Tổng quan nghiên cứu

Khai thác khoáng sản là ngành công nghiệp nền tảng nhưng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng đối với sức khỏe người lao động. Tại Việt Nam, với trữ lượng than đá lên tới hàng tỉ tấn, các mỏ than đang huy động lực lượng lao động rất lớn làm việc trong điều kiện vi khí hậu khắc nghiệt và ô nhiễm bụi kéo dài. Tỉnh Thái Nguyên là địa phương sở hữu trữ lượng than lớn thứ hai cả nước, trong đó Mỏ than Phấn Mễ có vị trí đặc thù khi vận hành song song cả hai công nghệ khai thác hầm lò và khai thác lộ thiên. Đáng chú ý, sản phẩm tại đây là than mỡ giàu dẫn xuất carbua vòng và lưu huỳnh, có tính chất cơ học sắc nhọn và khả năng bám dính niêm mạc cao hơn hẳn các loại than thông thường, làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh lý đường hô hấp, da liễu và cơ xương khớp.

Xuất phát từ thực tiễn cấp bách đó, học viên Nguyễn Khắc Du đã thực hiện luận văn thạc sĩ y học chuyên ngành Y học dự phòng tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hoa. Nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu chính: mô tả thực trạng sức khỏe, bệnh tật của công nhân mỏ than Phấn Mễ năm 2022 và phân tích các yếu tố liên quan trực tiếp đến tình trạng bệnh lý của người lao động. Khảo sát thực địa được triển khai từ tháng 07 năm 2022 đến tháng 07 năm 2023 trên 294 công nhân sản xuất trực tiếp. Kết quả ghi nhận tỷ lệ công nhân mắc bệnh tai mũi họng lên tới 63,3% và tỷ lệ suy giảm chức năng hô hấp đạt 50,3%. Những số liệu này tạo lập cơ sở thực chứng vững chắc, giúp doanh nghiệp và ngành y tế dự phòng tối ưu hóa điều kiện vi khí hậu, cắt giảm thời gian nghỉ ốm trung bình 6,2 ngày mỗi năm và bảo vệ nguồn nhân lực bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phơi nhiễm tác hại nghề nghiệp trong y học lao động kết hợp với mô hình đánh giá chức năng thông khí phổi theo tiêu chuẩn quốc tế. Tiếp cận này giúp làm rõ tác động qua lại giữa môi trường làm việc khắc nghiệt và biến đổi thể chất của người thợ mỏ qua ba khái niệm trọng tâm:

Thứ nhất, yếu tố tác hại nghề nghiệp được định nghĩa là các điều kiện bất lợi phát sinh trong chu trình khai thác vượt quá ngưỡng vệ sinh cho phép theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT, bao gồm vi khí hậu nóng ẩm, bụi hô hấp chứa silic tự do và tiếng ồn máy móc. Thứ hai, bệnh liên quan đến nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp là các tổn thương bệnh lý phát sinh do tiếp xúc kéo dài với môi trường ô nhiễm, điển hình là viêm mũi họng mạn tính, rối loạn cơ xương khớp và bệnh bụi phổi than. Thứ ba, tiêu chuẩn phân loại sức khỏe người lao động dựa trên Quyết định số 1613/BYT-QĐ của Bộ Y tế chia làm năm phân nhóm từ loại I (rất khỏe) đến loại V (rất yếu). Đồng thời, chức năng hô hấp được định lượng dựa trên hướng dẫn toàn cầu GOLD COPD thông qua dung tích sống gắng sức (FVC), thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) và chỉ số Gaensler để xác định các hội chứng hạn chế hoặc tắc nghẽn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, thu thập thông tin trong khung thời gian từ tháng 07 năm 2022 đến tháng 07 năm 2023. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo phương pháp chọn mẫu mô tả toàn bộ quần thể đích: trong tổng số 297 công nhân tham gia đợt khám sức khỏe, nghiên cứu đã chọn lọc được 294 công nhân sản xuất trực tiếp đạt tiêu chuẩn tuyển chọn. Tiêu chí lựa chọn bắt buộc là người lao động có thâm niên công tác từ 6 tháng trở lên nhằm bảo đảm đủ thời gian tích lũy phơi nhiễm tối thiểu để các yếu tố độc hại tác động lên cơ thể. Mẫu phân bổ gồm 184 công nhân khu vực hầm lò và 110 công nhân khu vực lộ thiên.

