Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Tại các nền kinh tế khác nhau, ở từng giai đoạn phát triển kinh tế thì việc phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn (DNL) và DNNVV thay đổi.Việc đưa ra khái niệm chính xác về doanh nghiệp nhỏ và vừa là khó có thể.Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DNNVV, chúng ta có thể tham khảo tiêu chí phân loại DNNVV ở một số nước trong Bảng 1.
Một số chỉ tiêu xác định DNNVV ở một số nước Tiêu chí phân loại Số lao động Nước Tổng giá trị tài Doanh (người) sản thu/năm bình quân Nhật Bản <300 Người 883.180 USD Không quy định Mỹ < 500 Người Không quy định Không quy định Canada < 500 Người Không quy định 19.000USD Indonesia < 100 Người 63.020 USD Mexico < 250 Người < 7 triệu USD Không quy định Thái Lan < 100 Người 654.599 USD Không quy định Hàn Quốc < 300 Người Không quy định Không quy định Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000. Tại Việt Nam, theo luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc Hội quy định: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: vừa, nhỏ, siêu nhỏ theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được m 11 xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) cụ thể như sau: Bảng 1. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp siêu nhỏ nhỏ vừa Quy mô Tổng Tổng Tổng Khu vực Số lao Số lao Số lao nguồn nguồn nguồn động động động vốn vốn vốn I. Nông, lâm ≤ 3 tỷ ≤ 10 ≤ 20 tỷ ≤ 100 ≤ 100 ≤ 200 nghiệp và thủy đồng người đồng người tỷ đồng người sản II.
Công nghiệp ≤ 3 tỷ ≤ 10 ≤ 20 tỷ ≤ 100 ≤ 100 ≤ 200 và xây dựng đồng người đồng người tỷ đồng người III. Thương mại ≤ 3 tỷ ≤ 10 ≤ 50 tỷ ≤ 50 ≤ 100 ≤ 100 và dịch vụ đồng người đồng người tỷ đồng người (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính Phủ) Một trong những điểm mới của Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 là đưa ra một định nghĩa tương đối cụ thể về DNNVV phân theo 03 loại hình: + Doanh nghiệp siêu nhỏ + Doanh nghiệp nhỏ + Doanh nghiệp vừa. Những ưu điểm, nhược điểm chủ yếu của doanh nghiệp nhỏ và vừa a) Ưu điểm - Doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt do vậy dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh: Cơ cấu tổ chức gọn m 12 nhẹ là điều kiện thuận lợi để chủ doanh nghiệp quản lý và giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động nội bộ của doanh nghiệp. - DNNVV cần vốn đầu tư ban đầu ít, tốc độ thu hồi vốn nhanh, hiệu quả kinh tế cao.
Và loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vừa phải nên yêu cầu vốn đầu tư sản xuất không quá lớn (dưới 10 tỷ) hơn nữa chu kỳ sản xuất thường ngắn nên vòng quay của mỗi đồng vốn nhanh, hiệu quả kinh tế đem lại cao. - DNNVV có lợi thế trong việc nắm bắt nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng để sản xuất ra các sản phẩm phù hợp. - DNNVV tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế. - DNNVV có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp lớn.
b) Nhược điểm Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể kể đến hàng loạt các điểm yếu của các DNNVV, mà khởi đầu là thiếu các nguồn lực phát triển, đặc biệt là các nguồn lực về tài chính và con người. Đối với một số ngành hàng thì các DNNVV không tận dụng được các lợi thế về qui mô. Còn một điểm nữa đó là sự hình thành và phát triển của các DNNVV phụ thuộc nhiều vào chủ doanh nghiệp nên khó thu hút trí tuệ tập thể trong các quyết định dài hạn và chiến lược của doanh nghiệp. Điều này thể hiện qua cách thức đưa ra các quyết định quan trọng mang tính chiến lược của doanh nghiệp.
Tại các doanh nghiệp lớn các quyết định mang tính chiến lược được thực hiện theo qui trình và có hệ thống, tuy nhiên tại các DNNVV thì các quyết định này trong nhiều trường hợp mang nặng ý kiến chủ quan của chủ doanh nghiệp. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, sự tồn tại nhiều hình thức sản xuất kinh doanh, nhiều loại hình doanh nghiệp với quy mô và trình độ phát triển khác nhau là một tất yếu khách quan. Mỗi loại hình doanh m 13 nghiệp lại có những vai trò riêng biệt, song so với các doanh nghiệp lớn, DNNVV có những vai trò sau: a) DNNVV tham gia giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần ổn định xã hội Hiện nay giải quyết việc làm cho người lao động góp phần ổn định trật tự xã hội là vấn đề nan giải cho nhiều quốc gia, đặc biệt là với nước đang phát triển như Việt Nam. Sự tồn tại và phát triển của loại hình DNNVV là một phương tiện có hiệu quả để giải quyết vấn đề việc làm, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.
