phần mở đầu, ết luận, danh mục tài liệu tham hảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về chất lƣợng tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp tại NHTM Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh – Chi nhánh Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh – Chi nhánh Hà Nội 3 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát v tín dụng doanh nghiệp 1.1 K i niệm N ân àn t ƣơn mại (NHTM) và các hoạt động c a NHTM Ngân hàng đƣợc hình thành và phát triển qua một quá trình lâu dài với nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Trong thời kỳ đầu, khoảng từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ XVII, tất cả các ngân hàng đều là ngân hàng thƣơng mại và đều có khả năng phát hành giấy bạc Nhƣng do các ngân hàng đã lạm dụng khả năng phát hành giấy bạc, không có sự đồng nhất nên dẫn đến sự lộn xộn trong lƣu thông tiền tệ Do đó Nhà nƣớc đã buộc phải can thiệp nhằm thiết lập trật tự và thống nhất việc phát hành tiền, dẫn tới sự phân hóa trong hệ thống ngân hàng, tạo thành 2 nhóm: nhóm các ngân hàng đƣợc phát hành tiền (gọi là ngân hàng phát hành) và nhóm hông đƣợc phép phát hành tiền (gọi là NHTM).
Ngày nay, hầu hết hệ thống ngân hàng của các nƣớc trên thế giới là ngân hàng hai cấp trong đó có Việt Nam. Hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (NHNN) và các ngân hàng thƣơng mại. NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực tiền tệ, là ngân hàng phát hành, ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ. NHTM thực hiện chức năng inh doanh tiền tệ, trung gian tín dụng, trung gian thanh toán của nền kinh tế.
Theo Luật t chức tín dụng 2010 của Việt Nam định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của t chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận. 4 b) Cấp tín dụng: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để t chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phƣơng tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thƣ tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Ngoài ra ngân hàng còn có nhiều dịch vụ hác: tƣ vấn tài chính, quản lý tiền mặt, bảo quản vật có giá, dịch vụ ngân quĩ, cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tƣ chứng khoán, dịch vụ ủy thác và tƣ vấn, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ thuê mua thiết bị, đồng thời là trung gian thực hiện nghiệp vụ thanh toán, ngoại hối… 1.2 Hoạt động tín dụng doanh nghiệp c a NHTM 1.1 Khái niệm tín dụng doanh nghiệp Theo quan niệm c điển, tín dụng đƣợc hiểu nhƣ là một quan hệ vay mƣợn lẫn nhau giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay với điều kiện phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định, hay hiểu theo cách khác: tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay một t chức nhƣờng quyền sử dụng một khối lƣợng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay một t chức khác với những ràng buộc nhất định về thời gian hoàn trả gốc và lãi, lãi suất, cách thức vay mƣợn và thu hồi… Tín dụng ra đời ban đầu chỉ là giữa hai bên mua bán hàng hóa trực tiếp với nhau: một bên bán hàng hóa cho bên kia, nếu bên ia chƣa thanh toán ngay thì sau này khi thanh toán sẽ phải trả một số tiền lớn hơn số tiền lẽ ra phải trả lúc mua hàng ban đầu, phần chênh lệch này chính là lãi của hàng hóa đƣợc bán chịu.
Lúc này, quan hệ mua bán chịu chỉ diễn ra giữa các đơn vị liên quan trực tiếp với nhau, vì vậy nó hông đáp ứng đƣợc nhu cầu vay mƣợn ngày càng tăng của nền sản xuất hàng hóa. Mặt hác, do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất, xã hội thƣờng xuyên xuất hiện hiện tƣợng thừa vốn tạm thời ở các t chức cá nhân này 5 nhƣng t chức cá nhân khác lại thiếu vốn Để khắc phục tình trạng các cá nhân, t chức nơi thừa vốn, nơi thiếu vốn không gặp đƣợc nhau, ngân hàng ra đời để làm trung gian giải quyết nhu cầu trên và theo thời gian cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng ngày càng chứng minh đƣợc vai trò quan trọng của mình bởi: - Nguồn vốn cho vay rất lớn vì đó là toàn bộ nguồn vốn trong nền kinh tế mà các ngân hàng huy động đƣợc trong nƣớc. - Các hình thức tín dụng linh hoạt vì đối tƣợng để kinh doanh là tiền. - Mạng lƣới hoạt động rộng lớn và quy trình chuyên nghiệp giúp tăng hiệu quả lƣu chuyển vốn và giảm thiểu rủi ro của các bên trong quá trình giao dịch Với vai trò là trung gian tài chính trong nền kinh tế, ngân hàng là cầu nối giữa ngƣời có tiền cho vay và bên đi vay vốn.