Quy trình thu thập dữ liệu kết hợp phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra, khám lâm sàng chuyên khoa đa hệ (tai mũi họng, răng hàm mặt, mắt, cơ xương khớp, da liễu, tuần hoàn) và đo chức năng thông khí phổi bằng máy đo điện tử Vitalograph spirometer đạt chuẩn kiểm định quốc tế. Dữ liệu môi trường lao động được đo kiểm thực địa vào mùa nóng bởi Trung tâm Y tế môi trường lao động Công thương. Toàn bộ số liệu được kiểm tra, làm sạch, nhập liệu hai lần độc lập và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0. Các kiểm định Chi bình phương được lựa chọn làm công cụ phân tích trọng tâm vì phù hợp với các biến số phân loại nhị phân, cho phép đánh giá chính xác mối liên quan giữa tuổi nghề, tác hại môi trường với tình trạng bệnh lý ở ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu trên 294 công nhân mỏ than Phấn Mễ đã ghi nhận nhiều chỉ số dịch tễ học nổi bật:

Thứ nhất, về phân loại sức khỏe tổng quát, phần lớn công nhân xếp loại II với tỷ lệ 84,4%, loại III chiếm 11,2%, loại I chiếm 2,4%, trong khi loại IV và V lần lượt chiếm 1,7% và 0,3%. Nhóm sức khỏe chưa tốt (loại III, IV, V) chiếm tổng cộng 13,3%.

Thứ hai, mô hình bệnh tật diễn ra phức tạp với tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng chiếm vị trí cao nhất là 63,3% (trong đó thể mạn tính chiếm 59,9%, tập trung chủ yếu ở bệnh lý họng và thanh quản với 45,9%). Bệnh cơ xương khớp đứng thứ hai với tỷ lệ 48,5%, theo sau là răng hàm mặt chiếm 41,8%, các bệnh về mắt chiếm 37,4%, tiêu hóa chiếm 17,7% và tim mạch chiếm 12,9% (chủ yếu là biến động huyết áp với 11,9%). Đáng lưu ý, có tới 29,6% công nhân mắc cùng lúc từ 4 loại bệnh tật trở lên.

Thứ ba, tình trạng thông khí phổi bị tổn thương nghiêm trọng với 50,3% công nhân có biểu hiện suy giảm chức năng hô hấp. Rối loạn thông khí kiểu hạn chế chiếm ưu thế tuyệt đối với 48,3%, kiểu tắc nghẽn chiếm 1,7% và thể hỗn hợp là 0,3%. Tỷ lệ suy giảm ở khu vực lộ thiên (53,6%) cao hơn khu vực hầm lò (48,4%).

Thứ tư, phân tích tương quan cho thấy thâm niên nghề nghiệp là yếu tố nguy cơ then chốt: nhóm công nhân có tuổi nghề trên 10 năm có tỷ lệ sức khỏe chưa tốt là 16,5%, cao gấp gần 3 lần nhóm có tuổi nghề từ 10 năm trở xuống (5,7%) với p < 0,05. Đồng thời, công nhân tiếp xúc với vi khí hậu nóng vượt chuẩn vệ sinh có tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng và hô hấp lên tới 77,6%, cao hơn rõ rệt so với mức 61,2% ở nhóm làm việc tại môi trường đạt chuẩn (p < 0,05).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng vượt trội (63,3%) hoàn toàn tương thích với đặc thù mỏ Phấn Mễ. Bụi than mỡ giàu lưu huỳnh và hợp chất hydrocacbon thơm dạng vòng có xu hướng bám dính mạnh mẽ vào niêm mạc đường hô hấp trên. Các hạt bụi kích thước từ 2 đến 30 micromet khi xâm nhập vào hốc mũi làm tê liệt hoạt động của hệ thống lông chuyển biểu mô, phá hủy hàng rào nhầy bảo vệ và kích hoạt các phản ứng viêm mạn tính kéo dài. Khi so sánh với nghiên cứu của Nguyễn Như Đua (2021) ghi nhận tỷ lệ viêm mũi xoang mạn tính ở công nhân khai thác than là 63,55%, kết quả tại Phấn Mễ phản ánh sự tương đồng về gánh nặng bệnh lý đường hô hấp trong ngành than.

