phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về chất lƣợng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Thực trạng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội – chi nhánh Ba Đình. - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội – chi nhánh Ba Đình. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về hoạt động cho vay Cho vay là một trong năm hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại bên cạnh bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính và bao thanh toán. Tuy nhiên, cho vay là hoạt động quan trọng và phổ biến nhất của Ngân hàng, là hoạt động đem lại cho Ngân hàng một khoản lợi nhuận rất lớn, khoản mục cho vay chiếm 1 tỷ trọng lớn trong tài sản của Ngân hàng (khoảng 70%), với quy mô nhƣ vậy cho vay ảnh hƣởng đến nhiều chiến lƣợc hoạt động của Ngân hàng nhƣ dự trữ, vay, đầu tƣ. Để hiểu rõ hơn về hoạt động cho vay của Ngân hàng Thƣơng mại trƣớc hết ta phải tìm hiểu về khái niệm cho vay.
Trong quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, tại mục 2 điều 3: cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Định nghĩa trên đƣợc ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình. Đặc điểm của hoạt động cho vay Tính pháp lý của nghiệp vụ cho vay Cho vay của ngân hàng là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý. Các hành vi cho vay của ngân hàng có cùng một logíc kinh tế, hứng chịu rủi ro cho một ngƣời mà ngân hàng tin tƣởng ứng vốn cho vay, nhƣng nó không chỉ gồm một giao dịch pháp lý mà nhiều loại (cho vay, bảo lãnh , cầm cố…).
5 Luật ngân hàng các nƣớc định nghĩa tín dụng nhƣ sau: “Cấu thành một nghiệp vụ tín dụng bất cứ tác động nào, qua đó một ngƣời đƣa hoặc hứa đƣa vốn cho một ngƣời khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho ngƣời này nhƣng đảm bảo, bảo trứng hay bảo lãnh mà có thu tiền”. Định nghĩa này nêu ra 3 trƣờng hợp xét về tính chất pháp lý, các nghiệp vụ cho vay ngân hàng về cơ bản là: - Cho vay ứng trƣớc (cho vay trực tiếp). - Cho vay dựa trên việc chuyển nhƣợng trái quyền. - Cho vay qua chữ ký (cho vay qua việc cam kết bằng chữ ký).
Các khoản vay đều phải theo một quy trình cho vay, thu nợ nhất định Thông thƣờng gồm 5 bƣớc: Bƣớc 1: Lập hồ sơ đề nghị vay. Bƣớc 2: Phân tích tín dụng. Bƣớc 3: Quyết định cấp tín dụng cho vay. Bƣớc 4: Giải ngân.
Bƣớc 5: Giám sát thu nợ và thanh lý hợp đồng cho vay. Lãi suất trong hợp đồng cho vay Ngân hàng sẽ dựa vào nguyện vọng của khách hàng để lựa chọn lãi suất thả nổi hay lãi suất cố định cho khoản vay; hoặc ngân hàng sẽ căn cứ vào tính chất, mục đích khoản vay, thời hạn hay giá trị món vay để quyết định mức lãi suất phù hợp. Lãi suất của khoản vay tất nhiên cũng sẽ đƣợc điều chỉnh theo các quy định của Ngân hàng nhà nƣớc, chẳng hạn nhƣ hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu đang đƣợc ƣu tiên vay vốn với lãi suất 7,5%/năm thấp hơn so với mặt bằng lãi suất trên thị trƣờng. Thời hạn trong hợp đồng cho vay Trong thời hạn cho vay, có thể chia cho vay của NHTM thành 3 loại: cho vay ngắn han, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn.
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. - Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. 6 - Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thòi hạn trên 5 năm. Cho vay trung hạn và dài hạn thƣờng đƣợc dùng để tài trợ cho các TSCĐ nhƣ phƣơng tiện vận tải, trang thiết bị, máy móc, công trình xây dựng….
Tùy từng mục đích sử dụng vốn mà ngân hàng quyết định cho khách hàng vay theo thời hạn tƣơng ứng. Các khoản cho vay có hoặc không có tài sản đảm bảo Tuỳ vào việc đánh giá và xếp hạng khách hàng của ngân hàng mà ngân hàng có thể quyết định món vay cần hay không cần tài sản đảm bảo và mức bảo đảm là nhƣ thế nào. Bên cạnh đó, ngân hàng sẽ căn cứ vào mục đích sử dụng vốn cũng nhƣ cách thức trả nợ hay thời hạn và giá trị món vay để xem xét vấn đề về tài sản đảm bảo. Cũng tùy thuộc vào hình thức cho vay mà có thể cần hay không cần tài sản đảm bảo, chẳng hạn nhƣ hình thức cho vay thấu chi chủ yếu là không cần tài sản đảm bảo.
Khi kết thúc hợp đồng khách hàng có nghĩa vụ trả ngốc và lãi hoặc một số thoả thuận khác nếu đƣợc ngân hàng cho vay chấp nhận. Trƣờng hợp khách hàng không thực hiện hợp đồng hay không có một điều khoản nào khác thì tài sản đảm bảo thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay. Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại Đối với ngân hàng: hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động khác của ngân hàng Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động chủ yếu của Ngân hàng, doanh thu từ hoạt động này thƣờng chiếm 70% doanh thu, ở các nƣớc phát triển, hay đến 90% doanh thu của Ngân hàng, ở các nƣớc đang phát triển. Một khi ngân hàng thu đƣợc lợi nhuận lớn sẽ có điều kiện và động lực để mở rộng các hoạt động và mạng lƣới chi nhánh.
Mặt khác, nhờ có hoạt động cho vay, mà các đơn vị kinh tế có thể vay của Ngân hàng để đầu tƣ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận thu đƣợc không những doanh nghiệp đủ tiền trả cho Ngân hàng mà còn có tiền gửi vào Ngân hàng, nghĩa là làm tăng hoạt động huy động vốn 7 của Ngân hàng. Và khi nền kinh tế - xã hội phát triển thì các hoạt động dịch vụ của Ngân hàng cũng phát triển. Đối với doanh nghiệp Cung ứng vốn kịp thời cho doanh nghiệp: tại nƣớc ta, thị trƣờng tài chính chƣa thực sự phát triển để đáp ứng đa dang các nhu cầu về vốn cho các chủ thể kinh tế, trong đó có các doanh nghiệp. Và đặc biệt, với 97% các doanh nghiệp và DNNVV, chƣa thể hoặc khó có thể huy động vốn trên thị trƣờng chứng khoán thì nguồn vốn ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nguồn vốn của các DN này bên cạnh tín dụng thƣơng mại với nhà cung cấp.
Nếu nhƣ thiếu đi nguồn huy động này các doanh nghiệp tại nƣớc ta sẽ thực sự gặp khó khăn. Thúc đẩy DN mở rộng sản xuất kinh doanh, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật – công nghệ Trong điều kiện kinh doanh làm ăn có lãi, các doanh nghiệp sẽ tăng cƣờng mở rộng sản suất kinh doanh, đổi mới sản phẩm, đẩy mạnh việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ. Để thực hiện đƣợc các quyết định đó, doanh nghiệp sẽ cần lƣợng vốn lớn và vốn vay từ ngân hàng sẽ là một phần lớn trong đó. Quyết định cho vay của ngân hàng sẽ quyết định một phần thành công của các quyết sách quan trọng của doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp tiếp cận đƣợc nguồn vốn và thực hiện thành công các kế hoạch thì cũng sẽ tạo ra nhƣng lợi ích không chỉ cho riêng DN, nâng cao khả năng ứng dụng khoa học công nghệ mà còn mang lại lợi nhuận đầy đủ cho ngân hàng, tạo ra sản lƣợng, công ăn việc làm cho nền kinh tế. Đối với nền kinh tế Hoạt động cho vay góp phần điều hòa cung – cầu dịch vụ hàng hóa Doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn của Ngân hàng. Nhƣng doanh nghiệp chỉ thu đƣợc lợi nhuận cũng nhƣ có khả năng trả nợ Ngân hàng khi doanh 8 nghiệp tiêu thụ đƣợc hết số sản phẩm hàng hoá đã sản xuất ra, hay phải có một bộ phận những ngƣời tiêu dùng mua và có khả năng mua sản phẩm đó. Về phía ngƣời tiêu dùng, với một mức thu nhập nhất định, họ không thể có đủ số tiền để mua hàng hoá mình muốn.
Họ chỉ có đủ khả năng mua sau một thời gian dài tích luỹ. Đó là nguyên nhân dẫn đến chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn của doanh nghiệp bị ngƣng trệ. Doanh nghiệp sẽ không thu hồi đủ tiền để thực hiện vòng quay sản xuất. Do đó Ngân hàng cho vay là giải pháp có lợi đôi bên.
Ngân hàng cho doanh nghiệp vay sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thì sẽ có nhiều hàng hoá. Ngân hàng cho ngƣời tiêu dùng vay sẽ thoả mãn nhu cầu hàng hoá. Nhƣ vậy hoạt động cho vay của Ngân hàng đã góp phần điều hoà cung cầu sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho nền kinh tế. Hoạt động cho vay góp phần điều tiết và phân phối nguồn vốn Vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế vận động liên tục và biểu hiện qua các hình thức khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo thành chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn, điểm xuất phát và kết thúc của một vòng tuần hoàn này thể hiện dƣới dạng tiền tệ.
Trong quá trình sản xuât kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi nguồn vốn của doanh nghiệp luôn đồng thời tồn tại ở ba giai đoạn: dự trữ- sản xuất- lƣu thông. Từ đó xảy ra hiện tƣợng thừa, thiếu vốn tạm thời: tại một thời điểm nhất định có những đơn vị kinh tế có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi (thừa vốn) và có những đơn vị tạm thời thiếu vốn. Đây là hiện tƣợng mang tính chất tạm thời nhƣng xảy ra thƣờng xuyên và phổ biến trong bất kì nền kinh tế nào, làm nảy sinh nhu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết đƣợc vấn đề điều hoà vốn.