CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Mặc dù là một khái niệm phổ biến nhưng định nghĩa về DNNVV vẫn tồn tại nhiều khác biệt trên thế giới. Uỷ ban chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) định nghĩa DNNVV là các công ty có khoảng 50 nhân sự và doanh thu hàng năm ở mức khoảng 10 triệu euro (tương đương 280 tỷ đồng), đa số có trên dưới 10 nhân sự và không có một bộ phận theo dõi tuân thủ các chuẩn mực báo cáo tài chính.
Theo Ngân hàng Thế giới, khái niệm DNNVV được xác định là các doanh nghiệp đạt tối thiểu 2 trong 3 điều kiện tối đa về số lượng nhân sự, quy mô tài sản và doanh thu hàng năm. Các ngưỡng xác định trên được thể hiện cụ thể tại dưới đây. Bảng xác định quy mô doanh nghiệp theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới Quy mô công ty Số lượng nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Vi mô < 10 < $ 100.000 Nhỏ < 50 < $ 3 triệu < $ 3 triệu Vừa < 300 < $ 15 triệu < $ 15 triệu Nguồn: Ngân hàng Thế giới Tại Việt Nam, DNNVV được định nghĩa cụ thể tại nghị định 39/2018/NĐ- CP (sau đây gọi tắt là “Nghị định 39”) ban hành ngày 11/03/2018, trong đó có quy định: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, cụ thể quy định như sau: (i) Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản 10 và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
(ii) Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. (iii) Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.” Với các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, việc định nghĩa phân khúc khách hàng DNNVV cũng tồn tại nhiều điểm khác biệt.
Nhóm các ngân hàng có vốn Nhà nước phân định nhóm DNNVV căn cứ vào quy định của Nghị định 39 của Chính phủ và đưa nhóm doanh nghiệp này về quản lý tập trung cùng nhóm khách hàng cá 11 nhân. Đối với nhóm ngân hàng tư nhân, việc đánh giá và phân nhóm sẽ tập trung vào yếu tố duy nhất là quy mô doanh thu hàng năm của doanh nghiệp. Tại đây, mức doanh thu ≤ 200 tỷ được xác định là ranh giới phổ biến nhất để định nghĩa về DNNVV. Điển hình như TCB, ngân hàng này đang phân chia các phân khúc thuộc sự quản lý của khối Khách hàng doanh nghiệp theo tiêu chí cụ thể như sau: Bảng 1.
Bảng xác định phân khúc khách hàng doanh nghiệp tại TCB Phân khúc Quy mô doanh thu hàng năm Mảng kinh doanh Middle Market (MM) ≥ 600 tỷ đồng USME & MM Upper SME (USME) 200 - 600 tỷ đồng (doanh nghiệp lớn) SME (DNNVV) 20 - 200 tỷ đồng SME Micro SME (MSME) ≤ 20 tỷ đồng Nguồn: Quy trình cấp tín dụng KHDN - TCB Như vậy, mặc dù khái niệm về DNNVV có sự khác biệt giữa tổ chức tài chính nhưng nhìn chung, những sự khác biệt kể trên là không quá lớn và chủ yếu đến từ phương thức đánh giá hay quan điểm nghiên cứu và quản lý của từng tổ chức. Do đó, việc sử dụng một trong các khái niệm trên không làm sai lệch bản chất của đối tượng này. Trong phạm vi nghiên cứu đã được xác định từ trước, tác giả sẽ sử dụng khái niệm và các tiêu chí về DNNVV của TCB làm khái niệm và tiêu chí xuyên suốt trong luận văn lần này. Tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa Với một số đặc điểm về quy mô và phạm vi hoạt động, các DNNVV đóng một vai trò quan trọng trong hầu hết các nền kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Thứ nhất, DNNVV đang là bên có đóng góp lớn trong cầu lao động trên thị trường, góp phần giảm thất nghiệp tại nhiều nền kinh tế. Với quy mô doanh nghiệp không quá lớn, DNNVV dễ dàng tham gia hoạt động trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế với đa dạng sản phẩm, dịch vụ cung cấp tới người tiêu dùng. Nhờ vậy, DNNVV có thể tạo ra cơ hội nghề nghiệp cho đa số các đối tượng lao động tại nhiều địa phương khác nhau. Mặt khác, quy mô 12 sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ và không yêu cầu cao về trình độ lao động ở các vùng sâu, vùng xa, các vùng kinh tế chưa phát triển vẫn có thể đáp ứng.
