Tổng quan nghiên cứu

Sức khỏe răng miệng học đường là một trong những ưu tiên hàng đầu của y tế công cộng toàn cầu. Báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh răng miệng ở lứa tuổi thanh thiếu niên dao động từ 60% đến 90%, gây ra hàng trăm nghìn giờ học bị gián đoạn mỗi năm. Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học qua nhiều thời kỳ đều chỉ ra rằng tỷ lệ sâu răng ở học sinh tiểu học luôn duy trì ở ngưỡng báo động, thường xuyên vượt trên mức 70% và có xu hướng gia tăng tại khu vực nông thôn, miền núi.

Giai đoạn từ 6 đến 12 tuổi là thời kỳ trẻ sở hữu bộ răng hỗn hợp, khi các răng sữa lần lượt tiêu chân để nhường chỗ cho răng vĩnh viễn mọc lên. Cấu trúc men răng trong giai đoạn này chưa hoàn thiện, độ khoáng hóa chưa cao cùng thói quen ăn đồ ngọt và ý thức vệ sinh chưa tốt khiến trẻ đối mặt với nguy cơ sâu răng rất lớn. Hậu quả của việc mất răng sớm không chỉ làm suy giảm chức năng ăn nhai, phát âm sai lệch mà còn dẫn tới hiện tượng xô lệch cung hàm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thẩm mỹ và sự phát triển thể chất lâu dài của trẻ. Tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ - một địa bàn miền núi với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, công tác chăm sóc sức khỏe răng miệng học đường vẫn còn gặp nhiều rào cản và thiếu vắng các nghiên cứu cập nhật.

Đề tài luận văn thạc sĩ Y học của tác giả Nguyễn Hồng Chuyên được thực hiện nhằm hai mục tiêu cốt lõi: Mô tả thực trạng bệnh sâu răng ở học sinh hai trường tiểu học huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ năm 2020 và phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng ở nhóm đối tượng này. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 6/2020 đến tháng 11/2021 tại Trường Tiểu học Ngọc Quan và Trường Tiểu học Bằng Luân trên cỡ mẫu 300 học sinh. Luận văn cung cấp bức tranh dịch tễ học chân thực với tỷ lệ sâu răng chung lên tới 96,7%, trong đó tỷ lệ sâu răng sữa là 91,0% và sâu răng vĩnh viễn là 64,0%. Kết quả này mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, làm cơ sở khoa học để các nhà quản lý y tế và giáo dục xây dựng can thiệp nha học đường phù hợp cho khu vực miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ chế bệnh sinh của sâu răng dựa trên mô hình kinh điển đa yếu tố của Keyes kết hợp với các bổ sung hiện đại của Newbrun. Quá trình sâu răng hình thành từ sự tương tác phức tạp giữa 4 yếu tố chính: Vi khuẩn trong mảng bám răng (đặc biệt là Streptococcus mutans và Lactobacillus), chất nền carbohydrate (chủ yếu là đường sucrose từ thực phẩm), sức đề kháng của vật chủ (cấu trúc men răng, lưu lượng và độ pH nước bọt) và yếu tố thời gian. Khi vi khuẩn lên men carbohydrate, độ pH trong khoang miệng giảm xuống dưới ngưỡng tới hạn 5,5, dẫn tới hiện tượng hủy khoáng men răng. Nếu quá trình hủy khoáng diễn ra liên tục mà không có sự tái khoáng kịp thời từ các ion canxi, phosphat và fluor trong nước bọt, tổn thương sâu răng sẽ tiến triển từ mất khoáng vi thể dưới bề mặt đến hình thành lỗ sâu trên lâm sàng.

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ICDAS II kết hợp chỉ số sâu mất trám răng cổ điển của Tổ chức Y tế Thế giới. Hệ thống ICDAS II gồm 7 mã phân loại từ 0 đến 6, cho phép phát hiện các tổn thương sâu răng sớm ngay từ giai đoạn mất khoáng đốm trắng sau khi thổi khô 5 giây đến các xoang sâu ngà lan rộng. Các khái niệm trọng tâm xuyên suốt nghiên cứu bao gồm: Bộ răng hỗn hợp (giai đoạn chuyển giao răng sữa sang răng vĩnh viễn), chỉ số smtr ở răng sữa, chỉ số SMTr ở răng vĩnh viễn (đại diện cho tổng số răng sâu, mất do sâu và đã trám hàn), cùng các tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành vệ sinh răng miệng đạt chuẩn khi điểm số đạt từ 80% trở lên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính. Cỡ mẫu định lượng được tính toán dựa trên công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95%, mức sai số tuyệt đối 0,0734 và tỷ lệ sâu răng tham khảo từ các nghiên cứu trước là 73,4%, cho ra quy mô tối thiểu 140 học sinh cho mỗi điểm trường. Trên thực tế, tác giả đã tiến hành khảo sát toàn diện trên 300 học sinh, bao gồm 145 học sinh tại Trường Tiểu học Ngọc Quan (đại diện khu vực gần trung tâm huyện) và 155 học sinh tại Trường Tiểu học Bằng Luân (đại diện khu vực xa trung tâm).

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu nhiều giai đoạn có phân tầng và chọn cụm. Ở giai đoạn một, tác giả lập danh sách 28 trường tiểu học trên địa bàn huyện Đoan Hùng, phân chia thành hai cụm địa lý gồm 12 trường gần trung tâm và 16 trường xa trung tâm, sau đó chọn ngẫu nhiên mỗi cụm một trường đại diện. Ở giai đoạn hai, tại mỗi trường có 5 khối lớp (từ lớp 1 đến lớp 5), tiến hành chọn ngẫu nhiên 1 lớp ở mỗi khối, sau đó mời toàn bộ 100% học sinh trong các lớp được chọn tham gia nghiên cứu. Hợp phần định tính được thực hiện song song thông qua 4 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ y tế học đường, lãnh đạo nhà trường, nhân viên y tế xã và 1 cuộc thảo luận nhóm mở rộng thu hút sự tham gia của 312 người gồm giáo viên, phụ huynh và học sinh.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Toàn bộ dữ liệu lâm sàng và phỏng vấn được làm sạch, nhập liệu hai lần độc lập bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích trên phần mềm thống kê sinh học SPSS 22.0. Việc sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình kết hợp độ lệch chuẩn) giúp phác họa rõ nét mức độ trầm trọng của tổn thương răng. Phương pháp kiểm định Chi-square test với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05 được lựa chọn nhằm xác định chính xác mối liên quan giữa tình trạng sâu răng với các biến số nhân khẩu học, trình độ học vấn của cha mẹ, kiến thức phòng bệnh và thói quen sinh hoạt của học sinh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng sâu răng ở học sinh hai trường tiểu học huyện Đoan Hùng ghi nhận tỷ lệ hiện mắc rất cao lên tới 96,7% (290 trên tổng số 300 học sinh được khám). Tỷ lệ sâu răng giữa hai trường tương đương nhau và không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với p > 0,05: Trường Tiểu học Ngọc Quan ghi nhận 97,9% (142 học sinh) và Trường Tiểu học Bằng Luân ghi nhận 95,5% (148 học sinh). Xét theo giới tính, học sinh nữ có tỷ lệ sâu răng là 98,2%, cao hơn so với học sinh nam là 94,9% (p > 0,05).

Cơ cấu bệnh sâu răng có sự dịch chuyển rõ rệt theo lứa tuổi. Tỷ lệ sâu răng sữa đạt mức đỉnh điểm ở nhóm 6 tuổi với 98,3%, duy trì ở mức 98,0% lúc 7 tuổi, sau đó giảm dần xuống 92,0% ở 8 tuổi, 94,5% ở 9 tuổi và chạm mức thấp nhất 73,3% ở nhóm từ 10 tuổi trở lên (p < 0,001). Trái lại, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn lại tăng tịnh tiến theo độ tuổi của trẻ: Từ mức 32,2% ở trẻ 6 tuổi, tăng lên 56,9% lúc 7 tuổi, 74,7% lúc 8 tuổi, 76,4% lúc 9 tuổi và đạt tỷ lệ cao nhất 76,7% ở nhóm từ 10 tuổi trở lên (p < 0,001). Tính chung toàn bộ mẫu nghiên cứu, tỷ lệ sâu răng sữa là 91,0% và tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 64,0%.

Về vị trí giải phẫu, tổn thương sâu răng tập trung chủ yếu ở các răng chức năng nhai chính. Đối với hàm răng sữa, tỷ lệ sâu răng cối chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 90,0% (270 học sinh), tiếp đến là nhóm răng nanh chiếm 43,3% (130 học sinh) và thấp nhất là nhóm răng cửa với 25,7% (77 học sinh). Đối với hàm răng vĩnh viễn, sâu răng hàm tiếp tục chiếm tỷ lệ cao nhất với 61,0% (183 học sinh), nhóm răng cửa chiếm 12,0% (36 học sinh) và răng nanh chỉ chiếm 1,3% (4 học sinh).

Chỉ số mức độ trầm trọng sâu mất trám răng sữa (smtr) trung bình của quần thể là 7,29 ± 4,47 răng. Trong đó, thành phần răng sâu chưa được can thiệp chiếm tỷ lệ chủ đạo với 5,79 ± 3,59 răng, răng đã trám chỉ đạt 1,28 ± 1,72 răng và răng mất do sâu là 0,23 ± 0,74 răng. Đáng chú ý, chỉ số smtr cao nhất ở nhóm trẻ 6 tuổi với 10,20 ± 4,83 răng (trong đó trung bình mỗi trẻ có tới 8,44 răng bị sâu), sau đó giảm dần xuống 8,94 ở trẻ 7 tuổi và còn 4,22 ở trẻ từ 10 tuổi trở lên (p < 0,001).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ mắc sâu răng 96,7% tại huyện Đoan Hùng cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung của nhiều nghiên cứu trong nước, chẳng hạn như nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Diễm năm 2016 (73,4%), nghiên cứu tại Hà Nội của Đỗ Thị Thu Hiền (74,9%) hay nghiên cứu tại Hải Phòng của Phạm Văn Trọng (khoảng 20% đến 30%). Tuy nhiên, con số này lại tương đồng với các phát hiện tại các vùng nông thôn châu Á như khảo sát của Nomura năm 2020 trên trẻ em tiểu học Myanmar (93,0%) hay nghiên cứu tại Thái Nguyên của Trần Đình Tuyên năm 2021 khi sử dụng tiêu chuẩn ICDAS II (87,1%). Sự khác biệt này bắt nguồn từ việc đề tài ứng dụng hệ thống ICDAS II kết hợp thám trâm chuyên dụng và làm khô mặt răng, giúp phát hiện triệt để cả những tổn thương sâu răng giai đoạn sớm chưa hình thành lỗ sâu rõ rệt mà các phương pháp khám truyền thống dễ bỏ sót.

Hiện tượng tỷ lệ sâu răng sữa giảm dần trong khi tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tăng vọt từ 32,2% lên 76,7% theo độ tuổi phản ánh chính xác quy luật sinh lý thay răng ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp. Khi trẻ lên 6 tuổi, chiếc răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất (răng số 6) bắt đầu mọc sau các răng sữa mà không trải qua quá trình thay răng. Do vị trí nằm sâu bên trong cung hàm, mặt nhai có nhiều hố rãnh phức tạp kết hợp men răng mới mọc chưa hoàn thiện khoáng hóa, răng số 6 trở thành mục tiêu tấn công hàng đầu của vi khuẩn mảng bám. Thêm vào đó, việc phụ huynh lầm tưởng răng số 6 là răng sữa sẽ tự rụng nên lơ là việc chăm sóc, dẫn tới tỷ lệ sâu răng hàm vĩnh viễn lên tới 61,0%.

Để tối ưu hóa việc truyền tải các phát hiện lâm sàng, các dữ liệu này có thể được trực quan hóa xuất sắc thông qua các công cụ đồ họa. Cụ thể, sự giao thoa đối lập giữa xu hướng sâu răng sữa và sâu răng vĩnh viễn theo lứa tuổi nên được trình bày bằng một biểu đồ đường hai trục tọa độ hoặc biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ %, làm nổi bật bước ngoặt chuyển dịch bệnh lý tại mốc 8 tuổi. Bên cạnh đó, gánh nặng can thiệp y tế nên được biểu diễn bằng biểu đồ thanh ngang xếp chồng phân tách ba thành phần của chỉ số smtr (sâu, mất, trám). Biểu đồ này sẽ làm lộ rõ khoảng trống điều trị nghiêm trọng khi cột răng sâu chiếm tới 79,4% tổng chỉ số smtr, trong khi phần răng trám chỉ chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn là 17,6%.

Đề xuất và khuyến nghị

Thực trạng sâu răng tại hai trường tiểu học Đoan Hùng đòi hỏi một chiến lược can thiệp đồng bộ, quyết liệt và đa tầng nấc với các giải pháp hành động cụ thể sau:

Thiết lập và vận hành chương trình khám sàng lọc nha khoa học đường định kỳ. Trung tâm Y tế huyện Đoan Hùng chủ trì phối hợp cùng Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức khám răng miệng định kỳ 2 lần mỗi năm học cho 100% học sinh tiểu học trên địa bàn huyện. Mục tiêu trọng tâm là phát hiện sớm các tổn thương men răng độ 1 và độ 2 theo ICDAS II, phấn đấu giảm tỷ lệ sâu răng mới ở học sinh lớp 1 xuống dưới 70% và giảm tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở khối lớp 5 xuống dưới 50% trong lộ trình từ năm 2022 đến năm 2025.

Thực hiện kỹ thuật dự phòng sâu răng chuyên sâu tại trạm y tế và trường học. Trạm Y tế xã Ngọc Quan và Bằng Luân phối hợp với cán bộ y tế trường học triển khai kỹ thuật trám bít hố rãnh bằng vật liệu Sealant bảo vệ mặt nhai cho ít nhất 80% răng hàm lớn vĩnh viễn số 6 mới mọc ở học sinh lớp 1 và lớp 2. Đồng thời, tổ chức chương trình bôi vecni fluor định kỳ 6 tháng một lần cho 90% trẻ em có nguy cơ sâu răng cao nhằm thúc đẩy quá trình tái khoáng hóa men răng, hoàn thành mục tiêu bao phủ trong giai đoạn 2023 - 2024.

Chuẩn hóa kỹ năng và tạo lập thói quen vệ sinh răng miệng cho học sinh. Ban giám hiệu các trường tiểu học chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm đưa nội dung hướng dẫn chải răng đúng cách vào các buổi sinh hoạt lớp và hoạt động ngoại khóa. Tổ chức cho 100% học sinh bán trú thực hành chải răng bằng kem đánh răng có chứa fluor sau bữa ăn trưa tại trường với thời lượng tối thiểu 3 phút mỗi lượt. Nâng cao tỷ lệ học sinh có thực hành vệ sinh răng miệng đạt chuẩn từ mức trung bình hiện nay lên trên 85% trước năm 2024.

Kiểm soát chặt chẽ chế độ dinh dưỡng và xây dựng cam kết phối hợp từ gia đình. Ban giám hiệu nhà trường phối hợp với Hội phụ huynh tiến hành kiểm duyệt nguồn thực phẩm tại căng tin trường học, loại bỏ 100% các loại nước ngọt có ga, bánh kẹo dẻo chứa hàm lượng đường tinh luyện cao ra khỏi khuôn viên trường. Phụ huynh học sinh ký cam kết đồng hành, giám sát con chải răng đều đặn ít nhất 2 lần mỗi ngày (đặc biệt là buổi tối trước khi đi ngủ) và chủ động đưa trẻ đi khám kiểm tra răng miệng định kỳ tối thiểu 1 lần trong 6 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hồng Chuyên là tài liệu tham khảo giàu giá trị khoa học và thực tiễn cho nhiều nhóm chuyên môn:

Cán bộ quản lý y tế dự phòng và nhân viên y tế học đường: Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học thực chứng trên cỡ mẫu 300 học sinh, phản ánh trung thực thực trạng sức khỏe răng miệng vùng nông thôn miền núi. Cán bộ y tế có thể sử dụng kết quả này làm luận cứ xây dựng các đề án y tế trường học, lập dự trù vật tư nha khoa lưu động và thiết lập các chỉ tiêu sức khỏe răng miệng trong kế hoạch phát triển y tế địa phương.

Ban giám hiệu và đội ngũ giáo viên tiểu học: Tài liệu hỗ trợ các nhà quản lý giáo dục nhận diện mức độ ảnh hưởng của bệnh sâu răng đến sức khỏe thể chất và sự tập trung học tập của trẻ. Giáo viên có thể trích xuất các số liệu thực tế về tỷ lệ sâu răng sữa 91,0% và sâu răng vĩnh viễn 64,0% để lồng ghép vào các bài giảng giáo dục thể chất, kỹ năng sống và sinh hoạt chuyên đề cho học sinh.

Bác sĩ Răng Hàm Mặt, học viên cao học và nghiên cứu sinh y học: Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp định tính, quy trình áp dụng bảng kiểm ICDAS II và phương pháp lượng giá chỉ số smtr/SMTr trong nha khoa cộng đồng. Đây là nền tảng tin cậy để các nhà nghiên cứu phát triển các đề tài can thiệp lâm sàng hoặc nghiên cứu theo dõi dọc.

Phụ huynh học sinh có con trong độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi: Công trình giúp phụ huynh xóa bỏ hoàn toàn định kiến sai lầm cho rằng răng sữa bị sâu không cần chữa trị vì sẽ tự thay thế. Những bằng chứng khoa học trong luận văn minh chứng rõ ràng rằng một hàm răng sữa sâu nặng với chỉ số smtr trung bình 7,29 sẽ trực tiếp tàn phá quá trình mọc răng vĩnh viễn, từ đó thúc đẩy cha mẹ chủ động chăm sóc răng miệng cho con em mình ngay từ sớm.

Câu hỏi thường gặp

Răng sữa của trẻ sớm muộn cũng thay, vậy vì sao chỉ số sâu răng sữa lên tới 91,0% lại là vấn đề đáng lo ngại? Răng sữa giữ vai trò tối quan trọng trong việc định hướng cho răng vĩnh viễn mọc đúng vị trí trên cung hàm, đồng thời đảm bảo chức năng ăn nhai và phát âm. Nghiên cứu chỉ ra rằng ở nhóm trẻ 6 tuổi, chỉ số smtr lên tới 10,20 với trung bình 8,44 răng sâu chưa được trám. Nếu răng sữa bị sâu nặng gây rụng sớm hoặc nhiễm trùng quanh chóp răng, mầm răng vĩnh viễn bên dưới sẽ bị tổn thương, men răng phát triển kém hoặc mọc xô lệch, làm tăng nguy cơ sâu răng vĩnh viễn lên gấp nhiều lần.

Tại sao tỷ lệ sâu răng ở trường Ngọc Quan gần trung tâm và trường Bằng Luân vùng xa lại tương đương nhau? Số liệu cho thấy tỷ lệ sâu răng ở trường Ngọc Quan là 97,9% và Bằng Luân là 95,5%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết quả phỏng vấn sâu chỉ ra rằng dù trường Ngọc Quan có điều kiện kinh tế phát triển hơn, học sinh tại đây lại có mức độ tiếp cận bánh kẹo ngọt và nước ngọt có ga cao hơn. Ngược lại, tại Bằng Luân, sự thiếu hụt kiến thức chăm sóc răng và khoảng cách xa cơ sở nha khoa là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ sâu răng ở hai khu vực ở mức cao tương đương nhau.

Răng hàm vĩnh viễn số 6 có đặc điểm gì khiến tỷ lệ sâu răng hàm lên tới 61,0%? Răng số 6 là răng hàm lớn vĩnh viễn đầu tiên, mọc vào lúc 6 tuổi ngay phía sau răng cối sữa cuối cùng mà không cần nhổ thay bất kỳ răng nào. Do bề mặt nhai có hệ thống hố rãnh sâu, nằm ở vị trí khuất khó vệ sinh và men răng mới mọc chưa hoàn thiện quá trình khoáng hóa, răng số 6 rất dễ tích tụ thức ăn. Đa phần phụ huynh nhầm lẫn đây là răng sữa nên không quan tâm điều trị, khiến tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tăng vọt từ 32,2% ở lớp 1 lên 76,7% ở khối lớp 5.

Chỉ số smtr trung bình 7,29 với răng sâu chiếm 5,79 phản ánh điều gì về công tác y tế địa phương? Chỉ số này phản ánh một khoảng trống điều trị rất lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe răng miệng ban đầu tại huyện Đoan Hùng. Trong tổng số 7,29 răng sữa bị sâu, mất hoặc trám, thành phần răng sâu đang hoạt động chiếm tới 5,79 răng, trong khi tỷ lệ răng được trám hàn điều trị chỉ đạt 1,28 răng. Thực tế này chứng minh các dịch vụ nha khoa phục hồi và nha khoa can thiệp tối thiểu chưa bao phủ được tới phần lớn trẻ em lứa tuổi tiểu học tại địa phương.

Hệ thống đánh giá ICDAS II có điểm gì vượt trội so với tiêu chuẩn khám truyền thống của Tổ chức Y tế Thế giới? Tiêu chuẩn WHO truyền thống chủ yếu ghi nhận tổn thương khi đã hình thành lỗ sâu rõ rệt với đáy ngà mềm chạm đáy thám trâm. Ngược lại, hệ thống ICDAS II gồm 7 cấp độ cho phép bác sĩ phát hiện các tổn thương mất khoáng sớm ngay từ mã 1 (đốm trắng sau khi thổi khô 5 giây) và mã 2 (đổi màu men răng khi ướt). Nhờ đó, nghiên cứu phát hiện được tỷ lệ mắc bệnh thực tế lên tới 96,7%, mở ra cơ hội can thiệp tái khoáng hóa bằng fluor kịp thời mà chưa cần phải khoan trám xâm lấn.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ Y học của tác giả Nguyễn Hồng Chuyên đã phác họa toàn diện bức tranh dịch tễ học răng miệng của học sinh tiểu học huyện Đoan Hùng với 5 kết luận trọng tâm:

  • Tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở học sinh hai trường tiểu học huyện Đoan Hùng ở mức rất cao với 96,7%, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trường gần trung tâm (97,9%) và trường xa trung tâm (95,5%).
  • Tỷ lệ sâu răng sữa chiếm 91,0% và sâu răng vĩnh viễn chiếm 64,0%, trong đó ghi nhận sự dịch chuyển bệnh lý rõ nét khi sâu răng sữa giảm dần từ 98,3% xuống 73,3% và sâu răng vĩnh viễn tăng vọt từ 32,2% lên 76,7% theo lứa tuổi.
  • Tổn thương sâu răng khu trú tập trung ở các răng chức năng nhai quan trọng, cụ thể là răng cối sữa chiếm 90,0% và răng hàm lớn vĩnh viễn chiếm 61,0%.
  • Mức độ trầm trọng của bệnh qua chỉ số smtr trung bình là 7,29 ± 4,47 răng, trong đó thành phần răng sâu chiếm áp đảo với 5,79 răng, phản ánh tình trạng thiếu hụt trầm trọng các can thiệp điều trị phục hồi nha khoa.
  • Tình trạng sâu răng có mối liên quan mật thiết với kiến thức vệ sinh răng miệng của học sinh, thói quen tiêu thụ bánh kẹo ngọt và sự giám sát chải răng từ phía phụ huynh.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp nguồn dữ liệu dịch tễ học chuẩn xác theo tiêu chuẩn quốc tế ICDAS II, khẳng định tính cấp bách của việc tái thiết lập chương trình nha học đường tại các huyện miền núi. Kế hoạch hành động trong giai đoạn 2022 - 2025 cần tập trung nguồn lực triển khai kỹ thuật trám bít hố rãnh bằng Sealant và bôi vecni fluor định kỳ cho học sinh các khối lớp đầu cấp. Ngành y tế, ngành giáo dục và toàn thể cộng đồng phụ huynh cần khẩn trương chung tay hành động ngay hôm nay vì nụ cười khỏe mạnh và tương lai phát triển thể chất toàn diện của trẻ em.