Bên cạnh đó, tỷ lệ bệnh cơ xương khớp lên tới 48,5% phản ánh tư thế lao động nặng nhọc, gò bó trong không gian hầm lò chật hẹp kết hợp việc mang vác nặng, phù hợp với các báo cáo quốc tế của Xianting Yong về tỷ lệ rối loạn cơ xương ở thợ mỏ đạt mức 65,6%. Các phát hiện này có thể được minh họa trực quan rất hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng phân tầng mức độ tổn thương theo khu vực sản xuất hoặc bảng ma trận tương quan chỉ rõ mức chênh lệch nguy cơ mắc bệnh theo từng nấc thang tuổi nghề. Nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ nghỉ ốm lên đến 62,9% với 42,8% công nhân tự ý điều trị, gián tiếp cho thấy hệ thống y tế cơ sở cần chuyển dịch từ khám chữa bệnh thụ động sang quản lý nguy cơ chủ động.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, bốn nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ cần được triển khai:

Thứ nhất, nâng cấp hệ thống kỹ thuật thông gió và kiểm soát bụi: Ban Giám đốc và phòng kỹ thuật an toàn mỏ than Phấn Mễ cần tiến hành rà soát, lắp đặt thêm các hệ thống quạt thông gió cục bộ và đầu phun sương áp lực cao tại các gương than hầm lò cùng các điểm sàng tuyển lộ thiên. Mục tiêu cụ thể là hạ nhiệt độ làm việc xuống dưới 32 độ C và giảm nồng độ bụi hô hấp về dưới giới hạn cho phép theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT, lộ trình hoàn thành trong quý 1 và quý 2 năm 2024.

Thứ hai, chuẩn hóa phương tiện bảo vệ cá nhân: Bộ phận an toàn vệ sinh lao động cần tổ chức cấp phát định kỳ và giám sát nghiêm ngặt việc sử dụng khẩu trang hoạt tính chuyên dụng có khả năng ngăn ngừa bụi than mỡ và hơi khí độc, kết hợp trang bị nút tai chống ồn. Mục tiêu đạt 100% công nhân mang khẩu trang đúng quy chuẩn suốt ca làm việc, phấn đấu giảm tỷ lệ mắc mới bệnh tai mũi họng xuống dưới 15% trong giai đoạn 2024 - 2025.

Thứ ba, củng cố hoạt động y tế cơ sở và theo dõi chức năng hô hấp: Trạm Y tế mỏ cần thiết lập hồ sơ quản lý sức khỏe điện tử, định kỳ 6 tháng tổ chức đo lại chức năng thông khí phổi cho nhóm công nhân có thâm niên trên 10 năm. Chủ động luân chuyển các trường hợp có sức khỏe loại IV và V sang các vị trí lao động phụ trợ nhẹ nhàng hơn, giảm tỷ lệ công nhân tự ý mua thuốc điều trị từ 42,8% xuống dưới 20% trước tháng 12 năm 2024.

Thứ tư, tăng cường đào tạo công thái học và chăm sóc sức khỏe chủ động: Tổ chức công đoàn phối hợp với mạng lưới vệ sinh viên mở các lớp hướng dẫn kỹ thuật nâng đỡ vật nặng đúng tư thế để hạn chế chấn thương cột sống, đồng thời truyền thông tác hại của việc hút thuốc lá kết hợp với phơi nhiễm bụi than, nhằm giảm số ngày nghỉ ốm bình quân từ 6,2 ngày xuống dưới 4 ngày mỗi năm vào cuối năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là nguồn tư liệu khoa học có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:

Thứ nhất, lãnh đạo doanh nghiệp và cán bộ an toàn vệ sinh lao động ngành than: Cung cấp bức tranh thực tế về tác hại nghề nghiệp để xây dựng kế hoạch đầu tư trang thiết bị thông gió, sắp xếp ca kíp làm việc khoa học và cắt giảm chi phí phát sinh do công nhân nghỉ ốm dài ngày.

Thứ hai, đội ngũ y tế cơ sở tại các khu công nghiệp, hầm mỏ: Nắm bắt phương pháp đo lường chức năng hô hấp qua chỉ số FVC, FEV1 và quy trình phân loại sức khỏe chuẩn xác theo quy định của Bộ Y tế, từ đó phát hiện sớm các dấu hiệu suy giảm thông khí và bệnh bụi phổi.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng và Sức khỏe nghề nghiệp: Tham khảo thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách tiếp cận xử lý số liệu môi trường kết hợp lâm sàng và các kiểm định thống kê y học trong môi trường công nghiệp nặng.

Thứ tư, các nhà hoạch định chính sách bảo hiểm và an toàn lao động: Sử dụng bằng chứng khoa học về mối liên quan giữa tuổi nghề trên 10 năm với mức độ tổn thương đa cơ quan để hoàn thiện các quy chuẩn quốc gia về thời giờ làm việc, chế độ bồi dưỡng độc hại và danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng ở công nhân mỏ than Phấn Mễ ở mức nào và nguyên nhân do đâu?