Với lý do đơn giản là DNNVV thường xuyên đáp ứng được nhu cầu thay đổi thị trường. Vì vậy, mặc dù số lao động làm việc trong một DNNVV không nhiều nhưng theo quy luật số đông với số lượng lớn các DNNVV các khả năng tạo ra khối lượng việc làm vô cùng lớn cho xã hội. b) DNNVV cung cấp ra thị trường khối lượng sản phẩm dịch vụ lớn, đa dạng và phong phú về mẫu mã chủng loại, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinhtế DNNVV chiếm số lượng đông đảo trong nền kinh tế đó tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội. Mặt khác do đặc tính linh hoạt, mềm dẻo các DNNVV có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Hàng năm, các DNNVV đóng góp cho nền kinh tế khoảng hơn 40% GDP, 5% giá trị sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá. c) DNNVV tham gia vào quá trình tạo lập sự phát triển công bằng và dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ Một thực tế ở nước ta hiện nay là hầu hết các doanh nghiệp lớn tập trung ở thành phố, thị xã, chiều hướng đó đó gây ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội giữa thành thị và nông thôn và giữa các vùng miền trong cả nước.Chính sự phát triển của khối DNNVV là một giải pháp cho việc tạo lập sự cân đối về trình độ phát m 14 triển giữa các vùng miền và sự phát triển đồng đều giữa các lĩnh vực của nền kinh tế, đồng thời thu hút lao động trong xã hội, hạn chế sự chuyển dịch lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị kiếm việc. Tạo động lực khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống thư mây tre đan, dệt, đồ gốm. góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống xã hội cho dân cư.
d) DNNVV góp phần quan trọng thu hút vốn đầu tư trong dân cư, đồng thời khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực của địa phương Với quy mô hoạt động nhỏ và vừa thì DNNVV chính là mô hình đầu tư phù hợp cho những chủ thể có điều kiện hạn chế về vốn muốn tham gia kinh doanh. Mặt khác trong quá trình hoạt động các DNNVV có khả năng huy động vốn từ họ hàng, bạn bè. Chính vì thế các DNNVV được coi là phương tiện hiệu quả trong việc huy động vốn trong dân cư cho đầu tư sản xuất kinh doanh. Với quy mô nhỏ và vừa được phân bố ở nhiều địa phương và nhiều vùng miền nên các DNNVV có khả năng tận dụng được các tiềm năng về lao động và tài nguyên sẵn có của địa phương phục vụ cho sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của địa phương, của đất nước.
e) DNNVV tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và gia tăng nguồn hàng xuất khẩu Trong điều kiện mở cửa hội nhập ở Việt Nam hiện nay các DNNVV phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt không chỉ với các DNNVV trong nước mà còn phải cạnh tranh với các DNNVV nước ngoài. Cạnh tranh đó tạo ra sức ép buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới công nghệ kỹ thuật, đổi mới mẫu mã chủng loại, nâng cao chất lượng sản phẩm để thích ứng với yêu cầu của thị trường. Hơn thế, các DNNVV giành được ưu thế trong cạnh tranh do biết nắm bắt cơ hội và lựa chọn đầu tư đúng hướng, có khả năng đầu tư vào một số ngành công nghệ kỹ thuật cao và hiện đại tạo ra nguồn hàng xuất khẩu lớn ra thị trường m 15 quốc tế. Đem lại nguồn thu nhập lớn cho doanh nghiệp, đồng thời thu về khối lượng ngoại tệ lớn cho ngoại hối quốc gia.
Hoạt động phát triển vốn tín dụng ngân hàng đối với DNNVV là nghiệp vụ cơ bản của NHTM trong giai đoạn hiện nay 1. Khái niệm và đặc điểm của tín dụng ngân hàng a) Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Nguyễn Minh Kiều (2013): “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một số nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau: - Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ từ chủ thể thặng dư thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
- Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể.