Chương 1 NHỮNG VÂN ĐỂ Cơ BẢN VỂ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NÊN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Kể từ khi đất nước ta chuyển đổi nền kinh tế theo hưống đa thành phần và và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng đã và đang từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình. Theo đường lối của Đảng và Nhà nước thì mọi thành phần kinh tế đếu là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế và các D N N V V cũng không là một ngoại lệ.
Hiện nay chưa có một khái niệm chung, duy nhất về D N N V V cho tất cả các quốc gia mà điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm D N N V V giữa các nước là việc lựa chọn các tiêu thức đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hoá các tiêu thức ấy thông qua các tiêu chuẩn cụ thể ở từng nơi.Việc nghiên cứu, xác định quy mô D N N V V của một số nước trên thế giới thì tiêu thức lao động và tiêu thức vốn đầu tư thì hai tiêu thức thường được nhiều nước lựa chọn, sử dụng để xác định quy mô doanh nghiệp. Ở V iệt Nam khái niệm D N N V V được đưa ra vói những điều kiện cụ thể, đặc điểm riêng biệt về quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần và các chính sách quy định phát triển kinh tế của nước ta với nội dung: D N N W là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động thoả mãn các quy định của Chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành công văn số 691/CP-KTN ngày 20/06/1998 xác định tiêu thức D N N V V tạm thời quy định trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người. 5 Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh như: các doanh nghiệp Nhà nước đăng ký theo luật doanh nghiệp nhà nước; các công ty cổ phần; công ty TNHH và các doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt động theo luật công ty, luật doanh nghiệp tư nhân, luật doanh nghiệp và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các HTX đăng ký hoạt động theo luật HTX; các cá nhân và nhóm sản xuất-kinh doanh đăng ký theo nghị định 66-HĐBT, đồng thời các doanh nghiệp này thoả mãn hai tiêu thức về vốn và lao động theo công văn 681/CP-KTN đều được coi là D N N V V chiếm khoảng 93% tổng số doanh nghiệp hiện có.
Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế khi bước vào kỷ nguyên mới, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các D N N V V , các chỉ tiêu đánh giá D N N V V cũng được nâng lên một bậc nhằm khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất và giảm tỷ lệ thất nghiệp. N gày 23/11/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/NĐ-CP/2001 về " Trợ giúp phát triển DNNVV". Theo nghị định này thì D N N V V được hiểu : " D N N V V là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ dồng hoặc có số lao động hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cho cả hai chỉ tiêu về vốn hoặc lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu".
Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Là một doanh nghiệp nhưng với quy mô nhỏ và vừa nên bên cạnh những đặc điểm cơ bản của một doanh nghiệp thông thường, D N N V V còn một số đặc điểm sau đây: Là loại hình doanh nghiệp có thể tạo lập dễ dàng vì để thành lập chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu nhỏ, với một mặt bằng sản xuất hàng hoá nhỏ, quy mô nhà xưởng không lớn nên doanh nghiệp có thể giảm được chi phí cố định, tận dụng được lao động thay thế cho vốn với giá công lao động thấp, hơn nữa khả năng thu hối vốn của loại hình này khá nhanh, tăng tốc độ quay vòng vốn, bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế nên việc quan hệ TD với loại hình doanh nghiệp này sẽ đem lại kết quả tốt cho cả hai bên. 6 Với quy m ô thuận lợi của mình là một D N N V V , bộ máy quản lý gọn nhẹ, các mối quan hệ dễ điều chỉnh nên tính linh hoạt cao, có khả năng quan hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên đễ dàng tìm kiếm và đáp ứng các nhu cầu, thị hiếu trong thị trường chuyên môn hoá. Đồng thời, mô hình quản lý gọn nhẹ, ít trung gian đầu m ối sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, tận dụng được các cơ hội kinh doanh khi thời cơ đến.
