Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng nguồn nhân lực y tế tuyến cơ sở đóng vai trò quyết định đến chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng. Theo Niên giám thống kê y tế năm 2020, tổng số nhân lực y tế từ tuyến tỉnh trở xuống trên phạm vi toàn quốc đạt 332.428 người, trong đó nhân lực tuyến huyện chiếm 113.513 người (khoảng 34,1%). Tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – một địa bàn trung du ven sông Cầu có diện tích 171,4 km2 với quy mô dân số trên 208.000 người, nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tế kỹ thuật cao ngày càng gia tăng cùng quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng. Thực hiện chủ trương đổi mới hệ thống y tế theo Quyết định số 790/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, Trung tâm Y tế huyện Việt Yên chính thức được thành lập trên cơ sở sáp nhập Bệnh viện đa khoa, Trung tâm Y tế và Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình.

Sau giai đoạn sáp nhập cơ học, trung tâm phải đối mặt với nhiều bất cập về phân bổ vị trí việc làm và thiếu hụt chỉ tiêu định mức. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học dự phòng của học viên Lê Ngọc Anh tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên tập trung thực hiện hai mục tiêu cốt lõi: Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tuyến huyện tại Trung tâm Y tế huyện Việt Yên giai đoạn 2019-2021 và phân tích các yếu tố then chốt tác động trực tiếp đến nguồn lực này. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp bằng chứng khoa học chuẩn xác để giải quyết tình trạng thiếu hụt tối thiểu 42 cán bộ y tế so với định mức 1,25 đến 1,4 cán bộ trên một giường bệnh hạng II, đồng thời thiết lập định hướng tái cơ cấu tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận quản trị nguồn nhân lực y tế tích hợp từ hai khung tham chiếu chủ đạo. Thứ nhất là Khung hành động tăng cường nhân lực y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nhấn mạnh vào bốn trục vận hành: quy hoạch số lượng, cơ cấu chuyên môn, năng lực thực thi và chính sách duy trì giữ chân nhân viên y tế. Thứ hai là Khung pháp lý tổ chức mạng lưới y tế cơ sở Việt Nam, trọng tâm là Thông tư số 37/2016/TT-BYT và Thông tư số 07/2021/TT-BYT quy định chức năng, nhiệm vụ của trung tâm y tế huyện đa chức năng kết hợp điều trị và dự phòng.

Đề tài làm sáng tỏ bốn khái niệm trọng yếu:

  • Nguồn nhân lực y tế cơ sở: lực lượng trực tiếp cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh và nâng cao sức khỏe tại tuyến huyện, xã;
  • Định mức biên chế y tế: tỷ lệ nhân lực tính trên số giường bệnh kế hoạch theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV;
  • Cơ cấu chuyên môn kỹ thuật: tương quan tỷ lệ giữa bác sĩ với điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên và dược sĩ;
  • Năng lực thực hiện danh mục kỹ thuật: tỷ lệ thực tế các kỹ thuật lâm sàng, cận lâm sàng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mà đơn vị làm chủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính. Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 12/2021 đến tháng 8/2022 tại Trung tâm Y tế huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Cỡ mẫu định lượng bao gồm điều tra toàn bộ 208 cán bộ, viên chức đang công tác tại đơn vị năm 2021 thông qua phiếu tự điền, kết hợp hồi cứu hồ sơ tổ chức cán bộ thứ cấp trong suốt giai đoạn 2019-2021. Cỡ mẫu định tính gồm 2 cuộc phỏng vấn sâu với Giám đốc và Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính, cùng 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung (2 cuộc với 22 trưởng/phó khoa phòng, 2 cuộc với 19 bác sĩ lâm sàng và 2 cuộc với 22 điều dưỡng, kỹ thuật viên).

