Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng đối với DNNVV của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNNVV tại NHNN&PTNT - Chi nhánh Thị xã Từ Sơn. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNNVV tại NHNN&PTNT - Chi nhánh Thị xã Từ Sơn và một số kiến nghị. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THUƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Có thể chia chúng thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo Ngân hàng Thế giới ( World Bank), trong đó: - Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lƣợng lao động dƣới 10 ngƣời (tổng tài sản có giá trị không quá 100.000USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100. - Doanh nghiệp nhỏ có số lƣợng lao động từ 10 đến dƣới 50 ngƣời (tổng tài sản có giá trị không quá 3.000USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3. - Doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động (tổng tài sản có giá trị không quá 15.000USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15.000USD) * Riêng tại Việt Nam, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc qui định: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký dƣới 10 tỷ đồng hoặc số lƣợng lao động trung bình hàng năm dƣới 300 ngƣời” .1: Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam Công nghiệp Thƣơng mại, dịch vụ Tiêu chí DNNVV DN nhỏ DNNVV DN nhỏ Vốn sản xuất <5 <1 <2 <1 (tỷ đồng) Lao động <300 <50 <200 <30 (ngƣời) (Nguồn: Đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa) Các DNNVV thƣờng chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (chiếm tới 95%).
Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lƣợng và tạo việc làm là rất đáng kể. Các DNNVV giữ vai trò to lớn trong việc ổn định nền kinh tế. Tại phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có đƣợc sự ổn định.
Làm cho nền kinh tế năng động hơn vì DNNVV có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động hơn. Bên cạnh đó góp phần tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng. DNNVV thƣờng chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết đƣợc dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Ngoài ra còn là trụ cột quan trọng của kinh tế địa phƣơng.
Nếu nhƣ doanh nghiệp lớn thƣờng đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nƣớc, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phƣơng và là ngƣời đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lƣợng và tạo công ăn việc làm ở địa phƣơng.2 Đặc trƣng cơ bản của Doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV có những điểm khác biệt so với các loại hình khác trong nền kinh tế * Về cơ bản, DNNVV có qui mô vốn và số lƣợng lao động nhỏ, không đòi hỏi ngƣời lao động phải có trình độ quá cao, hoạt động sản xuất kinh doanh trong hầu khắp các lĩnh vực của nền kinh tế. * Các DNNVV thể hiện đƣợc mối quan hệ hợp tác lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, buôn bán, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, đôi bên cùng có lợi. * DNNVV là nơi thu hút đƣợc lao động với chi phí thấp, do không đòi hỏi 6 quá cao về trình độ, góp phần giải quyết việc làm cho những lao động thất nghiệp tạm thời sau các mùa vụ. * DNNVV đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng miền, do số lƣợng đông đảo, có cơ sở ở nhiểu nơi, tham gia vào hầu khắp các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, nhạy cảm cao với các hoạt động sản xuất kinh doanh.
* DNNVV luôn gặp khó khăn về Vốn và Công nghệ. Khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài của DNNVV chƣa đƣợc cao, gặp nhiều trở ngại, trình độ khoa học công nghệ trong DNNVV còn thấp. Với những đặc điểm trên, DNNVV có những lợi thế, hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhƣ sau: *) Những lợi thế - Năng động, hoạt động sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực và luôn tỏ ra nhạy bén, thích ứng kịp thời với những diễn biến, thay đổi của thị trƣờng và nền kinh tế. - Luôn thu hút đƣợc một lực lƣợng đông đảo lao động, giúp giải quyết vấn đề thất nghiệp tạm thời sau các mùa vụ ở địa phƣơng.
- DNNVV có thể nhanh chóng tiến hành đổi mới thiết bị công nghệ để có thể cạnh tranh đƣợc với các doanh nghiệp khác. - Hệ thống, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, năng động nên tiết kiệm đƣợc chi phí quản lý của doanh nghiệp, góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. - DNNVV hoạt động đa dạng trên hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Do đó, việc mở rộng tín dụng cho các DNNVV sẽ giúp bôi trơn hoạt động của sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
*) Những hạn chế - Quy mô hoạt động nhỏ bé: Phần lớn các DNNVV có quy mô nhỏ bé. Do quy mô nhỏ dẫn tới nguồn vốn cũng hạn hẹp, kéo theo những khó khăn về mặt sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ và năng lực quản lý hạn chế, thiếu thông tin gây nhiều yếu kém trong sản xuất, trong đó thiếu vốn là đặc điểm nổi bật. - Sức cạnh tranh thấp: là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn đầu tƣ cho 7 hoạt động sản xuất kinh doanh còn ít làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, ảnh hƣởng tới chất lƣợng sản phẩm nhƣ sản lƣợng chƣa cao, sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ còn yếu, do đó không mở rộng đƣợc thị trƣờng, hàng hoá ngày càng khó tiêu thụ. Tất yếu dẫn tới lợi nhuận thấp, cản trở việc sản xuất kinh doanh dễ có những hành vị gian lận thƣơng mại, kinh doanh trái với quy định của pháp luật.
- Việc quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV là thấp: Hầu hết các DNNVV đƣợc thành lập có nguồn vốn dựa vào tiền tích luỹ cá nhân cộng với tích luỹ của gia đình. Do vậy, những ngƣời điều hành doanh nghiệp hầu hết có thế mạnh về vốn hơn là thế mạnh về năng lực quản lý. Các DNNVV Nhà Nƣớc còn rất nhiều nhà quản lý yếu kém về trình độ điều hành, nên chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu kinh tế của thị trƣờng, không đủ sức để doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Bên cạnh đó, số ngƣời của DNNVV có trình độ đƣợc đào tạo còn ít.
Khó khăn với các DNNVV là không thu hút đƣợc nhiều cán bộ kỹ thuật giỏi và những công nhân có tay nghề cao. Từ đó dẫn tới năng suất lao động thấp, hiệu quả sử dụng vốn kém, ảnh hƣởng tới khả năng hoàn trả vốn vay và bảo tồn vốn thấp, cho nên khả năng tiếp cận với vốn ngân hàng của DNNVV bị hạn chế.3 Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa - DNNVV có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nƣớc, kể cả với các nƣớc có trình độ phát triển cao. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt nhƣ hiện nay, các nƣớc đều chú ý hỗ trợ các DNNVV nhằm huy động tối đa nguồn lực và hỗ trợ cho công nghiệp lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. - DNNVV thu hút một lƣợng lao động đáng kể, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập bảo đảm đời sống cho ngƣời lao động.
Mỗi năm nƣớc ta có thêm khoảng 1,4 triệu ngƣời trong độ tuổi lao động. Vì vậy, lao động và việc làm đang là vấn đề kinh tế, xã hội cấp bách. Hệ thống doanh nghiệp Nhà Nƣớc hiện đang trong quá trình cải cách, không tạo thêm đƣợc nhiều việc làm mới, khu vực hành chính Nhà Nƣớc đang giảm biên chế và tuyển dụng mới không nhiều. Do đó, khu 8 vực kinh tế tƣ nhân mà đại bộ phận là các DNNVV là nơi thu hút, tạo việc làm mới cho xã hội.
- DNNVV đáp ứng hầu hết các nhu cầu tiêu dùng xã hội. Do hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế nên có khả năng đáp ứng đƣợc mọi nhu cầu của xã hội điều mà các doanh nghiệp lớn không làm đƣợc. - DNNVV tạo nên hệ thống phân phối sản phẩm hiệu quả. Đặc điểm của DNNVV đem lại cho họ lợi thế trong dịch vụ bán lẻ.
- DNNVV góp phần to lớn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nƣớc, thúc đẩy sự phát triển của các ngành thƣơng mại, làm tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, thu hẹp dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong nên kinh tế quốc dân. - DNNVV là môi trƣờng đào tạo, bồi dƣỡng, rèn luyện trong thực tế đội ngũ doanh nhân mới có trình độ, thích ứng với cơ chế thị trƣờng.4 Vấn đề về vốn đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Nhu cầu vốn đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa Vốn là một bài toán nan giải mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt, giải quyết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhu cầu về vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động trong việc hội nhập kinh tế toàn cầu đang là vấn đề cấp thiết cho các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu không có vốn để đầu tƣ mua máy móc, thiết bị mới, đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao hơn thì sẽ không thể giảm chi phí sản xuất, đa dạng hoá chủng loại, mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lƣợng và tăng sức cạnh tranh trên thị trƣờng hiện nay.
Thiếu vốn sản xuất, không thực hiện đƣợc mở rộng sản xuất, tìm kiếm các thị trƣờng, nguồn vốn mới sẽ gây ảnh hƣởng đến sự phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.