còn phải nghiên cứu để tìm ra được những giải pháp vấn đề ăn uống so với thuốc. Theo ông, “Có thuốc mà không có ăn thì can thiệp để cải thiện tình trạng dinh dưỡng và điều trị bệnh, đó là vai cũng đi đến chỗ chết”. Chữa bệnh cho người nghèo, ngoài việc cho trò và nhiệm vụ của dinh dưỡng học can thiệp. thuốc không lấy tiền, ông còn chu cấp cả cơm gạo để bồi dưỡng.

Ông Từ xa xưa, con người đã tìm cách dùng thức ăn để chữa bệnh. Hải còn sưu tầm một cách công phu công thức từng loại thức ăn. Trong Thượng Lãn Ông đã từng dạy “Hãy dùng thức ăn thay vào thuốc bổ cuốn “Vệ sinh yếu quyết” chứa đựng những lời khuyên quý báu về có phần lợi hơn”. Galen (130-200) đã dùng sữa mẹ để chữa bệnh lao.

giữ gìn sức khoẻ bao gồm cả dinh dưỡng hợp lý và vệ sinh thực phẩm. Những hiểu biết về dinh dưỡng tạo cơ sở khoa học để tìm tòi các can Từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay, khoa học dinh dưỡng đã có thiệp về dinh dưỡng. Một trong những hướng can thiệp được ưu tiên nhiều bước phát triển và đóng góp cụ thể. Các cơ sở nghiên cứu, giảng nhất là tăng cường các chất dinh dưỡng vào thức ăn.

Năm 1924 ở dạy và triển khai về dinh dưỡng đã lần lượt được thành lập ở nhiều viện Mỹ người ta đã tăng cường iod vào muối ăn, năm 1939 tăng cường nghiên cứu và trường đại học như Viện Vệ sinh dịch tễ học, Trường Đại vitamin A và margarin và vitamin D được tăng cường vào sữa trong học Y Hà Nội, Học viện Quân y. với sự đóng góp to lớn của các nhà những năm 1930. Việt Nam trong những năm gần đây cũng có nhiều khoa học như Hoàng Tích Mịnh, Phạm Văn Sổ, Từ Giấy, Hà Huy Khôi. chương trình can thiệp tương tự như tăng cường iod vào muối ăn đã giúp hạn chế được bệnh bướu cổ, tăng cường sắt vào sữa đã làm giảm Sự ra đời của Viện Dinh dưỡng Quốc gia (1980), Bộ môn Dinh dưỡng tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt.

và An toàn thực phẩm của Trường Đại học Y Hà Nội (1990) là các mốc quan trọng của sự phát triển ngành Dinh dưỡng ở Việt nam. Bên cạnh đó, giáo dục dinh dưỡng cũng được quan tâm. Việc ra đời các Trung tâm thông tin giáo dục dinh dưỡng đã hoạt động rất có hiệu 3. Mối liên quan giữa dinh dưỡng, sức khoẻ và bệnh tật quả ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

Với mục đích can thiệp dinh dưỡng cho cộng đồng đối với những bệnh và rối loạn đặc Ăn uống là một trong các bản năng quan trọng nhất của con người, nhưng hiệu, đã có rất nhiều tổ chức được thành lập như Tổ chức tư vấn về cho đến thể kỷ XVIII loài người vẫn chưa hiểu được mình cần gì ở thức vitamin A-IVACG (1975), về thiếu máu dinh dưỡng - INACG (1977), ăn. Danh y Hypocrat vẫn quan niệm các thức ăn đều chứa một chất sống về các rối loạn do thiếu iod - ICCIDD (1985). giống nhau và chỉ khác nhau về màu sắc, mùi vị, ít hay nhiều nước. Những mốc phát triển vàứng dụng dinh dưỡng ở Việt Nam.

này, nhờ các phát hiện của dinh dưỡng học, người ta lần lượt biết rằng trong thức ăn có chứa các thành phần dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể, Ở Việt Nam, ông cha ta từ xa xưa đã hình thành một cách ăn dân tộc để đó là các chất protein, lipid, glucid, các vitamin và các chất khoáng. Sự 16 17 Bài 1: Dinh dưỡng vệ sinh An toàn thực phẩm với sức khỏe và bệnh tật PGS. Phạm Duy Tường thiếu một trong các chất này trong khẩu phần ăn có thể gây ra nhiều bệnh như bệnh lao, ỉa chảy do nhiễm khuẩn, tả, ho gà, nhiễm khuẩn hô hấp, sởi, tật, thậm chí chết người như bệnh Scorbut do thiếu vitamin C, bệnh tê phù nhiễm nấm Candidose. Có những bệnh ảnh hưởng ở mức độ trung bình Beriberi do thiếu vitamin B1, bệnh viêm da Pellagra do thiếu vitamin PP.

như bạch hầu, nhiễm tụ cầu, liên cầu, cúm. Ngược lại, có những bệnh thì Người ta gọi đó là các bệnh thiếu dinh dưỡng đặc hiệu. Hiện nay, ở rất ít bị ảnh hưởng như đậu mùa, bại liệt, sốt rét, thương hàn, uốn ván. các nước nghèo vẫn còn nổi trội lên các vấn đề sức khoẻ do thiếu dinh Phần nhiều trẻ em trong 3 tháng đầu được bú sữa mẹ đều phát triển dưỡng như thiếu protein năng lượng, thiếu vitamin A và bệnh khô tốt, sau đó tình trạng dinh dưỡng bỗng xấu đi một phần do chế độ ăn mắt, thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt, bệnh bướu cổ do thiếu iod.

bổ sung không hợp lý, một phần do mắc các bệnh nhiễm khuẩn lặp Đói và các bệnh thiếu dinh dưỡng hiển nhiên là đặc điểm của các nước đi lặp lại. Thiếu protein và năng lượng có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ nghèo. Nhưng trái lại sự dư thừa về dinh dưỡng cũng là nguyên nhân thống miễn dịch, đặc biệt là miễn dịch qua trung gian tế bào, các chức gây ra bệnh tật và các vấn đề về sức khoẻ như tăng nguy cơ mắc các phận diệt khuẩn của bạch cầu đa nhân trung tính, bổ thể và bài xuất bệnh tim mạch, bệnh ung thư, bệnh đái đường. và đặc biệt là bệnh các globulin miễn dịch nhóm IgA.

Người ta thấy rằng ở các trẻ em bị béo phì hiện nay chiếm tới 20 đến 40% số dân trưởng thành ở nhiều suy dinh dưỡng, số lượng tế bào lympho T luân chuyển giảm sút và nước phát triển là một nguy cơ quan trọng của nhiều bệnh khác. quá trình trưởng thành của chúng bị rối loạn. Các nghiên cứu về dinh dưỡng đã cho thấy rằng các vitamin và chất 3. Dinh dưỡng, đáp ứng miễn dịch và các bệnh nhiễm khuẩn: khoáng có vai trò quan trọng đối với hệ thống miễn dịch.

Vitamin có Mối quan hệ giữa tình trạng dinh dưỡng của một cá thể với các bệnh nhiễm vai trò tới hệ thống miễn dịch gồm vitamin A, vitamin E, vitamin C, khuẩn theo hai chiều: thiếu dinh dưỡng làm giảm sức đề kháng của cơ thể, đặc biệt là vitamin A còn có tên gọi “Vitamin chống nhiễm khuẩn” có ngược lại nhiễm khuẩn làm trầm trọng thêm tình trạng suy dinh dưỡng sẵn vai trò rõ rệt cả với miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Đó là một vòng xoắn bệnh lý dinh dưỡng và nhiễm trùng như sau: chất khoáng và vi khoáng tham gia vào chức phận miễn dịch, trong đó vai trò của sắt, kẽm, đồng và selen được biết đến nhiều hơn cả. Lượng chất dinh dưỡng hấp thu thấp 3. Các bệnh liên quan đến thiếu và thừa dinh dưỡng: Các công trình nghiên cứu về dinh dưỡng cho thấy rằng cả thiếu và Kém ngon miệng thừa dinh dưỡng đều dẫn đến bệnh tật.

Các bệnh liên quan đến dinh Cân nặng giảm Chất dinh dưỡng hao hụt dưỡng rất đa dạng và xuất hiện ở nhiều độ tuổi khác nhau, trong đó Tăng trưởng kém Hấp thu kém những đối tượng có nguy cơ cao nhất là trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có Giảm miễn dịch Chuyển hóa rối loạn thai và cho con bú, người già. Tần suất mắc bệnh tăng 3. Thiếu dinh dưỡng đặc hiệu và chậm tăng trưởng: Mức độ nặng của bệnh tăng Trong lịch sử phát triển của dinh dưỡng học, các thực nghiệm về sự tăng Mức độ kéo dài của bệnh tăng trưởng thường được sử dụng để đánh giá sự cần thiết của một thành phần dinh dưỡng nào đó. Một chất dinh dưỡng được coi là cần thiết khi Tuy nhiên, ảnh hưởng của tình trạng dinh dưỡng đối với tiến triển các bệnh thiếu chất đó, động vật thí nghiệm ngừng hoặc chậm tăng trưởng.

nhiễm khuẩn không giống nhau. Có những bệnh ảnh hưởng này rất lớn 18 19 Bài 1: Dinh dưỡng vệ sinh An toàn thực phẩm với sức khỏe và bệnh tật PGS. Phạm Duy Tường Người ta chia ra làm 2 loại thiếu dinh dưỡng: thành các cục máu đông, gây nên các tổn thương ở tim và thận. Ăn yy Nhóm loại I: Là nhóm mà khi thiếu một chất dinh dưỡng nào đó cơ quá thừa protein có thể gây tăng nguy cơ tăng huyết áp và thúc đẩy thể vẫn tiếp tục tăng trưởng, nhưng đến một lúc nào đó sẽ có những tiến triển các bệnh mạch máu đặc biệt ở thận.

Uống quá nhiều rượu, biểu hiện lâm sàng đặc hiệu, đó là nhóm các chất: ăn nhiều muối và thiếu kali cũng góp phần làm tăng huyết áp. ƒƒ Các chất khoáng: Sắt, đồng, mangan, selen, calci, fluor. yy Loãng xương: là tình trạng khối xương giảm dẫn tới các gãy xương sau sang chấn nhẹ. Chế độ ăn đủ canxi và fluor tham gia vào duy trì ƒƒ Các vitamin: Vitamin B1, B6, B12, PP, colabamin, a.

folic, độ cốt hoá của xương cùng với tác dụng của vitamin D trong thức vitamin C, vitamin A, D, E, K. ăn hay tác dụng của ánh nắng mặt trời. yy Nhóm loại II: Là nhóm mà khi thiếu các chất dinh dưỡng đó, cơ thể yy Một số bệnh ung thư như ung thư dạ dày, đại tràng, ung thư vú:Với sẽ ngừng hoặc chậm tăng trưởng mà vẫn duy trì dự trữ và đậm độ hiểu biết hiện nay, một chế độ ăn thích hợp, rèn luyện thể lực và có các chất dinh dưỡng này trong các mô của cơ thể. Nhóm này bao thể trọng vừa phải có thể phòng ngừa tới 30 đến 40% các trường gồm các chất: Các acid amin cần thiết, nitrogen, sulfur, nước, natri, hợp mắc ung thư.

Người ta đã ước tính các chế độ ăn đủ rau quả và kali, mangan, kẽm, phospho. đa dạng có thể đề phòng đến 20% ung thư. Một số bệnh mạn tính có liên quan đến dinh dưỡng: 3. Dinh dưỡng theo chu kỳ cuộc đời: yy Béo phì: là vấn đề dinh dưỡng phổ biến nhất ở các nước đã phát Con người ta từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ, được sinh ra, lớn lên triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Phạm Duy Tường, Đỗ Thị Hòa, Phạm Văn Phú, Lê Thị Hương, Trần Thị Phúc Nguyệt, Trịnh Bảo Ngọc và cộng sự (2012), Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, Giáo trình, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
APA 7
Phạm, D. T., Đỗ, T. H., Phạm, V. P., Lê, T. H., Trần, T. P. N., Trịnh, B. N., & Dương, T. T. H. (2012). Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm [Giáo trình, Trường Đại học Y Hà Nội]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/giao-trinh-dinh-duong-an-toan-thuc-pham-dai-hoc-y-ha-noi-2012/9535733437
IEEE
D. T. Phạm et al., "Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm," Giáo trình, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội, 2012. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/giao-trinh-dinh-duong-an-toan-thuc-pham-dai-hoc-y-ha-noi-2012/9535733437

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác