Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu: Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chương 3: Xây dựng mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Cơ sở lý thuyết về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng.1 Khái niệm và các hình thức cấp tín dụng Ngân hàng: Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Theo Nguyễn Minh Kiều (2006) thì Tín dụng doanh nghiệp là hình thức cấp tín dụng dành cho các khách hàng tổ chức có tư cách pháp nhân bao gồm các hình thức cấp tín dụng như sau: - Cho vay: bao gồm các cách thức cho vay: + Cho vay theo hạn mức tín dụng ngắn hạn để bổ sung thiếu hụt vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn. + Cho vay theo món ngắn hạn. + Cho vay trung dài hạn để mua sắm Máy móc thiết bị, mua xe, đầu tư dự án (xây dựng nhà máy, nhà xưởng…) - Phát hành bảo lãnh bao gồm các loại bảo lãnh: Bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,… - Phát hành L/C và các cam kết thanh toán khác.2 Vai trò của tín dụng Ngân hàng.
Đinh Như Quỳnh (2013) đã đề cập đến sự ra đời của tín dụng Ngân hàng và nêu rõ những vai trò của tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường hiện nay tại Việt Nam, bao gồm các vai trò quan trọng sau: - Đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế: Ngân hàng được xem là nơi tập trung dòng vốn nhàn rỗi nhiều nhất thông qua các khoản tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn của các khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, các Quỹ đầu tư; thông qua hoạt động cấp tín dụng , các Ngân hàng sẽ luân chuyển các dòng tiền nhàn rỗi này đến các khách hàng cần vốn cho các mục đích khác nhau trong nền kinh tế, riêng đối với khách hàng doanh nghiệp thì mục đích chính để bù đắp thiếu hụt vốn 7 ngắn hạn để hoạt động sản xuất kinh doanh và bổ sung vốn đầu tư cho các dự án trung dài hạn. Như vậy tín dụng Ngân hàng đã góp phần tạo điều kiện về vốn cho đại đa số các khách hàng trong nền kinh tế, trong đó chiếm tỷ trọng cao là đối tượng khách hàng tổ chức. - Thúc đẩy sử dụng vốn hiệu quả: với chức năng luân chuyển vốn nhanh chóng, tín dụng Ngân hàng đã góp phần điều chỉnh tồn đọng lượng tiền mặt trong lưu thông và tạo ra hiệu quả cho các đồng vốn nhàn rỗi trên cơ sở lợi ích cho cả người gửi tiền và người cần tiền. - Tạo việc làm, ổn định cuộc sống cho người dân: nhờ có tín dụng Ngân hàng, người dân mới có thể tiếp cận với nguồn vốn để mua sắm xe, đồ dùng gia đình, mua nhà, xây nhà… góp phần cải thiện đời sống được đầy đủ và sung túc hơn.
- Mở rộng và hình thành thói quen thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó giảm thiểu những rủi ro sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế. - Tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế: Tín dụng ngân hàng trở thành một kênh cung ứng vốn để đáp ứng các nhu cầu thanh toán với các đối tác nước ngoài thông qua các hình thức thanh toán được chuẩn hóa và chấp nhận trên toàn thế giới: thanh toán L/C, nhờ thu, Bao thanh toán, bảo lãnh quốc tế… Thông qua tín dụng Ngân hàng, các hình thức thanh toán quốc tế này không những mang lại hiệu quả thanh toán nhanh chóng, kịp thời mà còn tạo được sự tin tưởng với các đối tác và Ngân hàng nước ngoài.3 Khái niệm về khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp: Trong quan hệ vay vốn với Ngân hàng thì Đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng được hiểu là việc Ngân hàng đánh giá khách hàng có khả năng thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi khi đến hạn hay không. Cụ thể, khi thiết lập quan hệ tín dụng thì giữa khách hàng và Ngân hàng sẽ ký kết các Thỏa thuận vay vốn hoặc Hợp đồng tín dụng trong đó nêu rõ nghĩa vụ của khách hàng phải hoàn trả đầy đủ nợ gốc, lãi và các khoản phí phát sinh (nếu có) cho Ngân hàng đối với các khoản vay khi đến hạn, nên khả năng trả nợ của khách hàng chính là khả năng thực hiện các cam kết này. Để xác định khả năng trả nợ của khách hàng, Ngân hàng thường căn cứ vào các thông tin sau: Tư cách, năng lực pháp lý; năng lực tài chính thể hiện qua các báo cáo tài 8 chính (bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ), thông tin lịch sử vay vốn thể hiện qua thông tin tín dụng tra cứu tại CIC, năng lực quản lý, kinh nghiệm của Ban lãnh đạo Doanh nghiệp, hiệu quả từ phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư của khách hàng, tỷ lệ TSBĐ… Khi khách hàng không có khả năng trả nợ theo đúng cam kết trong Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng sẽ dẫn đến quá hạn các khoản nợ; trong bài nghiên cứu của Đinh Mai Long (2015) đã đề cập đến định nghĩa về nợ xấu của nhiều tổ chức trên thế giới, cụ thể như: Quỹ Tiền Tệ quốc tế (IMF) và Liên Hợp Quốc (nhóm chuyên gia tư vấn –AEG) cho rằng nợ xấu là khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ; còn định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCSC) không đưa ra thời gian quá hạn chi trả khi khoản nợ bị coi là “xấu” mà cho rằng đó là “khoản nợ đã quá hạn và Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi Ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”; riêng Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) căn cứ trên tiêu chí chủ yếu của BCSC, cho rằng “một khoản nợ được coi là xấu khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày trở lên, phù hợp với định nghĩa của Basel II về tổn thất, hoặc khi có lý do chắc chắn đề nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Tại Việt Nam, theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Ngân hàng nhà nước thì khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và được phân loại theo 5 nhóm nợ, trong đó Nợ xấu được phân lợi từ nhóm 3 đến nhóm 5, cụ thể như sau: - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn; 9 - Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Khoản nợ quá hạn đến 90 ngày. Khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn. - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày. Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn.
Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai còn trong hạn - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên. Từ các quan điểm trên thế giới và Quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì mối quan hệ giữa phân loại nợ và đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng được thể hiện như sau: Bảng 2.1: Khả năng trả nợ và khả năng thanh toán theo nhóm nợ Khả năng thanh toán nợ cho Phân loại khả năng trả nợ Phân loại nhóm nợ Ngân hàng - Không có nợ quá hạn Có khả năng trả nợ Nhóm 1 - 2 - Có nợ quá hạn ≤ 90 ngày - Có nợ quá hạn trên 90 ngày.
Không có khả năng trả nợ Nhóm 3 -5 - Có nợ cơ cấu Nguồn: tác giả tổng hợp 10 2.2 Các mô hình thường được sử dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp: 2.