Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu luôn giữ vai trò xung kích trong nền kinh tế Việt Nam khi đóng góp trên 80% tổng kim ngạch thương mại của cả nước. Trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, dược phẩm và trang thiết bị y tế là nhóm mặt hàng đặc thù, có tính thiết yếu đối với đời sống xã hội và tác động trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng. Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu ngành này vừa hướng đến việc nhập khẩu các sản phẩm thuốc, vật tư y tế chất lượng cao với chi phí hợp lý để bù đắp sự thiếu hụt trong nước, vừa tìm kiếm thị trường tiêu thụ quốc tế cho các mặt hàng dược liệu và sản phẩm y tế thế mạnh của Việt Nam.

Tuy nhiên, do rào cản về quy mô vốn tự có hạn chế, thời gian quay vòng dòng tiền dài và đặc thù chuỗi cung ứng chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của pháp luật, các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn tài trợ ngắn hạn và trung hạn. Nguồn vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng thương mại vì vậy đóng vai trò quyết định đối với năng lực duy trì và mở rộng kinh doanh của nhóm doanh nghiệp này. Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) nói chung và Chi nhánh Trần Duy Hưng nói riêng, tài trợ cho vay đối với các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế được xác định là một trong những hoạt động mũi nhọn. Dù đã ghi nhận những kết quả bước đầu tích cực, hoạt động cấp tín dụng này vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, đặc biệt khi đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu gây gián đoạn chuỗi cung ứng quốc tế và làm gia tăng nguy cơ suy giảm chất lượng tín dụng.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu ngành dược phẩm y tế tại ngân hàng thương mại.
  2. Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu ngành dược phẩm y tế tại MB Chi nhánh Trần Duy Hưng giai đoạn 2018–2020, chỉ ra các kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn đọng.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với nhóm doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế tại chi nhánh trong thời gian tới.

Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào chất lượng cho vay thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế tại MB Chi nhánh Trần Duy Hưng. Về phạm vi nghiên cứu, không gian thực hiện là MB Chi nhánh Trần Duy Hưng (Hà Nội); thời gian khảo sát số liệu thực tế được giới hạn trong giai đoạn 3 năm, từ năm 2018 đến hết năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các quy định pháp luật hiện hành và lý thuyết chuyên ngành về tín dụng ngân hàng, bao gồm:

  • Khung pháp lý điều chỉnh: Khái niệm doanh nghiệp và doanh nghiệp thương mại căn cứ theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014; quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/11/2006 của Chính phủ; định nghĩa hoạt động cấp tín dụng và cho vay căn cứ theo Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng; quy chế phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro dựa trên Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Quan điểm về chất lượng cho vay: Được tiếp cận đa chiều từ ba chủ thể: (1) Đối với ngân hàng, chất lượng thể hiện ở mức độ an toàn của khoản vay, khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi, tối đa hóa lợi nhuận trong giới hạn nguồn lực của chi nhánh; (2) Đối với khách hàng, chất lượng thể hiện ở mức lãi suất cạnh tranh, kỳ hạn phù hợp chu kỳ kinh doanh và thủ tục giải ngân minh bạch, thuận tiện; (3) Đối với xã hội, chất lượng thể hiện ở việc hỗ trợ lưu thông dược phẩm thiết yếu và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
  • Hệ thống chỉ tiêu đo lường chất lượng cho vay: Tác giả sử dụng nhóm chỉ tiêu định lượng gồm: Tỷ lệ nợ quá hạn (mức an toàn $\le 3%$, bình thường $3% - 5%$, tiềm ẩn rủi ro cao $\ge 5%$), Tỷ lệ nợ xấu (nợ nhóm 3 đến nhóm 5 theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN), Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro (dự phòng cụ thể và dự phòng chung), Tỷ suất lợi nhuận và Tỷ trọng thu nhập lãi thuần từ cho vay thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế trên tổng thu nhập lãi thuần, Tỷ trọng doanh số cho vay của ngành trên tổng doanh số cho vay và Chỉ tiêu Vòng quay vốn tín dụng.
  • Phân tích các nhân tố ảnh hưởng: Chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng (chính sách cho vay, công tác huy động vốn, tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ quản lý khách hàng, công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ, chất lượng thông tin, trang thiết bị công nghệ và quy trình tín dụng) và nhóm nhân tố khách quan (từ phía khách hàng như năng lực lãnh đạo, chiến lược kinh doanh, sức khỏe tài chính; từ môi trường kinh tế như biến động tỷ giá, mặt bằng lãi suất, lạm phát; từ môi trường pháp lý và các chính sách quản lý ngành dược).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Tổng thuật bài học nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu từ các quốc gia: chính sách lãi suất ưu đãi của Hàn Quốc (1962–1982); mô hình Ngân hàng Xuất nhập khẩu Nhật Bản (JEXIM, thành lập năm 1950) với 4 hình thức tài trợ chuyên biệt; mô hình cấp hạn mức bảo hiểm tín dụng và bảo lãnh của Eximbank Trung Quốc (thành lập năm 1994); chính sách ưu đãi thuế của các nước ASEAN; mô hình tài trợ và bảo hiểm rủi ro chính trị của EXIMBANK và OPIC tại Hoa Kỳ; nghiệp vụ tín dụng người mua và tạm ứng ngoại tệ tại Pháp; cùng hình thức hiệp định khung tài trợ máy móc thiết bị tại Đức.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm phương pháp lý luận (hệ thống hóa các học thuyết và văn bản quy phạm), phương pháp thống kê - phân tích - tổng hợp số liệu thứ cấp từ thực tế hoạt động kinh doanh, và phương pháp so sánh tương đối - tuyệt đối theo chuỗi thời gian nhằm đánh giá sự biến động của từng chỉ tiêu. Nguồn dữ liệu sử dụng trực tiếp từ Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo dư nợ cho vay và Báo cáo tổng kết hoạt động cho vay thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế giai đoạn 2018–2020 của MB Chi nhánh Trần Duy Hưng, kết hợp dữ liệu thống kê chung của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu ngành dược phẩm y tế tại các ngân hàng thương mại

Chương này tập trung làm rõ tính đặc thù của doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế: kinh doanh mặt hàng có điều kiện kiểm soát nghiêm ngặt, gắn liền với sức khỏe cộng đồng, phụ thuộc lớn vào hệ thống phân phối (công ty trung gian, bệnh viện, nhà thuốc) và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi rào cản pháp lý quốc tế cũng như biến động tỷ giá ngoại tệ. Tác giả luận giải vai trò thiết yếu của nguồn vốn tín dụng ngân hàng trong việc cung cấp vốn lưu động, giảm thiểu rủi ro thanh khoản qua phương thức quản lý dòng tiền theo bộ chứng từ thương mại quốc tế.

Bên cạnh việc thiết lập hệ thống các chỉ tiêu định lượng đo lường chất lượng cho vay, chương 1 phân tích chi tiết tổng quan nghiên cứu liên quan đến tín dụng xuất nhập khẩu tại Việt Nam (tiêu biểu như các công trình của Phạm Thị Thu Trang năm 2012, Lê Thị Trà My năm 2013, Nguyễn Thu Hương năm 2015). Qua đó, tác giả chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu: các đề tài trước đây mới tiếp cận doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung hoặc tại các địa bàn khác, chưa có công trình nào đánh giá chuyên biệt về chất lượng cho vay đối với phân khúc thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế tại chi nhánh MB Trần Duy Hưng.

Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ngành dược phẩm, y tế tại NHTM Quân đội – Chi nhánh Trần Duy Hưng

Chương 2 mở đầu bằng việc giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của MB Chi nhánh Trần Duy Hưng: thành lập ngày 06/12/2004, trực thuộc MB, từ quy mô ban đầu 6 cán bộ nhân viên đã phát triển lên 70 nhân sự quản lý 4 điểm giao dịch (Trụ sở chi nhánh tại 17T-2 Hoàng Đạo Thúy, PGD Nam Trung Yên, PGD Láng Thượng, PGD Trung Văn). Cơ cấu tổ chức được thiết lập theo mô hình ngân hàng bán lẻ hiện đại gồm Ban Giám đốc và các phòng chức năng: Phòng Quan hệ khách hàng (gồm Bộ phận KHCN và Bộ phận KHDN), Bộ phận Back office, Bộ phận Thẩm định, Bộ phận Nhân sự & Hành chính tổng hợp, Phòng Kế toán & Quỹ.

Tác giả phân tích toàn diện bức tranh tài chính chung của chi nhánh giai đoạn 2018–2020:

  • Về nguồn vốn huy động: tăng từ 3.164 tỷ đồng (năm 2018) lên 3.440 tỷ đồng (năm 2019) và đạt 3.680 tỷ đồng (năm 2020). Trong đó, tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng chi phối (từ 56% đến trên 60%), còn tiền gửi cá nhân ghi nhận mức tăng trưởng từ 19,27 tỷ đồng (2018) lên 66,91 tỷ đồng (2020).
  • Về sử dụng vốn: hoạt động cho vay khách hàng là trọng tâm, tăng liên tục từ 2.008 tỷ đồng (chiếm 63,46% tổng nguồn vốn năm 2018) lên 2.222 tỷ đồng (64,59% năm 2019) và chạm mức 2.620 tỷ đồng (71,19% năm 2020).
  • Kết quả kinh doanh: Lợi nhuận trước thuế tăng đều đặn từ 75,3 tỷ đồng (2018) lên 90,13 tỷ đồng (2019) và đạt 100,83 tỷ đồng (2020). Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) năm 2019 đạt 2,74%, vượt trội so với ROA bình quân toàn hệ thống MB (1,81% - 2,02%) và mức trung bình ngành ngân hàng Việt Nam (0,7% - 1,08%).

Đi sâu vào mảng cho vay doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế, chương 2 bóc tách các chỉ tiêu:

  • Dư nợ và doanh số: Dư nợ cho vay mảng dược phẩm y tế tăng từ 169,5 tỷ đồng (2018) lên 202,39 tỷ đồng (2019) và 250,23 tỷ đồng (2020). Doanh số cho vay tăng từ 173,3 tỷ đồng (2018) lên 234,34 tỷ đồng (2019) và đạt 260,2 tỷ đồng (2020). Doanh số thu nợ tăng từ 145,1 tỷ đồng (2018) lên 201,45 tỷ đồng (2019) và 212,36 tỷ đồng (2020).
  • Đóng góp lợi nhuận: Thu nhập lãi thuần từ nhóm doanh nghiệp này tăng từ 4,36 tỷ đồng (2018) lên 5,63 tỷ đồng (2019) và 6,18 tỷ đồng (2020), đóng góp trên 6% tổng thu nhập lãi thuần của toàn chi nhánh.
  • Kiểm soát rủi ro: Nợ quá hạn ngành dược y tế tăng từ 3,1 tỷ đồng (tỷ lệ 1,82% năm 2018) lên 4,66 tỷ đồng (2,04% năm 2019) và 6,16 tỷ đồng (2,41% năm 2020). Tỷ lệ nợ xấu mảng này tăng từ 1,17% (2018) lên 1,41% (2019) và 2,00% (2020). Tỷ lệ này vẫn duy trì dưới ngưỡng an toàn 3% nhưng cho thấy xu hướng rủi ro gia tăng. Chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng toàn chi nhánh tăng từ 3,52 tỷ đồng (2018) lên 6,94 tỷ đồng (2020). Vòng quay vốn tín dụng của nhóm này năm 2019 đạt đỉnh 0,99 vòng nhưng giảm xuống 0,84 vòng trong năm 2020 do tác động của đại dịch Covid-19.

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp thương mại XNK ngành dược phẩm y tế tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Trần Duy Hưng

Trên cơ sở các hạn chế được nhận diện tại Chương 2 (nợ quá hạn và nợ xấu gia tăng, tốc độ luân chuyển vốn giảm trong năm 2020), Chương 3 đề xuất định hướng phát triển và ba nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nhóm giải pháp về quản trị điều hành: Kiện toàn công tác tổ chức, nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng chuyên sâu cho ngành dược, tăng cường kiểm tra giám sát sau giải ngân, và tối ưu hóa hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ.
  2. Nhóm giải pháp về nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu: Đa dạng hóa các sản phẩm tài trợ thương mại chuyên biệt (cho vay theo bộ chứng từ, bảo lãnh nhận hàng, chiết khấu hối phiếu có truy đòi và miễn truy đòi), áp dụng công cụ phái sinh tiền tệ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho doanh nghiệp nhập khẩu thuốc.
  3. Các giải pháp khác: Nâng cấp trang thiết bị, ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại trong phân tích dữ liệu luân chuyển hàng tồn kho dược phẩm; đồng thời xây dựng các kiến nghị gửi tới Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý quản lý xuất nhập khẩu mặt hàng y tế, hỗ trợ thông quan và bình ổn tỷ giá.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa chi tiết toàn bộ các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay đối với nhóm doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế tại MB Chi nhánh Trần Duy Hưng trong giai đoạn 2018–2020, được thể hiện qua bảng số liệu sau:

STT Chỉ tiêu tài chính / Tín dụng Đơn vị tính Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
I Quy mô hoạt động chung tại Chi nhánh
1 Tổng nguồn vốn huy động Tỷ đồng 3.164,00 3.440,00 3.680,00
2 Tổng dư nợ cho vay chung Tỷ đồng 2.008,00 2.222,00 2.620,00
3 Lợi nhuận trước thuế Tỷ đồng 75,30 90,13 100,83
4 Tỷ lệ ROA chi nhánh % - 2,74% -
5 Tỷ lệ nợ xấu chung / Tổng dư nợ % 1,50% 1,62% 2,16%
6 Dự phòng rủi ro đã trích trong kỳ Tỷ đồng 3,52 5,67 6,94
II Cho vay DN thương mại XNK dược phẩm y tế
1 Tổng dư nợ cho vay XNK dược phẩm y tế Tỷ đồng 169,50 202,39 250,23
2 Doanh số cho vay trong năm Tỷ đồng 173,30 234,34 260,20
3 Doanh số thu nợ trong năm Tỷ đồng 145,10 201,45 212,36
4 Tỷ trọng doanh số mảng / Tổng doanh số cho vay % 8,44% 10,25% 9,77%
5 Thu nhập lãi thuần từ cho vay mảng dược y tế Tỷ đồng 4,36 5,63 6,18
6 Tỷ trọng thu nhập lãi thuần mảng / Toàn chi nhánh % 5,79% 6,24% 6,12%
7 Tỷ lệ nợ quá hạn mảng dược phẩm y tế % 1,82% 2,04% 2,41%
8 Giá trị nợ xấu mảng dược phẩm y tế Tỷ đồng 2,00 3,22 5,13
9 Tỷ lệ nợ xấu mảng dược phẩm y tế % 1,17% 1,41% 2,00%
10 Vòng quay vốn tín dụng mảng dược y tế Vòng 0,85 0,99 0,84

Đóng góp chính của khóa luận:

  • Đóng góp lý luận: Khóa luận làm sâu sắc thêm hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng khi áp dụng vào một ngành hàng thương mại dịch vụ đặc thù (ngành y tế, dược phẩm) có chu kỳ luân chuyển và cơ chế quản lý nhà nước riêng biệt.
  • Đóng góp thực tiễn so với các nghiên cứu trước: Khác với các công trình nghiên cứu tín dụng xuất nhập khẩu tổng quát (như Phạm Thị Thu Trang năm 2012, Lê Thị Trà My năm 2013, Nguyễn Thu Hương năm 2015), nghiên cứu này lần đầu tiên cung cấp dữ liệu thực chứng và giải bài toán chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế tại một chi nhánh ngân hàng cụ thể (MB Trần Duy Hưng). Nghiên cứu chỉ ra sự phân hóa giữa mức tăng quy mô dư nợ và áp lực gia tăng tỷ lệ nợ quá hạn (từ 1,82% lên 2,41%) cũng như nợ xấu (từ 1,17% lên 2,00%) dưới tác động tiêu cực của dịch Covid-19 trong năm 2020. Hệ thống giải pháp được đề xuất xuất phát trực tiếp từ các điểm nghẽn nghiệp vụ và quản trị nội bộ tại cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Hạn chế về phạm vi không gian và đối tượng: Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích trường hợp cụ thể tại một đơn vị cơ sở là MB Chi nhánh Trần Duy Hưng, chưa so sánh đối chiếu với các chi nhánh khác trong cùng hệ thống MB hoặc các ngân hàng thương mại cổ phần khác trên cùng địa bàn Hà Nội.
  • Hạn chế về khung thời gian: Dữ liệu khảo sát dừng lại ở giai đoạn 2018–2020. Đây là giai đoạn bước đầu chịu tác động của dịch bệnh Covid-19, do đó nhiều tác động trung và dài hạn đối với sức khỏe tài chính của doanh nghiệp dược phẩm y tế chưa bộc lộ toàn diện.
  • Phương pháp phân tích: Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh bảng biểu truyền thống, chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng để đo lường mức độ tác động định lượng của từng nhân tố vĩ mô (như biến động tỷ giá, lạm phát, lãi suất) đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát dữ liệu toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn phục hồi hậu Covid-19, đồng thời ứng dụng mô hình định lượng (Logit/Probit hoặc hồi quy đa biến) để đo lường xác suất vỡ nợ của nhóm khách hàng thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm độc giả:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành: Là tài liệu tham khảo có cấu trúc chuẩn mực cho sinh viên các ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh và Kinh tế Quốc tế khi thực hiện đề tài tốt nghiệp liên quan đến quản trị chất lượng tín dụng và tài trợ thương mại quốc tế.
  • Cán bộ tín dụng và quản lý rủi ro ngân hàng: Cung cấp bức tranh thực tế về rủi ro và các chỉ số tài chính của phân khúc khách hàng kinh doanh dược phẩm, vật tư y tế. Điểm đáng tham khảo nhất là hệ thống chỉ tiêu phân tích nợ quá hạn, nợ xấu, cơ chế trích lập dự phòng và quy trình quản lý rủi ro tín dụng đối với các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào chu kỳ thanh toán bảo hiểm và bệnh viện.
  • Nghiên cứu về quản trị ngân hàng bán lẻ: Phần khảo sát thực trạng quản trị dòng tiền, hạch toán lãi lỗ và cơ cấu tổ chức phòng ban tại MB Trần Duy Hưng là nguồn tư liệu thực chứng cụ thể về mô hình hoạt động chi nhánh cấp 1 loại 2 trong mạng lưới ngân hàng cổ phần.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu đối với nhóm doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế tại MB Trần Duy Hưng biến động như thế nào qua các năm 2018–2020? Tỷ lệ nợ quá hạn của mảng này ghi nhận xu hướng tăng liên tục qua từng năm: đạt 1,82% (năm 2018), tăng lên 2,04% (năm 2019) và chạm mức 2,41% (năm 2020). Tương tự, tỷ lệ nợ xấu mảng này cũng gia tăng từ 1,17% tương ứng 2,0 tỷ đồng (2018) lên 1,41% tương ứng 3,22 tỷ đồng (2019) và lên mức 2,00% tương ứng 5,13 tỷ đồng (2020). Dù các tỷ lệ này vẫn duy trì dưới ngưỡng an toàn theo chuẩn ngân hàng ($\le 3%$), sự gia tăng liên tục phản ánh rủi ro tín dụng đang tích tụ trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động từ dịch Covid-19.