Dữ liệu định lượng được làm sạch, nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích trên SPSS phiên bản 20 nhằm tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm và các chỉ số kiểm định. Dữ liệu định tính được ghi âm, gỡ băng và phân tích theo chủ đề. Việc kết hợp hai phương pháp này là lựa chọn tối ưu, bởi số liệu định lượng giúp xác định chính xác quy mô thiếu hụt và sai lệch cơ cấu, trong khi phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm giúp bóc tách nguyên nhân sâu xa từ áp lực tự chủ, chính sách đãi ngộ và tâm lý cán bộ sau sáp nhập.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nhân lực của trung tâm có xu hướng giảm sút và biến động mạnh tại khối lâm sàng. Năm 2019, tổng số nhân lực là 210 người, tăng lên 219 người vào năm 2020, nhưng đến năm 2021 đã giảm 11 người (tương đương giảm 5,02%), xuống còn 208 người. Toàn bộ sự sụt giảm 11 nhân sự này đều thuộc khối điều trị. Riêng trong năm 2021, đơn vị ghi nhận 7 cán bộ chuyển công tác, 3 người xin thôi việc và 4 người nghỉ hưu, trong khi chỉ tuyển mới được 3 người (chiếm 1,44% tổng biên chế).

Thứ hai, định mức nhân lực trên giường bệnh thấp hơn đáng kể so với quy chuẩn quốc gia. Năm 2021, với 200 giường bệnh kế hoạch và 208 cán bộ, tỷ lệ chỉ đạt 1,04 cán bộ trên một giường bệnh. Đối chiếu với Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV áp dụng cho bệnh viện đa khoa hạng II (định mức từ 1,25 đến 1,40 cán bộ/giường), đơn vị thiếu hụt tối thiểu 42 cán bộ y tế, tương ứng tỷ lệ thiếu hụt 16,8% tổng nhu cầu nhân lực tối thiểu.

Thứ ba, cơ cấu chuyên môn mất cân đối nghiêm trọng giữa bác sĩ và khối điều dưỡng hỗ trợ. Năm 2021, tỷ lệ Bác sĩ trên Chức danh chuyên môn y tế khác (điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên) tại trung tâm là 59/110, tương đương 1/1,86. Chỉ số này cách xa mức khuyến nghị chuẩn của Bộ Y tế là từ 1/3,0 đến 1/3,5, phản ánh tình trạng thiếu trầm trọng điều dưỡng viên để thực hiện công tác chăm sóc toàn diện cho người bệnh.

Thứ tư, năng lực chuyên môn và trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ còn nhiều khoảng trống. Khảo sát cho thấy chỉ có 11,5% cán bộ nhận định nhân lực đáp ứng tốt yêu cầu công việc, 35,1% đánh giá đáp ứng được và có tới 53,4% cho rằng chỉ đáp ứng được một phần. Về trình độ quản lý theo Quyết định số 10/2007/QĐ-BYT, trong số 20 trưởng khoa/phòng, có 80% chưa đạt ngạch bác sĩ chính, 70% chưa có trình độ trung cấp lý luận chính trị và 80% chưa có chứng chỉ quản lý bệnh viện. Đáng chú ý, năm 2021 toàn trung tâm chỉ có 1 cán bộ (0,48%) được cử đào tạo kỹ thuật mới và 23 cán bộ (11,06%) tham gia các khóa đào tạo liên tục.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong cơ chế vận hành sau khi sáp nhập 3 đơn vị có tính chất tài chính khác nhau: Bệnh viện đa khoa hoạt động theo cơ chế tự chủ một phần chi thường xuyên, trong khi Trung tâm Y tế dự phòng và Trung tâm Dân số hưởng 100% ngân sách nhà nước. Khi sáp nhập, nguồn quỹ thu nhập tăng thêm bị dàn trải, mức chi trả không đủ sức hấp dẫn để cạnh tranh với khối y tế tư nhân đang phát triển mạnh tại Bắc Giang và các tỉnh lân cận. Bên cạnh đó, một số bác sĩ dự phòng được điều chuyển sang làm lâm sàng nhưng do lâu năm không trực tiếp khám chữa bệnh nên chuyên môn bị mai một, dẫn đến hiệu quả thực thi dịch vụ kỹ thuật chưa đạt kỳ vọng.

Khi đối chiếu với các công trình khoa học cùng thời kỳ, hiện tượng này mang tính chất quy luật tại nhiều địa phương. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng tại tỉnh Hà Nam cho thấy Bệnh viện đa khoa huyện Kim Bảng thiếu từ 45 đến 61 cán bộ y tế theo Thông tư 08. Tương tự, nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết tại Trung tâm Y tế huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu ghi nhận tỷ lệ nhân lực quản lý hành chính lên tới 26,79%, vượt xa khung định mức 18-20%, tạo gánh nặng lớn lên khối lâm sàng.

Trong báo cáo phân tích, các phát hiện này có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ cột chồng thể hiện biến động nhân lực các khối từ 2019 đến 2021, kết hợp biểu đồ hình quạt minh họa tỷ lệ 53,4% mức độ đáp ứng công việc và bảng ma trận đối chiếu cơ cấu chuyên môn thực tế so với quy định Thông tư 08.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và hoàn thiện đề án vị trí việc làm nhằm tuyển dụng bổ sung tối thiểu 42 cán bộ y tế (bao gồm ít nhất 15 bác sĩ chuyên khoa lâm sàng và 20 cử nhân điều dưỡng) trong giai đoạn 2023-2025; Sở Y tế tỉnh Bắc Giang phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Việt Yên phê duyệt chỉ tiêu và tổ chức thi tuyển công khai.

Thứ hai, xây dựng nghị quyết chuyên đề về chính sách thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao, trích lập tối thiểu 15% quỹ phát triển sự nghiệp để chi trả thu nhập tăng thêm gắn với hiệu suất công việc (KPIs), đồng thời hỗ trợ kinh phí ban đầu từ 50 đến 100 triệu đồng cho bác sĩ sau đại học cam kết công tác trên 5 năm; do Ban Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Việt Yên chủ trì xây dựng từ quý 1 năm 2023.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác đào tạo liên tục và đào tạo chuyên sâu theo địa chỉ, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ cán bộ được đào tạo kỹ thuật mới lên mức tối thiểu 5% và đào tạo liên tục đạt trên 25% mỗi năm, bảo đảm 100% trưởng, phó khoa phòng hoàn thành chứng chỉ quản lý bệnh viện và lý luận chính trị trước quý 4 năm 2024; do Phòng Tổ chức - Hành chính lập kế hoạch chi tiết.

Thứ tư, hiện đại hóa trang thiết bị y tế và điều kiện làm việc tại 19 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, bố trí nguồn vốn ngân sách địa phương khoảng 15 đến 20 tỷ đồng trong kế hoạch đầu tư trung hạn 2023-2026 để mua sắm máy móc hiện đại; do Ủy ban nhân dân huyện Việt Yên và Phòng Tài chính - Kế hoạch thẩm định, phân bổ ngân sách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà quản lý y tế và Ban Giám đốc các trung tâm y tế huyện đang triển khai mô hình đa chức năng; luận văn cung cấp kinh nghiệm thực tế về cách sắp xếp tổ chức bộ máy, giảm xung đột quyền lợi giữa các khối sau sáp nhập.

Nhóm thứ hai là cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh như Sở Y tế và Sở Nội vụ; công trình là căn cứ thực chứng giúp định hình chính sách phân bổ biên chế, mức trần giường bệnh và quy chế hỗ trợ tài chính cho y tế cơ sở.

Nhóm thứ ba gồm học viên cao học, bác sĩ nội trú và nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng, Tổ chức quản lý y tế; nghiên cứu đóng vai trò tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp định lượng - định tính trong điều tra y tế học đường và cộng đồng.

Nhóm thứ tư là đội ngũ bác sĩ, dược sĩ và nhân viên y tế tại cơ sở; tài liệu giúp người lao động hiểu rõ cơ cấu tổ chức, quy chuẩn ngạch bậc và lộ trình chuẩn hóa trình độ theo quy định của Bộ Y tế.