Bằng sự năng động, linh hoạt và đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng, Ngân hàng có khả năng thu hút thu hút nguồn vốn trong nƣớc, dự trữ, tiết kiệm trong xã hội để chuyển giao đúng nơi, đúng chỗ, đúng lúc, phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Nhờ có tín dụng ngân hàng mà những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi đã trở thành đồng tiền hoạt động, biến những đồng tiền nằm phân tán thành vốn tập trung phục vụ cho nhu cầu sản xuất inh doanh và qua đó giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, góp phần phát triển nền kinh tế. Do vậy, có thể định nghĩa ngắn gọn là: “Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa những ngƣời đi vay và ngƣời cho vay, giữa họ có mối quan hệ thông qua vận động của giá trị vốn tín dụng, đƣợc biểu hiện dƣới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa ” T n dụn n ân àn là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng thƣơng mại, các t chức tín dụng với các đối tác inh tế – tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, t chức xã hội, cơ quan nhà nƣớc Các ngân hàng thƣơng mại hiện nay đang phát triển tín dụng theo hai mảng chính là: tín dụng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp Trong đó, tín dụng doanh nghiệp là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng chính trong t ng dƣ nợ tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại và chiếm vị trí then chốt trong hoạt động inh doanh của các ngân 6 hàng thƣơng mại Khi ngân hàng cho hách hàng (có thể là hợp tác xã, hộ inh doanh, doanh nghiệp ) là doanh nghiệp vay thì đƣợc gọi là tín dụng doanh nghiệp Có thể định nghĩa là: Khái niệm: Tín dụng doanh nghiệp là nghiệp vụ của ngân hàng tài trợ vốn cho khách hàng là pháp nhân, doanh nghiệp Đây là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao hay cam ết giao cho doanh nghiệp một hoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi Tín dụng doanh nghiệp có thể bao gồm nhiều loại nhƣ: cho vay, bảo lãnh, mở thƣ tín dụng, Chiết khấu, bao thanh toán.2 Đặc điểm của tín dụng doanh nghiệp - Số lƣợng khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng chiếm tỷ trọng thấp, nhƣng dƣ nợ cho vay doanh nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong t ng dƣ nợ cho vay của các ngân hàng. - Thông tin hách hàng có độ tin cậy hơn hách hàng cá nhân, hộ gia đình - Đối tƣợng cho vay doanh nghiệp của các ngân hàng rất đa đạng vì doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
- Nhu cầu vay của doanh nghiệp thƣờng rất lớn trong khi khả năng đáp ứng về tài sản đảm bảo nợ vay của doanh nghiệp có giới hạn. - Chi phí t chức cho vay doanh nghiệp thƣờng cao hơn cho vay cá nhân, hộ gia đình 1.3 Các hình th c tín dụng doanh nghiệp 1.1 Phân loại theo thời hạn cho vay: - Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dƣới 1 năm Loại tín dụng này thƣờng đƣợc cấp cho các doanh nghiệp để b sung vốn lƣu động trong kì sản xuất phục vụ cho nhu cầu mua nguyên vật liệu, thanh toán chi phí phục vụ sản xuất: lƣơng nhân viên, điện nƣớc… Với loại tín dụng này, ít có rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng có thể dự tính đƣợc. 7 - Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm Loại tín dụng này thƣờng đƣợc dùng để đầu tƣ mua sắm máy móc thiết bị, b sung vốn kinh doanh trả góp và mở rộng xây dựng công trình nhỏ phục vụ sản xuất kinh doanh. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro khá cao vì ngân hàng khó có khả năng dự đoán đƣợc hết những biến động có thể xảy ra.
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm Đây là hình thức cấp tín dụng chủ yếu dành cho hoạt động đầu tƣ xây dựng nhà xƣởng, tài sản cố định phục vụ sản xuất có qui mô lớn …với thời hạn thu hồi vốn lâu. Chính vì thế rủi ro rất lớn vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra hông lƣờng trƣớc đƣợc.