2. Tốc độ luân chuyển dòng vốn tín dụng (Vòng quay vốn tín dụng) của nhóm doanh nghiệp dược phẩm y tế thay đổi ra sao trong giai đoạn nghiên cứu? Năm 2018, vòng quay vốn tín dụng đối với các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế đạt 0,85 vòng. Sang năm 2019, chỉ số này tăng lên 0,99 vòng, cho thấy vốn vay được giải ngân và thu hồi nhịp nhàng, tham gia tích cực vào các chu kỳ kinh doanh. Tuy nhiên, đến năm 2020, vòng quay vốn tín dụng suy giảm xuống còn 0,84 vòng do chu kỳ lưu thông hàng hóa bị chậm lại, các đối tác nước ngoài và các kênh tiêu thụ trong nước gặp khó khăn trong việc thanh toán đúng hạn vì dịch bệnh.

3. Hoạt động cho vay doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế đóng góp như thế nào vào tổng thu nhập của chi nhánh? Thu nhập lãi thuần từ mảng cho vay này tăng đều về giá trị tuyệt đối qua các năm: đạt 4,36 tỷ đồng (năm 2018), 5,63 tỷ đồng (năm 2019) và 6,18 tỷ đồng (năm 2020). Về tỷ trọng đóng góp trên tổng thu nhập lãi thuần của chi nhánh, mảng này chiếm 5,79% (năm 2018), tăng lên 6,24% (năm 2019) và giảm nhẹ về mức 6,12% (năm 2020).

4. Khóa luận chỉ ra những rủi ro khách quan đặc thù nào từ môi trường kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay xuất nhập khẩu dược phẩm y tế? Ba nhân tố kinh tế vĩ mô chính được phân tích gồm: (1) Rủi ro tỷ giá hối đoái: khi tỷ giá biến động bất lợi, doanh nghiệp nhập khẩu thuốc phải bỏ ra lượng nội tệ lớn hơn để mua ngoại tệ trả nợ, làm giảm khả năng trả nợ đúng hạn; (2) Rủi ro lãi suất: chênh lệch giữa lãi suất vay và biên lợi nhuận của ngành dược gây áp lực lên chi phí tài chính; (3) Đại dịch Covid-19: gây đình trệ lưu thông hàng hóa, suy giảm nhu cầu tín dụng chung và làm tăng chi phí vận chuyển quốc tế.

5. Cơ cấu tổ chức và quy mô nhân sự của MB Chi nhánh Trần Duy Hưng được ghi nhận như thế nào trong văn bản? MB Chi nhánh Trần Duy Hưng được thành lập ngày 06/12/2004, là chi nhánh cấp 1 loại 2 đặt tại nhà 17T-2 Hoàng Đạo Thúy, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Tại thời điểm khảo sát, chi nhánh có tổng cộng 70 cán bộ nhân viên, gồm Ban Giám đốc (01 Giám đốc, 01 Phó Giám đốc), các phòng ban nghiệp vụ (Phòng Quan hệ khách hàng, Bộ phận Back office, Bộ phận Thẩm định, Bộ phận Kế toán & Quỹ, Bộ phận Hành chính nhân sự) và quản lý 4 điểm giao dịch gồm Trụ sở chi nhánh, PGD Nam Trung Yên, PGD Láng Thượng và PGD Trung Văn.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Mai Thị Khánh Huyền tại Học viện Ngân hàng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết và phương pháp đánh giá chất lượng tín dụng đối với nhóm doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu dược phẩm y tế. Dựa trên nguồn dữ liệu tài chính thực tế giai đoạn 2018–2020 của MB Chi nhánh Trần Duy Hưng, nghiên cứu đã phân tích rõ nét sự tăng trưởng về quy mô dư nợ, doanh số và lợi nhuận song hành với xu hướng gia tăng rủi ro nợ quá hạn, nợ xấu dưới tác động của dịch Covid-19. Các giải pháp quản trị điều hành, thẩm định và phát triển nghiệp vụ tài trợ thương mại được đề xuất có tính bám sát thực tiễn, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng ngành dược tại các ngân hàng thương mại.