Chương 1: Lý luận chung về tín dụng ngân hàng đối với DNN&V Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNN&V tại Ngân hàng TMCP Đầu Tƣ và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Vĩnh Phúc Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNN&V tại Ngân hàng TMCP Đầu Tƣ và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Vĩnh Phúc 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa DNN&V có vai trò to lớn đối với sự phát triển chung của đất nƣớc cũng nhƣ có số lƣợng lớn trong cơ cấu doanh nghiệp, vì vậy một định nghĩa chính xác về DNN&V có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chiến lƣợc kinh tế của một quốc gia. Tiêu thức để phân loại DNN&V ở mỗi quốc gia là khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể.
Ở Việt Nam hiện nay sử dụng hai nhóm tiêu chí phổ biến nhất để phân loại đó là: tiêu chí định tính và tiêu chí định lƣợng. Các tiêu chí định tính: Tiêu chí này dựa trên những đặc trƣng cơ bản của doanh nghiệp nhƣ trình độ quản lý, mức độ chuyên môn hóa, mức độ độc lập với các tập đoàn lớn…Một doanh nghiệp là DNN&V khi nó có trình độ quản lý chƣa chuyên nghiệp, mức độ chuyên môn hóa chƣa cao, phụ thuộc nhiều vào các tập đoàn lớn…Tuy tiêu chí định tính này phản ánh đúng vấn đề thực trạng của doanh nghiệp nhƣng lại khó xác định một cách chính xác trên thực tế, mang nặng tính chủ quan, bởi vậy mà nó mang tính tham khảo, kiểm chứng và ít đƣợc sử dụng trong thực tế. Các tiêu chí định lượng: có ba tiêu chí thƣờng đƣợc sử dụng độc lập hoặc kết hợp với nhau, bao gồm: số lao động định biên, giá trị tài sản, vốn kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận. Có nhiều nƣớc sử dụng chỉ tiêu định lƣợng nhƣng mỗi nƣớc lại sử dụng những tiêu chuẩn khác nhau.
Cũng phải nói thêm rằng, với hầu hết các nƣớc trên thế giới, DNN&V không liên quan đến loại hình sở hữu nhà nƣớc, tƣ nhân hay nƣớc ngoài cũng nhƣ loại hình doanh nghiệp – doanh nghiệp tƣ nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiêm hữu hạn hay công ty cổ phần. 7 Ở Việt Nam, DNN&V cũng đƣợc xác định theo tiêu chí định lƣợng. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008-2011, nền kinh tế nƣớc ta chịu thiệt hại nặng nề đặc biệt là các DNN&V, vì vậy ngày 11 tháng 03 năm 2018, Chính phủ ban hành nghị định 39/2018/NĐ-CP về Quy định chi tiết một số điều của luật DNN&V thay thế nghị định Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009, theo đó nghị định này đã đƣa ra định nghĩa về DNN&V nhƣ sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại Nghị định này. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNN&V tồn tại và phát triển với các đặc điểm sau: Thứ nhất, DNN&V có quy mô vốn nhỏ, tuy nhiên cũng có sự khác biệt về quy mô vốn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Lĩnh vực sản xuất thƣờng đòi hỏi vốn đầu tƣ ban đầu cao hơn lĩnh vực thƣơng mại dịch vụ. Với vốn đầu tƣ ban đầu không lớn cộng thêm chu kỳ sản xuất của các DNN&V thƣờng ngắn nên vòng quay vốn nhanh, khả năng hoàn vốn nhanh từ đó đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên vốn ít cũng là một trở ngại đáng kể của DNN&V trong việc đổi mới các thiết bị sản xuất, nghiên cứu thị trƣờng, phát triển sản phẩm,…từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, làm cho DNN&V phát triển thiếu bền vững. Thứ hai, DNN&V có bộ máy sản xuất và quản lý gọn nhẹ, hiệu quả. Với số lƣợng lao động trong mỗi doanh nghiệp không vƣợt quá 200 ngƣời, sẽ tiết kiệm đƣợc chi phí trong quản lý, chi phí hành chính, làm tăng doanh thu. 9 Thứ ba, trình độ quản lý và ngƣời lao động: Trình độ quản lý của đội ngũ lãnh đạo của các DNN&V hiện nay còn rất hạn chế bởi vì hầu hết chủ doanh nghiệp đồng thời là ngƣời điều hành doanh nghiệp đó, trong đó chỉ có 1,5% có trình độ trên đại học, 5% tốt nghiệp đại học hoặc tƣơng đƣơng (theo thống kê của cục phát triển DNN&V – Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ).
