chương 1 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Sau đó, Nghị định số 56 của Chính phủ ban hành năm 2009 đã có điều chỉnh định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau : 8 Bng 1.2 : Vit Nam phân loi doanh nghip nh và va Doanh Quy mô nghip Doanh nghip nh Doanh nghip va siêu nh Khu vc S lao Tng S lao Tng ngun S lao ng ngun vn ng vn ng I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.
Thương 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định 56 NĐ/CP /2009 của Chính Phủ Việt Nam Mới đây nhất ngày 12 tháng 6 năm 2017, Quốc hội đã ban hành Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Luật số 04/2017/QH14). Theo đó, Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Để cụ thể hóa luật, Chính phủ đã ban hành nghị định số 39/2018/NĐ-CP qui định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ DNNVV ký ngày 11/3/2018. Tại điều 6 – Tiêu chí xác định DNNVV của Nghị định số 39/2018/NĐ-CP qui định : Khoản 1 : Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Khoản 2 : Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng 9 hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 t ỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Khoản 3 : Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 t ỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Tóm lại, DNNVV là tổ chức sản xuất kinh doanh có quy mô giới hạn theo những tiêu chí nhất định, gắn với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.2 Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Bng 1.3: S ng doanh nghip siêu nh, nh, va và ln theo quy mô lao ng 2005 2010 2015 Toàn b doanh nghip 106.486 Doanh nghiệp siêu nhỏ 59.236 Doanh nghiệp nhỏ 38.753 Doanh nghiệp vừa 3.835 Doanh nghiệp siêu nhỏ 54 103 90 Doanh nghiệp nhỏ 1.139 Doanh nghiệp vừa 666 539 407 Doanh nghiệp lớn 1.709 Doanh nghiệp siêu nhỏ 59.097 10 2005 2010 2015 Doanh nghiệp nhỏ 35.105 Doanh nghiệp vừa 2.304 Doanh nghiệp lớn 2.203 Doanh nghip FDI 3.942 Doanh nghiệp siêu nhỏ 396 1.049 Doanh nghiệp nhỏ 1.509 Doanh nghiệp vừa 378 639 974 Doanh nghiệp lớn 968 1.410 Nguồn: Sách trắng Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 Bảng 1.2 cho thấy trong giai đoạn 2005- 2015, số doanh nghiệp tăng lên đều đặn qua các năm. Tuy nhiên xét theo khu vực thì số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm dần trong khi số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng mạnh và tăng tiếp theo là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khu vực doanh nghiệp nhà nước có số doanh nghiệp lớn chiếm tỷ trọng lớn nhất, sau đó tới doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và rất ít doanh nghiệp siêu nhỏ.
Khu vực ngoài nhà nước chủ yếu là doanh nghiệp siêu nhỏ rồi đến doanh nghiệp nhỏ và rất ít doanh nghiệp lớn cùng doanh nghiệp vừa. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có số lượng doanh nghiệp tập trung nhiều ở doanh nghiệp nhỏ, sau đó lần lượt là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp lớn và ít doanh nghiệp vừa. Những đặc điểm cơ bản của DNNVV bao gồm : Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn hạn chế, đa phần là vốn tự có và khả năng tiếp cận vốn tín dụng thấp. Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, DNNVV chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu không lớn, diện tích mặt bằng nhỏ hoặc có thể tận dụng chính nhà cửa của chủ sở hữu,… Điều này tạo cho DNNVV lợi thế hơn so với doanh nghiệp lớn như thành lập và gia nhập thị trường dễ dàng, vốn đầu tư được thu hồi nhanh do lĩnh vực DNNVV tham gia có chu kỳ sản xuất ngắn, không đỏi hỏi đầu tư trang thiết bị công nghệ nhiều,… Nhưng do hạn chế về quy mô vốn nên DNNVV có những bất lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong việc tiếp cận vốn tín dụng.
Với số vốn đầu tư ban đầu hạn chế, trong khi nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, yêu cầu đổi mới nâng cấp thiết bị, đầu tư công nghệ mới ngày càng tăng dẫn đến việc DNNVV dễ lâm vào tình trạng thiếu vốn, trong khi đó việc tiếp cận vốn tín dụng thường gặp phải rất nhiều khó khăn do DNNVV không đủ tài sản thế chấp khi vay vốn, trong 11 khi đó khả năng lập hồ sơ vay vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh của DNNVV lại hạn chế,… Thứ hai, DNNVV có lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh đa dạng. Những lợi thế của DNNVV như quy mô, tiềm lực tài chính nhỏ, linh hoạt trong kinh doanh, dễ thành lập, dễ ra nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh,… đã tạo điều kiện cho các DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp, trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhờ quy mô vốn đầu tư nhỏ, khai thác tốt nguồn lao động và nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương, nắm bắt và đáp ứng nhanh chóng được những thay đổi của thị trường nên DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy và phát triển kinh tế của địa phương và đất nước. Thứ ba, DNNVV có số lượng lao động hạn chế, lao động có trình độ và tay nghề cao không nhiều.
DNNVV sử dụng số lao động hạn chế, lao động thường có trình độ tay nghề không cao, chủ yếu là lao động phổ thông. Do hạn chế về nguồn tài chính, môi trường làm việc cũng như chế độ đãi ngộ nên DNNVV khó tuyển dụng được lao động có trình độ và tay nghề cao. Người lao động được đào tạo ở DNNVV chiếm một tỷ lệ không lớn. Ngoài ra, cơ hội thăng tiến cũng như tín ổn định và chế độ phúc lợi thấp khi làm việc ở DNNVV đã không đủ sức thu hút đối với những lao động có trình độ chuyên môn, năng lực và tay nghề cao.
Thực tế này dẫn đến tình trạng DNNVV gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong quản trị tài chính và xây dựng, quản lý, thực hiện các dự án đầu tư/phương án sản xuất kinh doanh. Thứ tư, đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp năng động nhưng năng lực quản trị chưa cao. Bộ máy quản lý điều hành doanh nghiệp khá tinh gọn. DNNVV có đặc điểm là số lượng lao động hạn chế, công tác quản lý thường do chủ doanh nghiệp trực tiếp thực hiện, xử lý công việc hầu như được chuyển thẳng từ chủ doanh nghiệp đến từng nhân viên mà không cần qua nhiều cấp quản lý trung gian.
Điều này làm hiệu quả quản trị điều hành của DNNVV tăng lên, tiết kiệm được chi phí quản lý, nhanh chóng. Tuy nhiên, việc phân công công việc trong DNNVV thường có hiện tượng đa nhiệm, mức độ chuyên môn hóa không cao, người lao động phải đảm nhận nhiều công việc chuyên môn khác nhau. Thứ năm, DNNVV có khả năng tiếp cận thị trường thấp, gặp nhiều khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế. DNNVV thường không dành kinh phí lớn cho hoạt động marketing nên việc xây dựng và định vị thương hiệu trên thị trường còn nhiều hạn chế, khó vươn ra thị 12 trường quốc tế.
Thị phần của DNNVV không lớn, khả năng chi phối thị trường không cao. Thị trường thường phản ứng ít quyết liệt, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược kinh doanh của DNNVV.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Vai trò của DNNVV được thể hiện qua các nội dung sau: Thứ nhất, DNNVV giải quyết tốt vấn đề việc làm và thu thập cho người lao động, đặc biệt là lao động địa phương. Với số lượng đông đảo, hoạt động trên nhiều địa bàn, sử dụng nhiều lao động nên các DNNVV đã góp phần giải quyết ngay nhu cầu việc làm của địa phương, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là ở các vùng kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa cao.