Phần mở đầu: bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, bố cục luận văn và tổng quan tài liệu nghiên cứu. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dòng tiền và dự báo dòng tiền trong tƣơng lai Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý từ kết quả nghiên cứu Kết luận 5 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về dòng tiền và dự báo dòng tiền từ HĐKD và các nghiên cứu đã đƣa ra và vận dụng nhiều mô hình để có thể dự báo tốt nhất dòng tiền cho các doanh nghiệp niêm yết. Trong số những nghiên cứu đầu tiên về dòng tiền đƣợc thực hiện là các nghiên cứu của Bowen, Burgstahler và Daley (1986), Greenberg, Johnson và Ramesh (1986), tiếp theo có các nghiên cứu của Dechow (1994), Barth, Cram và Nelson (2001) … Tổng hợp những nghiên cứu về dự báo dòng tiền, có thể thấy đƣợc những nhân tố thƣờng đƣợc sử dụng để dự báo dòng tiền tƣơng lai gồm dòng tiền HĐKD quá khứ, lợi nhuận quá khứ và sự kết hợp giữa dòng tiền quá khứ và các thành phần kế toán dồn tích, cụ thể: - Thu nhập quá khứ có khả năng dự báo dòng tiền tƣơng lai đã đƣợc Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Tài chính Hoa Kỳ (FASB, 1978) khẳng định nhƣng chƣa có b ng chứng thực nghiệm để chứng minh nhận định trên.
Các nghiên cứu tiếp theo của nhiều tác giả nhƣ Bowen, Burgstahler và Daley (1986), Greenberg, Johnson và Ramesh (1986), Dechow, Kothari và Watts (1998), McBeth (1993), Finger (1994), Ali (1994), Ebaid (2011),… cũng đã sử dụng thu nhập quá khứ nhƣ là một nhân tố trong dự báo dòng tiền. Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm để lựa chọn mô hình có khả năng dự báo tốt hơn vẫn chƣa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu. - Dòng tiền HĐKD quá khứ cũng đƣợc sử dụng để dự báo dòng tiền tƣơng lai trong các nghiên cứu của Quirin và cộng sự (1999), Seng, D. (2006), Zhao, Hobbes và Wright (2007),… Tuy nhiên, cũng chƣa thống nhất mô hình nào dự báo dòng tiền tốt nhất trong các mô hình dòng tiền, mô hình lợi nhuận hay mô hình kết hợp.
6 - Không chỉ sử dụng riêng dòng tiền quá khứ hay lợi nhuận quá khứ để dự báo dòng tiền tƣơng lai, một số tác giả khác đã kết hợp dòng tiền quá khứ với các thành phần kế toán dồn tích để làm nhân tố dự báo nhƣ Lorek và cộng sự (1996), Barth, Cram và Nelson (2001), Brochet, Nam và Ronen (2008), Ebaid (2011), Chong (2012), Nguyễn Thanh Hiếu (2015)… Hầu hết các tác giả đều khẳng định mô hình kết hợp giữa dòng tiền hay lợi nhuận với các thành phần dồn tích có khả năng dự báo tốt hơn so với mô hình chỉ sử dụng dòng tiền hoặc thu nhập. Tuy nhiên, cũng với nghiên cứu sử dụng các nhân tố dự báo nhƣ thế thì Chotkunakitti (2005) lại kết luận ngƣợc lại r ng mô hình chỉ sử dụng dòng tiền có khả năng dự báo tốt hơn so với các mô hình kết hợp khác. Nhƣ vậy, có thể thấy vẫn không có sự thống nhất trong kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu trƣớc. Tại Việt Nam, mặc dù chƣa nhiều nhƣng cũng có một vài nghiên cứu về dòng tiền.
Điển hình có nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hiếu (2015) về công tác dự báo dòng tiền HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam, nghiên cứu của Lê Thị Hoàng Linh (2017) dự báo dòng tiền cho các công ty trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu khẳng định mô hình kết hợp dòng tiền quá khứ với các thông tin kế toán dồn tích cụ thể là mô hình có khả năng dự báo dòng tiền tốt nhất. Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Uyên Uyên và Từ Thị Kim Thoa (2015) chỉ ra r ng từng thành phần của dòng tiền và từng thành phần dồn tích hữu ích hơn trong việc dự báo dòng tiền tƣơng lai so với thu nhập, dòng tiền gộp chung và các khoản dồn tích gộp chung. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này gộp chung mẫu các DN thuộc nhiều ngành nghề khác nhau mà chƣa có sự phân chia cho các nhóm ngành riêng và cũng chƣa có sự đa dạng trong việc lựa chọn các ngành nghề khác nhau để nghiên cứu.
7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÕNG TIỀN VÀ DỰ BÁO DÕNG TIỀN TRONG TƢƠNG LAI 1. VAI TRÕ CỦA THÔNG TIN VỀ DÕNG TIỀN VÀ BÁO CÁO LƢU CHUYỂN TIỀN TỆ TRONG DỰ BÁO DÕNG TIỀN 1. Vai trò của thông tin về dòng tiền Trên thế giới, thông tin về dòng tiền đƣợc quan tâm nhiều hơn theo thời gian khi tình trạng lạm phát xảy ra và số lƣợng các doanh nghiệp phá sản gia tăng (Alman, 1983). Thông tin về dòng tiền có thể cung cấp bổ sung khả năng dự đoán cho các thông tin dồn tích (Sharma, 2001).
Đối với một doanh nghiệp, dòng tiền có vai trò rất quan trọng. Dòng tiền với doanh nghiệp cũng giống nhƣ máu với cơ thể. Dòng tiền, đƣợc thể hiện trong BCLCTT, giúp đánh giá đƣợc khả năng tạo tiền, khả năng thanh toán và dự báo khả năng tăng trƣởng trong tƣơng lai của doanh nghiệp. Quan trọng không kém, nhờ loại trừ đƣợc các ảnh hƣởng của việc áp dụng phƣơng pháp kế toán khác nhau, dòng tiền sẽ giúp chúng ta đánh giá kết quả kinh doanh (KQKD) một cách khách quan và chính xác hơn.
Có thể thấy vai trò của thông tin về dòng tiền đƣợc thể hiện ở những khía cạnh sau: - Dòng tiền quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Bản chất của dòng tiền là dòng chuyển động dòng tiền vào và dòng tiền ra, tạo ra khả năng thanh toán hoặc tình trạng mất khả năng thanh toán của một doanh nghiệp. Thông tin dòng tiền là yếu tố đánh giá tính thanh khoản và khả năng thanh toán của một doanh nghiệp đƣợc khẳng định trong nhiều nghiên cứu trƣớc (Heath và Rosenfield, 1979; Largay và Stickney, 1980…). 8 - Dòng tiền ảnh hƣởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Các DN chỉ có thể chi trả cổ tức khi có tiền, nếu lƣợng tiền khan hiếm thì mức chi trả cổ tức sẽ giảm hoặc không có.
- Thông tin dòng tiền có tác dụng dự báo khả năng phá sản. Trong thực tế, khi gặp khó khăn, DN vẫn có thể hạch toán có lợi nhuận nhờ các thủ thuật kế toán, nhƣng sự thiếu hụt dòng tiền sẽ gây áp lực tài chính có thể dẫn đến phá sản. Việc dự báo và phân loại những công ty phá sản hay không phá sản sẽ đƣợc cải thiện rõ rệt khi căn cứ vào dòng tiền hoạt động và các chỉ số tài chính liên quan đến tiền mặt. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) chính sẽ là nguồn tiền để DN trang trải chi phí hoạt động, hoàn trả các khoản nợ vay hay thanh toán cho nhà cung cấp để duy trì ổn định hoạt động SXKD của mình.
Trong ngắn hạn, dòng tiền HĐKD bị âm thì công ty có thể phải vay thêm tiền hoặc phát hành cổ phiếu để tài trợ cho nguồn vốn hoạt động. Nhƣng nếu dòng tiền hoạt động vẫn tiếp tục âm trong khoảng thời gian dài thì công ty sẽ bị áp lực tài chính rất lớn, ví dụ không có tiền để trả lãi vay, nợ gốc hay lợi nhuận cho ngƣời cung cấp vốn (ngân hàng, cổ đông…). Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ a. Đặc điểm dòng tiền trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành trong báo cáo tài chính (BCTC) của các DN, đây là BCTC bắt buộc và đƣợc lập vào giữa niên độ hoặc cuối mỗi niên độ kế toán.
Trên BCLCTT, các dòng tiền vào và ra đƣợc phân loại theo ba dòng tiền: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tƣ và dòng tiền từ hoạt động tài chính. Trong đó: - Dòng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là dòng tiền liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu cho DN bao gồm dòng tiền vào và 9 dòng tiền ra liên quan đến quá trình thanh toán với ngƣời mua, ngƣời bán, ngƣời lao động. - Dòng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tƣ bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra có liên quan đến việc đầu tƣ, mua sắm, xây dựng, nhƣợng bán, thanh lý tài sản cố định và các TSDH cùng các khoản đầu tƣ tài chính khác không thuộc các khoản tƣơng đƣơng tiền. - Dòng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra có liên quan đến tăng, giảm vốn chủ sở hữu (nhận góp vốn, phát hành cổ phiếu, chi trả vốn góp, mua lại cổ phiếu quỹ) và nợ phải trả (tiền vay ngắn hạn, vay dài hạn đã nhận; tiền chi trả nợ gốc vay đã trả; tiền chi trả nợ thuê tài chính đã trả; cổ tức, lợi nhuận đã chi trả cho chủ sở hữu).
Trong ba dòng tiền trên BCLCTT thì dòng tiền từ HĐKD đƣợc xem là quan trọng nhất. Tình hình tài chính của DN khả quan khi và chỉ khi dòng tiền vào chủ yếu của DN đƣợc tạo ra từ hoạt động kinh doanh và ngƣợc lại; nếu dòng tiền vào trong kỳ chủ yếu đƣợc tạo ra không phải hoạt động kinh doanh mà từ hoạt động đầu tƣ hay hoạt động tài chính thì có khả năng DN sẽ gặp khó khăn trong thanh toán và rủi ro trong kinh doanh. Dòng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của DN từ các HĐKD để trang trải các khoản nợ, duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tƣ mới mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 (VAS 24), dòng tiền từ HĐKD đƣợc báo cáo theo 1 trong 2 phƣơng pháp sau: - Phương pháp trực tiếp: Trình bày cụ thể các dòng tiền thu và chi theo từng nội dung thu, chi, phù hợp với báo cáo kết quả kinh doanh.
Ƣu điểm của phƣơng pháp trực tiếp là cấp thông tin trực tiếp về dòng tiền thu, chi từ hoạt động kinh doanh, có thể hữu dụng trong việc dự đoán các 10 dòng tiền trong tƣơng lai và các thông tin này không đƣợc cung cấp rõ ràng từ phƣơng pháp gián tiếp. Hạn chế: + Không cho thấy đƣợc mối liên hệ giữa kết quả hoạt động kinh doanh với kết quả lƣu chuyển tiền từ hoạt động này. + Các số liệu trên BCLCTT khó kiểm tra đối chiếu với các số liệu trong các báo cáo khác.