Đặc biệt trong khủng hoảng và suy thoái kinh tế, trong khi các doanh nghiệp lớn thường là bên có những động thái cắt giảm nhân sự mạnh mẽ nhất thì các DNNVV lại có thể thích nghi nhanh với biến động thị trường để giữ được phần lớn các lao động toàn thời gian của mình hoặc nhanh chóng thu hút trở lại các lao động sau một pha đi xuống của chu kỳ kinh tế. Thứ hai, DNNVV nắm vai trò chính trong việc duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ở hầu hết các quốc gia, DNNVV là đối tác cho các doanh nghiệp lớn. Họ tham gia vào quá trình cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một số lĩnh vực nhất định giúp các doanh nghiệp lớn dễ dàng điều tiết lại các nguồn lực của mình.
Do đó, DNNVV được coi như là những “thanh giảm sốc” cho nền kinh tế khi phải đối mặt với các biến động lớn. Với lợi thế quy mô nhỏ, vốn đầu tư ở mức thấp và nguồn lao động dồi dào, các DNNVV đang phát triển với tốc độ ngày càng nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng cao về số lượng trong nền kinh tế. DNNVV đang đem lại cho người tiêu dùng các sản phẩm phong phú, đa dạng hơn ở tất cả các lĩnh vực, tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn với mức cạnh tranh lớn hơn nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu của con người. Điều này cũng giúp thúc đẩy hiệu quả và gia tăng chất lượng sản phẩm, dịch vụ trên thị trường, góp phân đóng góp vào tổng sản sản phẩm quốc nội của các quốc gia.
Thứ ba, DNNVV giúp tăng hiệu quả khai thác tài nguyên tại các địa phương. Thông thường tại các quốc gia, nguồn lực của chính phủ là giới hạn và sẽ chỉ ưu tiên sử dụng để tập trung phát triển ở các khu vực nhiều tiềm năng và hệ quả là sự phát triển không đều giữa các vùng miền. Trong khi các thành phố lớn nhận được nhiều sự chú ý và dễ dàng thu hút được nguồn đầu tư thì nền kinh tế tại các khu vực lân cận và tại các vùng sâu, vùng xa lại trở nên rất kém hấp dẫn. Các đặc điểm về mô hình kinh doanh có thể là lợi thế không thể bàn cãi của doanh nghiệp lớn tại thành thị những cũng có thể lại là trở ngại của họ tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa do thị trường nông thôn thường có quy mô nhỏ hơn, lực lượng lao 13 động có trình độ thấp hơn, hạ tầng kém phát triển hơn.
Mặc dù vậy, đây lại là cơ hội phát triển cho các DNNVV khi các doanh nghiệp này không chịu sự cạnh tranh gay gắt như khi kinh doanh ở các vùng thành thị. Với sự phân hóa như vậy, các DNNVV sẽ đóng vai trò là đối trọng để tạo ra sự cân bằng cho nền kinh tế, giúp toàn dụng lao động và khai thác hiệu quả tài nguyên tại các khu vực mà doanh nghiệp lớn chưa vươn tới. DNNVV cũng là chủ thể quan trọng tại nhiều địa phương, có tác động tích cực nhất trong việc duy trì các làng nghề truyền thống. Thứ tư, DNNVV thúc với đặc điểm linh hoạt trong hoạt động có thể giúp đẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách năng động.
Các doanh nghiệp trong quá trình phát triển và mở rộng quy mô sẽ dần chạm tới ngưỡng bão hòa mà ở đó, càng tăng trưởng sẽ càng làm thụt lùi. Một nền kinh tế có tỉ trọng doanh nghiệp lớn quá cao sẽ có tốc độ tăng trưởng chậm chạp. Ở chiều ngược lại, DNNVV chiếm tỉ lệ hợp lý sẽ tạo ra động lực tăng trưởng nhanh hơn và linh hoạt hơn cho quốc gia. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa (i) Quy mô và tiềm lực tài chính nhỏ So với doanh nghiệp lớn, DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô doanh thu, tổng tài sản và số lượng lao động nhỏ hơn.
Do đó, các DNNVV dễ dàng phát triển bằng cách tham gia vào các lĩnh vực, các địa bàn mà các doanh nghiệp lớn chưa phát triển tới hoặc không dễ dàng phát triển được mô hình kinh doanh phù hợp và hiệu quả. Tuy nhiên, DNNVV sẽ gặp khó khăn trong việc tiến hành đầu tư nhà xưởng, máy móc thiết bị do hạn chế về vốn.