Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng dinh dưỡng thanh thiếu niên là vấn đề y tế công cộng trọng điểm khi nhóm tuổi từ 10 đến 19 chiếm khoảng 20% dân số toàn cầu và đạt xấp xỉ 15% tại Việt Nam. Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông từ 15 đến 18 tuổi đại diện cho giai đoạn vị thành niên muộn, được xem là cửa sổ cơ hội cuối cùng để bứt phá chiều cao và hoàn thiện thể chất trước khi bước vào độ tuổi trưởng thành. Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng khi tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn tồn tại dai dẳng song song với sự gia tăng nhanh chóng của tình trạng thừa cân, béo phì. Tại tỉnh Hà Tĩnh, một địa phương thuộc vùng Bắc Trung Bộ với đặc trưng khí hậu khắc nghiệt, các nghiên cứu chuyên sâu về nhân trắc học và dinh dưỡng học đường ở bậc trung học phổ thông vẫn còn rất hạn chế.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học dự phòng của tác giả Nguyễn Hòa tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn này. Nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu cốt lõi: mô tả thực trạng dinh dưỡng của học sinh Trường Trung học phổ thông Hồng Lĩnh, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh năm 2021; đồng thời phân tích các yếu tố liên quan đến gia đình, hoàn cảnh kinh tế và thói quen sinh hoạt tác động tới thể trạng học sinh. Đề tài triển khai từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 8 năm 2022 trên toàn bộ 1.041 học sinh của cả 3 khối lớp 10, 11 và 12. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp bằng chứng dịch tễ học tin cậy, làm cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược can thiệp y tế học đường, hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi từ 10,8% xuống dưới 8% và kiểm soát tỷ lệ thừa cân béo phì ở mức an toàn dưới 10% tại địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng chuẩn tăng trưởng nhân trắc học theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2007 dành cho trẻ từ 10 đến 19 tuổi, kết hợp lý thuyết gánh nặng kép dinh dưỡng và mô hình sinh thái xã hội về hành vi sức khỏe. Ba khái niệm nền tảng được định hình chặt chẽ gồm: Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm cấu trúc và chức năng cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng; Suy dinh dưỡng thể thấp còi và thể gầy còm thể hiện sự thiếu hụt năng lượng, protein tích lũy kéo dài hoặc cấp tính; Thừa cân, béo phì là tình trạng tích lũy mỡ bất thường vượt quá mức sinh học cho phép. Hệ thống chỉ số nhân trắc học sử dụng Z-score chiều cao theo tuổi để xác định suy dinh dưỡng thấp còi với ngưỡng dưới -2SD là mức vừa và dưới -3SD là mức nặng; đồng thời sử dụng Z-score chỉ số khối cơ thể theo tuổi để phân loại suy dinh dưỡng thể gầy còm (dưới -2SD), thừa cân (từ trên +1SD đến dưới +2SD) và béo phì (từ +2SD trở lên).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 1.041 học sinh thuộc 3 khối lớp (khối 10 có 415 học sinh, khối 11 có 323 học sinh, khối 12 có 303 học sinh) cùng 1.041 phụ huynh tại Trường Trung học phổ thông Hồng Lĩnh. Phương pháp chọn mẫu chủ đích toàn bộ được lựa chọn nhằm khảo sát toàn diện học sinh của trường trung học phổ thông duy nhất trên địa bàn thị xã, triệt tiêu sai số chọn mẫu ngẫu nhiên và đảm bảo tính đại diện trọn vẹn cho quần thể học sinh địa phương.

Dữ liệu nhân trắc được thu thập trực tiếp bằng cân SECA Nhật Bản có độ chính xác 0,1 kg và thước gỗ UNICEF có vạch chia chính xác 1 mm, mỗi đối tượng được đo 2 lần độc lập để lấy giá trị trung bình. Dữ liệu dịch tễ học và hành vi được khai thác qua bộ câu hỏi cấu trúc chuẩn hóa. Tiến trình nghiên cứu diễn ra từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 8 năm 2022. Toàn bộ số liệu được kiểm tra, làm sạch, nhập liệu hai lần bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích trên phần mềm SPSS 26.0. Lý do áp dụng kiểm định Chi-square là để đánh giá chuẩn xác mối liên quan có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng p < 0,05 giữa các biến số định tính như hoàn cảnh kinh tế, thói quen ăn uống, tiếp cận truyền thông với tình trạng dinh dưỡng của học sinh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về chỉ số phát triển thể lực chung, cân nặng trung bình của học sinh là 53,1 ± 13,1 kg, trong đó nam sinh đạt 56,9 ± 13,7 kg, cao hơn rõ rệt so với nữ sinh là 48,9 ± 11,1 kg (p < 0,05). Chiều cao trung bình chung đạt 161,1 ± 8,6 cm, với nam sinh đạt 166,3 ± 6,9 cm và nữ sinh đạt 155,5 ± 6,3 cm (p < 0,05). Chỉ số BMI trung bình chung của toàn trường ở mức 20,4 ± 4,6 kg/m2, không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa hai giới.

Thứ hai, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi chiếm 10,8% (tương đương 113 học sinh), trong đó mức độ vừa là 9,6% và mức độ nặng là 1,2%. Tỷ lệ thấp còi ở nữ sinh (11,8%) cao hơn nam sinh (10,0%). Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm theo BMI ghi nhận ở mức 6,9% (72 học sinh), tỷ lệ ở nữ (7,6%) cũng cao hơn so với nam (6,3%).

Thứ ba, tỷ lệ thừa cân và béo phì ở học sinh ghi nhận ở mức 10,8% (112 học sinh), trong đó tỷ lệ thừa cân chiếm 9,6% và béo phì chiếm 1,2%. Học sinh nam có xu hướng thừa cân béo phì cao hơn học sinh nữ với tỷ lệ lần lượt là 11,7% so với 9,8%.

Thứ tư, nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan chặt chẽ đến tình trạng suy dinh dưỡng của học sinh (p < 0,05). Nhóm học sinh có gia đình từ 3 con trở lên có tỷ lệ suy dinh dưỡng là 19,2%, cao hơn đáng kể so với mức 14,9% ở nhóm gia đình có từ 2 con trở xuống. Học sinh có thu nhập hộ gia đình dưới 2.000.000 đồng/người/tháng có tỷ lệ suy dinh dưỡng là 20,6%, cao hơn nhóm thu nhập từ 2.000.000 đồng trở lên (15,3%). Học sinh không tiếp cận truyền thông dinh dưỡng có tỷ lệ suy dinh dưỡng 18,1%, cao gần gấp đôi nhóm được tiếp cận (9,2%). Đặc biệt, học sinh có thói quen ăn kiêng có tỷ lệ suy dinh dưỡng lên tới 23,7%, vượt trội so với mức 16,0% ở nhóm không ăn kiêng.

Thảo luận kết quả

Sự tồn tại song hành giữa 10,8% suy dinh dưỡng thấp còi và 10,8% thừa cân béo phì phản ánh rõ nét gánh nặng kép dinh dưỡng tại một thị xã đang trong tiến trình đô thị hóa. Khi đối chiếu với các công bố khoa học tại Hải Phòng của nhóm tác giả Lê Trần Tuấn Anh và Nguyễn Thị Thắm năm 2021, tỷ lệ thấp còi tại Hồng Lĩnh (10,8%) cao hơn đáng kể so với mức 6,4% tại Hải Phòng, xuất phát từ điều kiện kinh tế gia đình và mức sống tại miền Trung còn nhiều khó khăn. Ngược lại, tỷ lệ thừa cân béo phì tại Hồng Lĩnh (10,8%) thấp hơn học sinh Hải Phòng (17,3%) và học sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh (27,5%), bởi lối sống tiêu thụ thức ăn nhanh và đồ uống ngọt chưa phổ biến ồ ạt như các đô thị lớn. Thói quen ăn kiêng sai khoa học ở nữ sinh lứa tuổi này là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng tỷ lệ gầy còm.

Về phương thức trực quan hóa, toàn bộ phân bố nhân trắc học có thể được trình bày tối ưu qua biểu đồ cột đôi thể hiện tương quan chiều cao và cân nặng theo 3 độ tuổi (16, 17 và 18 tuổi), kết hợp biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ trọng 4 nhóm dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể (82,3% bình thường, 9,6% thừa cân, 6,9% gầy còm và 1,2% béo phì). Bảng ma trận chéo biểu diễn kết quả kiểm định Chi-square giữa thói quen ăn kiêng, mức thu nhập gia đình và tình trạng suy dinh dưỡng sẽ làm nổi bật trực quan các biến số nguy cơ.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ kết quả phân tích thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp hành động cụ thể:

Thứ nhất, tổ chức truyền thông giáo dục dinh dưỡng học đường định kỳ do Ban Giám hiệu nhà trường chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Y tế thị xã Hồng Lĩnh. Hành động cụ thể: triển khai ít nhất 2 buổi ngoại khóa chuyên đề mỗi học kỳ cho 100% học sinh cả 3 khối lớp về lựa chọn thực phẩm lành mạnh, loại bỏ thói quen nhịn ăn và hướng dẫn kiểm soát cân nặng an toàn. Mục tiêu: giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm học sinh ăn kiêng từ 23,7% xuống dưới 15% trong vòng 12 tháng của năm học tiếp theo.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình giám sát thể lực định kỳ do cán bộ y tế học đường thực hiện, có sự phối hợp kỹ thuật từ Trạm Y tế phường Bắc Hồng. Hành động cụ thể: tổ chức cân đo nhân trắc học 2 lần mỗi năm học vào tháng 9 và tháng 5 cho toàn bộ 1.041 học sinh. Mục tiêu: lập hồ sơ theo dõi cho 100% học sinh có chỉ số Z-score dưới -2SD hoặc trên +2SD, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ thấp còi từ 10,8% xuống dưới 8% trong lộ trình 24 tháng.

Thứ ba, tăng cường hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa do Đoàn Thanh niên và tổ Thể dục nhà trường đảm trách. Hành động cụ thể: thành lập tối thiểu 4 câu lạc bộ thể thao học đường, thúc đẩy học sinh vận động thể lực tích cực ít nhất 45 phút mỗi ngày và từ 4 ngày trở lên mỗi tuần. Mục tiêu: kiểm soát tỷ lệ thừa cân béo phì ở mức an toàn dưới 9% trước năm 2025.

Thứ tư, hỗ trợ tư vấn dinh dưỡng gia đình do Hội Phụ huynh học sinh phối hợp với chính quyền địa phương thị xã Hồng Lĩnh thực hiện. Hành động cụ thể: cung cấp cẩm nang hướng dẫn bữa ăn gia đình đủ vi chất cho 252 hộ có thu nhập dưới 2.000.000 đồng/người/tháng và các hộ sinh từ 3 con trở lên. Mục tiêu: hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm gia đình đông con từ 19,2% về mức bình quân chung trong giai đoạn 2023 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là cán bộ y tế trường học và chuyên viên y tế dự phòng tuyến cơ sở. Lợi ích: nắm bắt thực trạng gánh nặng kép với 10,8% thấp còi và 10,8% thừa cân béo phì. Use case: áp dụng quy trình đánh giá Z-score chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới và kỹ thuật đo lường nhân trắc học bằng thiết bị SECA, UNICEF để lập hồ sơ sức khỏe định kỳ cho hơn 1.000 học sinh tại các trường trung học.

Nhóm thứ hai là ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm và cán bộ quản lý giáo dục bậc phổ thông. Lợi ích: nhận thức rõ mức độ tác động của thói quen ăn kiêng thiếu khoa học (làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng lên 23,7%). Use case: xây dựng kế hoạch lồng ghép giáo dục dinh dưỡng vào chương trình sinh hoạt ngoại khóa và bố trí thời lượng vận động thể thao tối thiểu 45 phút mỗi ngày cho học sinh 3 khối lớp 10, 11 và 12.

Nhóm thứ ba là học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng và Dinh dưỡng học. Lợi ích: sở hữu bộ tài liệu tham khảo chuẩn mực về dịch tễ học dinh dưỡng tại dải đất Bắc Trung Bộ trên cỡ mẫu 1.041 đối tượng. Use case: kế thừa mô hình nhập liệu EpiData 3.1 và phương pháp kiểm định SPSS 26.0 để triển khai các nghiên cứu so sánh liên vùng hoặc can thiệp dinh dưỡng cộng đồng.

Nhóm thứ tư là phụ huynh học sinh, đặc biệt là các gia đình có từ 3 con trở lên hoặc thu nhập dưới 2.000.000 đồng/người/tháng. Lợi ích: nhận diện rõ các yếu tố nguy cơ dẫn đến tỷ lệ suy dinh dưỡng 19,2% ở gia đình đông con và 11,7% thừa cân ở nam sinh. Use case: chủ động cải thiện khẩu phần ăn gia đình, hạn chế đồ uống có gas và duy trì nền nếp ăn bữa sáng đầy đủ 7 ngày trong tuần cho học sinh.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở học sinh THPT Hồng Lĩnh hiện nay là bao nhiêu? Nghiên cứu trên 1.041 học sinh ghi nhận tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là 10,8% (113 học sinh), trong đó mức độ vừa chiếm 9,6% và mức độ nặng chiếm 1,2%. Nữ sinh có tỷ lệ thấp còi (11,8%) cao hơn nam sinh (10,0%), khẳng định nhu cầu cấp thiết cần bổ sung dinh dưỡng phát triển chiều cao trước khi bước qua độ tuổi 18.