Câu hỏi thường gặp

Trung tâm Y tế huyện Việt Yên thiếu bao nhiêu nhân lực so với quy định hiện hành? Đơn vị hiện đạt 1,04 cán bộ trên một giường bệnh năm 2021, thấp hơn quy định 1,25 đến 1,40 cán bộ/giường tại Thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV đối với bệnh viện hạng II, dẫn đến việc thiếu hụt tối thiểu 42 cán bộ y tế (khoảng 16,8% tổng nhu cầu).

Tỷ lệ cơ cấu giữa bác sĩ và điều dưỡng tại trung tâm có điểm bất hợp lý nào? Tỷ lệ Bác sĩ trên Điều dưỡng, Hộ sinh và Kỹ thuật viên của đơn vị là 1/1,86, trong khi quy chuẩn đòi hỏi từ 1/3,0 đến 1/3,5. Điều này chỉ ra tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhân lực chăm sóc, khiến bác sĩ phải gánh thêm nhiều công việc hành chính và hỗ trợ kỹ thuật.

Đâu là nguyên nhân chính khiến 10 cán bộ y tế chuyển công tác hoặc thôi việc trong năm 2021? Áp lực công việc điều trị tăng cao trong khi thu nhập tăng thêm bị dàn trải sau sáp nhập, kết hợp với chính sách thu hút mạnh mẽ từ các bệnh viện ngoài công lập lân cận là nguyên nhân cốt lõi khiến nhân sự chất lượng cao rời đi.

Trình độ chuẩn hóa của đội ngũ cán bộ quản lý khoa, phòng tại đơn vị đạt mức nào? Thực trạng chuẩn hóa còn nhiều khoảng trống khi có tới 80% trưởng khoa/phòng chưa có chứng chỉ quản lý bệnh viện hoặc quản lý hành chính, 70% chưa có trung cấp lý luận chính trị và 80% chưa đạt ngạch bác sĩ chính theo Quyết định số 10/2007/QĐ-BYT.

Mô hình sáp nhập ba đơn vị y tế tuyến huyện tạo ra thách thức lớn nhất gì? Thách thức lớn nhất là sự xung đột giữa cơ chế tự chủ tài chính của khối bệnh viện và cơ chế hưởng lương ngân sách của khối dự phòng - dân số, gây khó khăn lớn trong việc điều động nhân lực và phân phối thu nhập công bằng.

Kết luận

  • Quy mô nhân lực của Trung tâm Y tế huyện Việt Yên giảm 11 người trong năm 2021, tập trung hoàn toàn ở khối điều trị với 7 người chuyển công tác và 3 người thôi việc.
  • Tỷ lệ cán bộ trên giường bệnh chỉ đạt 1,04, thiếu hụt tối thiểu 42 cán bộ (16,8%) so với định mức bệnh viện hạng II theo Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV.
  • Cơ cấu chuyên môn mất cân đối sâu sắc với tỷ lệ Bác sĩ trên Điều dưỡng/Kỹ thuật viên là 1/1,86, chưa đạt ngưỡng chuẩn 1/3,0 đến 1/3,5.
  • Đội ngũ lãnh đạo khoa, phòng còn thiếu hụt chứng chỉ quản lý bệnh viện (80%) và lý luận chính trị (70%), trong khi tỷ lệ đào tạo kỹ thuật mới năm 2021 chỉ đạt 0,48%.
  • Có 53,4% cán bộ nhận định nhân lực hiện tại chỉ đáp ứng được một phần yêu cầu chuyên môn, đòi hỏi phải đổi mới toàn diện cơ chế đãi ngộ và đào tạo.

Luận văn đã đóng góp hệ thống số liệu thực nghiệm toàn diện, phản ánh chân thực những thách thức vận hành của mô hình trung tâm y tế hai chức năng sau sáp nhập. Trong giai đoạn 2023-2025, ngành y tế địa phương cần khẩn trương triển khai tuyển dụng bù đắp định mức biên chế, hoàn thiện đề án vị trí việc làm và thực thi gói chính sách đãi ngộ tài chính vượt trội để xây dựng nguồn nhân lực y tế cơ sở vững mạnh, đáp ứng hoàn hảo nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân thời kỳ mới.