mặt khác, khi gặp những biến cố của môi trường kinh doanh, hai loại hình doanh nghiệp này sẽ xoay chuyển bằng cách chuyển đổi hoặc thu hẹp quy m ô sản xuất của mình vì vậy tổn thất giảm đi rất nhiều. Không chỉ thuận lợi trong việc tạo lập và dễ thích nghi mà D N N V V còn có thể phát triển rộng khắp các vùng của đất nước, tham gia vào nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế, tạo ra những sản phẩm phù hợp với những nhu cầu ở những vùng mang tính chất nội bộ, cần số lượng sản phẩm ít, hoặc tạo ra một số mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu để phù hợp với sức mua của dân. V iệc mở rộng TD với loại hình doanh nghiệp này sẽ giúp ngân hàng tham gia vào nhiều ngành nghề trong nhiều lĩnh vực nhằm phân tán rủi ro cho ngân hàng. Khả năng tài chính của D N N V V rất hạn chế, trước hết là nguồn vốn tự có thấp dẫn đến khả năng vay vốn của ngân hàng cũng như huy động vốn trên thị trường bị hạn chế, những khoản tiền dự định vay của D N N V V thường gặp khó khăn vì thiếu tài sản thế chấp.
Do vậy các D N N V V thường rơi vào tình trạng thiếu vốn cộng với khả năng tích luỹ thấp nên nguồn vốn bổ sung cho sản xuất kinh doanh bị giới hạn, dẫn tới khả năng thu lợi nhuận không tối đa ngay cả khi có cơ hội để kinh doanh. Cũng do quy mô loại hình doanh nghiệp, năng lực tài chính hạn hẹp, nên doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong mua sắm trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hầu hết là công nghệ, máy móc cũ kỹ, lạc hậu vì vậy việc tiếp cận những thông tin, áp dụng công nghệ mới còn hạn chế nên nhiều doanh nghiệp phải tìm đến con đường liên doanh, liên kết nhằm đổi mới công nghệ, trang thiết bị đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Bên cạnh khó khăn về máy m óc, trang thiết bị doanh nghiệp còn bị bất lợi trong việc tiêu thụ sản phẩm và khả năng thu hút nhà quản lý và công nhân tốt. D o nguồn tài chính hạn hẹp nên doanh nghiệp khó có thể thực hiện chiến 7 lược Marketing giới thiệu sản phẩm của mình.
Một loạt các chính sách trong chiến lược Marketing như: chiến lược sản phẩm, chiến lược về giá, chiến lược phân phối và cả chiến lược khuyếch trương đều cần đến một lượng tài chính đầy đủ. Chính vì vậy, khả năng tiếp cận thị trường thế giới của D N N V V bị hạn chế. Chính những hạn ch ế về vốn, về trình độ công nghệ, về phương thức quản lý mà khả năng cạnh tranh, tiếp cận thị trường của doanh nghiệp thấp. Đây chính là những yếu tố tiềm ẩn gây rủi ro cho Ngân hàng khi cho vay.
Vì vậy quan hệ TD được thiết lập, doanh nghiệp cần khắc phục những hạn ch ế đó và Ngân hàng cần thẩm định khách hàng trước khi phát tiền vay. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường. Cùng với tốc độ phát triển nhanh, hiệu quả của nền kinh tế thế giới chúng ta càng thấy rõ hơn vị trí và vai trò của loại hình D N N V V. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay, D N N V V đã và đang tham gia hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế với nhiều hình thức đa dạng, phong phú nên ngày càng nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của các Bộ, Ban ngành liên quan nhằm huy động tối đa các nguồn lực trợ giúp cho công nghiệp lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
Tại các nước công nghiệp phát triển cao như Đức, Nhật Bản, Mỹ mặc dầu có nhiều công ty lớn nhưng DNN V V vẫn có vai trò rất quan trọng, ở Nhật Bản người ta coi DNNVVlà một nguồn lực đảm bảo cho sức sống của nền kinh tế, là bộ phận họp thành quan trọng của cơ cấu quy mô nhiều tầng của các doanh nghiệp và số DNNVV chiếm tới 99% trong tổng số các doanh nghiệp trong nước. Đ ối với các nước phát triển và chậm phát triển thì ngoài vai trò là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế, D N N V V còn có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xoá đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội. Đ ối với các nước ở Châu Á như Philippines, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia, D N N V V còn có vai trò tích cực trong việc chống đỡ các tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, góp phần đáng kể vào sự ổn định kinh tế, xã hội và lừng bước khôi phục nền kinh tế. Ở Việt Nam, do đặc điểm, tình hình và bối cảnh phát triển kinh tế của nước ta 8 quy định nên sự có mặt các D N N V V là rất cần thiết để phát triển kinh tế.
Nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đã làm cho đất nước chúng ta lạc hậu, kém phát triển trong một thời gian dài.