Tình trạng thừa cân và béo phì tại trường có ở mức báo động không? Tổng tỷ lệ thừa cân và béo phì tại trường là 10,8% (112 học sinh), bao gồm 9,6% thừa cân và 1,2% béo phì. Nam sinh có tỷ lệ thừa cân béo phì đạt 11,7%, cao hơn mức 9,8% ở nữ sinh. Dù thấp hơn mức 17,3% tại Hải Phòng, con số này chứng minh gánh nặng kép dinh dưỡng đang hiện hữu rõ nét tại thị xã Hồng Lĩnh.

Yếu tố hoàn cảnh gia đình tác động như thế nào đến nguy cơ suy dinh dưỡng? Phân tích thống kê chỉ ra học sinh trong gia đình có mức thu nhập dưới 2.000.000 đồng/người/tháng có tỷ lệ suy dinh dưỡng là 20,6%, cao hơn nhóm thu nhập từ 2.000.000 đồng trở lên (15,3%). Đồng thời, học sinh sống trong gia đình có từ 3 con trở lên có tỷ lệ suy dinh dưỡng đạt 19,2%, cao hơn so với nhóm gia đình có từ 2 con trở xuống (14,9%) với p < 0,05.

Thói quen ăn kiêng ảnh hưởng ra sao tới tình trạng dinh dưỡng của học sinh? Thói quen ăn kiêng không đúng cách làm gia tăng nguy cơ suy dinh dưỡng nghiêm trọng. Nhóm học sinh có thói quen ăn kiêng từ 4 ngày mỗi tuần trở lên có tỷ lệ suy dinh dưỡng lên tới 23,7%, cao hơn rõ rệt so với mức 16,0% ở nhóm không ăn kiêng (p < 0,05). Thanh thiếu niên thường tự ý cắt giảm khẩu phần ăn dẫn tới thiếu hụt năng lượng và vi chất.

Truyền thông giáo dục dinh dưỡng có thực sự mang lại hiệu quả phòng ngừa suy dinh dưỡng? Học sinh chưa được tiếp cận truyền thông giáo dục dinh dưỡng có tỷ lệ suy dinh dưỡng lên tới 18,1%. Ngược lại, nhóm học sinh được tiếp cận truyền thông chỉ có tỷ lệ suy dinh dưỡng là 9,2% (p < 0,05). Sự chênh lệch gần 2 lần chứng minh việc phổ biến kiến thức đóng vai trò bảo vệ sức khỏe và cải thiện thể trạng học đường rất rõ rệt.

Kết luận

Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của học sinh Trường THPT Hồng Lĩnh đem lại những kết luận bản lề sau:

  • Khảo sát toàn diện 1.041 học sinh phản ánh thể lực với cân nặng trung bình 53,1 kg và chiều cao trung bình 161,1 cm.
  • Khẳng định gánh nặng kép dinh dưỡng với tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi 10,8% và tỷ lệ thừa cân béo phì 10,8%.
  • Xác định các yếu tố nguy cơ cốt lõi gồm thu nhập dưới 2.000.000 đồng/người/tháng (20,6% suy dinh dưỡng), số con từ 3 trở lên (19,2%) và thói quen ăn kiêng (23,7%).
  • Làm sáng tỏ vai trò của truyền thông giáo dục dinh dưỡng giúp cắt giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng từ 18,1% xuống 9,2%.
  • Tạo lập luận cứ khoa học tin cậy phục vụ hoạch định chính sách y tế học đường tại tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2023 - 2025.

Về lộ trình tiếp theo, nhà trường và ngành y tế địa phương cần thiết lập cơ chế giám sát thể lực 2 lần mỗi năm học, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi xuống dưới 8% trước năm 2025. Độc giả quan tâm và các nhà quản lý y tế công cộng hãy nghiên cứu toàn văn luận văn để áp dụng ngay bộ giải pháp can thiệp thể lực học đường thiết thực này.