Nghiên cứu ghi nhận 63,3% công nhân mắc bệnh tai mũi họng, trong đó 59,9% là thể mạn tính. Nguyên nhân do tính chất than mỡ chứa nhiều lưu huỳnh và hợp chất hydrocacbon vòng dễ bám dính vào niêm mạc, cộng hưởng với điều kiện vi khí hậu nóng ẩm vượt chuẩn khiến hàng rào biểu mô lông chuyển hô hấp bị tổn thương thường xuyên.

Tình trạng suy giảm chức năng hô hấp của người lao động tại mỏ diễn ra ra sao?

Có tới 50,3% công nhân tham gia nghiên cứu bị suy giảm chức năng hô hấp khi đo bằng phế dung kế. Dạng rối loạn thông khí hạn chế chiếm ưu thế với 48,3%, dạng tắc nghẽn chiếm 1,7% và dạng kết hợp là 0,3%. Điều này chứng tỏ dung tích phổi của thợ mỏ đang bị thu hẹp đáng kể do hít phải bụi than lâu ngày.

Thâm niên làm việc ảnh hưởng như thế nào đến mức độ suy giảm sức khỏe của thợ mỏ?

Tuổi nghề trên 10 năm có mối liên quan mật thiết với suy giảm thể lực. Nhóm công nhân có thâm niên trên 10 năm ghi nhận tỷ lệ sức khỏe chưa tốt (loại III, IV, V) là 16,5%, cao hơn gấp gần 3 lần so với mức 5,7% ở nhóm có thâm niên từ 10 năm trở xuống với ý nghĩa thống kê rõ rệt (p < 0,05).

Tại sao khu vực khai thác lộ thiên lại có tỷ lệ nghỉ ốm cao hơn khu vực hầm lò?

Khu vực lộ thiên ghi nhận tỷ lệ nghỉ ốm 70,0% với trung bình 7,6 ngày nghỉ, cao hơn khu vực hầm lò (58,7% và 5,4 ngày). Nguyên nhân do lực lượng lao động lộ thiên có cơ cấu tuổi đời cao hơn (62,7% từ 40 tuổi trở lên) và chịu tác động trực tiếp từ biến đổi thời tiết, bức xạ mặt trời gay gắt ngoài trời.

Thực trạng tự điều trị bệnh của công nhân mỏ than cảnh báo vấn đề gì?

Có 42,8% công nhân tự ý mua thuốc điều trị và 1,4% không điều trị khi phát sinh triệu chứng. Thực trạng này phản ánh thói quen coi nhẹ bệnh mạn tính và tâm lý ngại đi khám, làm gia tăng nguy cơ tái phát các đợt viêm đường hô hấp cấp và đẩy số ngày nghỉ ốm bình quân lên 6,2 ngày mỗi năm.

Kết luận

  • Tỷ lệ công nhân đạt phân loại sức khỏe tốt (loại I và II) là 86,7%, nhưng nhóm sức khỏe trung bình và yếu (loại III, IV, V) vẫn chiếm tới 13,3% tổng số lao động.
  • Bệnh lý tai mũi họng là vấn đề sức khỏe phổ biến nhất với tỷ lệ mắc 63,3%, trong đó bệnh thể mạn tính chiếm ưu thế vượt trội lên đến 59,9%.
  • Hơn một nửa số công nhân (50,3%) bị suy giảm chức năng hô hấp, chủ yếu biểu hiện dưới dạng hội chứng rối loạn thông khí hạn chế (48,3%).
  • Tuổi nghề trên 10 năm và điều kiện vi khí hậu nóng vượt tiêu chuẩn vệ sinh là hai yếu tố nguy cơ hàng đầu làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và giảm sút thể lực (p < 0,05).
  • Tỷ lệ tự ý điều trị ở mức cao (42,8%), trực tiếp tác động làm gia tăng số ngày nghỉ ốm bình quân hàng năm lên 6,2 ngày cho mỗi công nhân mỏ.

Luận văn đã cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học toàn diện, làm sáng tỏ gánh nặng bệnh tật đặc thù tại Mỏ than Phấn Mễ, Thái Nguyên. Các cấp quản lý doanh nghiệp và ngành than cần nhanh chóng triển khai các khuyến nghị kỹ thuật thông gió, trang bị bảo hộ đạt chuẩn và đổi mới quy trình y tế dự phòng trong giai đoạn 2024 - 2025. Đầu tư bảo vệ môi trường làm việc chính là giải pháp cốt lõi để nâng cao năng suất và bảo đảm sinh mệnh bền vững cho người thợ mỏ.