Đối với đội ngũ lao động chủ yếu là ngƣời tại địa phƣơng, tay nghề, kiến thức chuyên môn hạn chế, ít đƣợc đào tạo bài bản. Thứ tư, công nghệ thiết bị còn lạc hậu, 60% DNN&V sử dụng công nghệ thiết bị cũ, công nghệ hiện đại chỉ chiếm khoảng 20%, việc này dẫn đến năng suất lao động thấp, tiêu hao nhiều nguyên vật liệu, làm cho giá thành cao. Nếu không giải quyết đƣợc sẽ làm cho doanh nghiệp khó cạnh tranh đƣợc trên thị trƣờng. Thứ năm, DNN&V có tính năng động và linh hoạt cao.
Với quy mô không quá lớn, các doanh nghiệp có thể dễ dàng thay đổi loại hình kinh doanh để thích ứng với những biến động của thị trƣờng. Mặt khác, DNN&V tồn tại ở mọi thành phần kinh tế nên nó hoàn toàn có thể chuyển hƣớng sang các loại hình sản xuất cho phù hợp nhu cầu thị trƣờng. Việc phổ biến áp dụng các chính sách kinh tế cũng dễ thực hiện hơn. Thứ sáu, thị trƣờng của các DNN&V chủ yếu phục vụ các doanh nghiệp lớn nhƣ làm nhà cung cấp nguyên vật liệu, làm đại lý bán hàng,…Do đó những đoạn thị trƣờng còn bị bỏ ngỏ, chứa đựng nhiều rủi ro.
Điều này làm cho hoạt động của các DNN&V trở nên bấp bênh, sự cạnh tranh gay gắt. Trên thị trƣờng, các doanh nghiệp có thể gia nhập và rút lui dễ dàng. Hầu nhƣ không có doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh để làm biến động giá cả và sản lƣợng trên thị trƣờng sản xuất của mình. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Thực tế phát triển kinh tế thế giới đã khẳng định, DNN&V giữ một vị trí quan trọng nhằm thúc đẩy và phát triển qui mô cạnh tranh, đảm bảo ổn 10 định kinh tế.
Ngày nay, khi khoa học, công nghệ ngày càng phát triển đã tạo điều kiện cho các DNN&V nhiều cơ hội tập trung kĩ thuật, có khả năng sản xuất những sản phẩm có chất lƣợng cao. Theo đó, tính cạnh tranh của các do- anh nghiệp chuyển từ cạnh tranh về giá cả sang cạnh tranh về chất lƣợng và công nghệ. Ngày nay, khả năng hợp tác phát triển qui mô quan hệ giữa DNN&V với các tập đoàn kinh tế lớn ngày càng gia tăng, họ vừa là đối tác, vừa hỗ trợ nhau cùng phát triển. Do đó, DNN&V ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Điều đó đƣợc thể hiện ở một số điểm chính sau: Thứ nhất, DNN&V góp phần tăng trƣởng kinh tế, tăng thu ngân sách. Ở nƣớc ta, DNN&V đóng góp gần 45% tổng sản phẩm quốc nội và gần 40% ngân sách cho Nhà nƣớc, sử dụng 53% lực lƣợng lao động. Thứ hai, DNN&V góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền: Với sự phân bố rộng khắp, DNN&V đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ hình thành những tụ điểm, cụm công nghiệp, giúp chuyên môn hóa nông nghiệp, phát triển thủ công nghiệp, khơi dậy nhiều ngành nghề thủ công. Từ đó góp phần đáng kể vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nƣớc, thúc đẩy sự phát triển của các vùng còn khó khăn trên đất nƣớc, dần dần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền.
Thứ ba, DNN&V là nơi ƣơm mầm những tài năng kinh doanh tƣơng lai: kinh doanh với quy mô nhỏ, áp lực cạnh tranh gay gắt sẽ làm cho các nhà doanh nghiệp trẻ có ý chí làm quen dần với môi trƣờng làm việc khốc liệt. Bắt đầu với một doanh nghiệp quy mô hợp lý và đƣợc tiếp xúc trực tiếp với các nhà điều hành sẽ là cơ hội giúp các nhà doanh nghiệp trƣởng thành lên, mỗi lần thành công hay thất bại đều đƣa lại những bài học bổ ích cho họ để điều hành doanh nghiệp sau này. Từ đó nhiều tài năng mới sẽ đƣợc nuôi dƣỡng và thành công trong tƣơng lai.