CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 1.1 Khái niệm Trước khi xem xét định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp vừa và nhỏ, ta xem xét định nghĩa về doanh nghiệp là gì? Một định nghĩa về doanh nghiệp bao gồm các yếu tố sau: Phối hợp những lợi thế đang có theo một cách mới hiệu quả hơn. Tạo ra nhiều giá trị hơn từ nguyên liệu thô và nhân lực trước đây bị coi là vô ích. Cải thiện những gì đã xuất hiện với việc sử dụng các kĩ thuật mới. Di chuyển tài nguyên kinh tế ra khỏi khu vực năng xuất thấp tới khu vực sản xuất hiệu quả hơn và lớn hơn.
Có phương pháp tìm kiếm và hưởng ứng lại những nhu cầu chưa được thỏa mãn và các đòi hỏi của khách hàng. Đó là những yều cầu đúng nghĩa về một doanh nghiệp. Trên thực tế tùy theo tình hình mỗi nước và cũng tùy vào mục đích của từng nơi mà người ta có thể bỏ đi một hai yếu tố để đảm bảo những định hướng đề ra ví dụ như các công trình phúc lợi thì có thể bỏ những yếu tố mang tính lợi nhuận mà mục đích chỉ đem lại phúc lợi cho những người hưởng thụ nó. Trên thực tế, người ta phân chia doanh nghiệp thành những doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ngoài ra, người ta còn đưa ra cả loại doanh nghiệp siêu nhỏ, bởi vì những doanh nghiệp này có qui mô quá bé cả về số lượng lao động và số vốn đăng kí. Ngược lại là các tập đoàn kinh tế với số vốn lớn, số lượng lao động nhiều kinh doanh đa dạng, thường là độc lập về cả mặt tài chính. Việc xác định như thế nào là một doanh nghiệp vừa và nhỏ của một đất nước được cân nhắc đối với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế,tình hình việc làm nói chung và tính chất nền kinh tế hiện hàng lúc đó. Việc xác định qui mô của doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ 6 Chuyên đề thực tập phát triển của một nước, tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định.
Nhìn chung trên thế giới, việc xác định thế nào là một doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu căn cứ vào hai tiêu chí phổ biến: Tiêu chí định tính: Được xây dựng dựa trên những đặc trưng cơ bản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý… Tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của việc phân định nhưng trên thực tế thường khó xác định. Do đó, chỉ được dùng để tham khảo, kiểm chứng mà ít được dùng để xác định qui mô doanh nghiệp. Tiêu chí định lượng: Xây dựng dựa trên những tiêu chí như số lượng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp. Số lượng lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao động thường xuyên thực tế của doanh nghiệp.
Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản còn lại (hay vốn) còn lại của doanh nghiệp. Các tiêu chí định lượng có vai trò rất quan trọng trong việc xác định qui mô doanh nghiệp. Tuy nhiên ở mỗi nước trên thế giới có các tiêu chí khác nhau để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào các yếu tố sau: Trình độ phát triển của mỗi nước và tính chất của mỗi ngành nghề: Trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng. Ngoài ra phụ thuộc vào tính chất yêu cầu của từng ngành nghề mà có ngành sử dụng nhiều lao động.
Ở các nước phát triển thì chỉ số về lao động, vốn để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ càng cao. Ví dụ như ở Nhật Bản, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có 300 lao động và nguồn vốn là 1triệu USD trong đó các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo có từ 1 đến 300 lao động và số vốn kinh doanh không vượt quá 300 triệu Yên, còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thương mại - dịch vụ có số lao động không quá 100 người với số vốn kinh doanh không quá 100 triệu Yên. Còn ở Đài Loan, các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo có từ 1 đến 200 lao động được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi các doanh nghiệp trong ngành thương mại - dịch vụ có từ 1 đến 50 lao động. Ngược lại ở Mỹ một nước phát triển có một tiêu chí xác định chung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là số lao động không quá 500 người.
7 Chuyên đề thực tập Vùng lãnh thổ: Mỗi vùng miền có trình độ phát triển khác nhau về cả quy mô và số lượng doanh nghiệp. Chính vì vậy, để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh giữa các vùng với nhau cũng cần tính đến hệ số vùng trong tiêu chuẩn xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vùng có nền kinh tế phát triển cao thì số lượng và quy mô doanh nghiệp phải cao hơn so với vùng có nền kinh tế phát triển thấp. Tính chất lịch sử: Trong quá trình phát triển kinh tế, quy mô của các doanh nghiệp không ngừng tăng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Do vậy mà ở mỗi giai đoạn kinh tế lại có các quan niệm khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi nền kinh tế còn chưa phát triển thì qui mô các doanh nghiệp còn nhỏ do vậy mà lúc này quan niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là với số lượng lao động ít, số vốn đăng kí nhở. Ngược lại khi nền kinh tế đã phát triển thì cũng những doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ có số lao động và số vốn đăng kí sẽ lớn hơn nhiều so với giai đoạn nền kinh tế ở giai đoạn ban đầu còn chưa phát triển. Như vậy tính chất lịch sử có ảnh hưởng đến việc xác định qui mô của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng.
Tóm lại, từ các yếu tố trên ta có thể hiểu: “doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng kí và số lao động ở một mức nhất định tùy theo từng thời kì, từng điều kiện của từng nước, đặc điểm từng vùng lãnh thổ, tính chất từng ngành nghề mà đặt ra yêu cầu khác nhau về chúng”. Như vậy, việc xác định rõ thế nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất linh hoạt và tùy thuộc vào từng quốc gia từng khu vực kinh tế. Để xác định được đâu là một doanh nghiệp vừa và nhỏ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong mỗi điều kiện cụ thể ta đưa ra các mức giới hạn về qui mô và số lượng lao động khác nhau để đánh giá đâu là một doanh nghiệp vừa và nhỏ.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Thông qua khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ ta đã có được cái nhìn cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bây giờ ta đi xem xét các đặc điểm về doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể hiểu sâu hơn về chúng.
Một doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn có những đặc điểm cơ bản sau: doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguồn lao động dồi dào; doanh nghiệp vừa và nhỏ có tiềm lực tài chính hạn chế; doanh nghiệp vừa và nhỏ năng động và linh 8 Chuyên đề thực tập hoạt trong sản xuất kinh doanh; doanh nghiệp vừa và nhỏ có trình độ khoa học công nghệ và quản lý thấp. Sau đây ta xem xét từng đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng không cao Doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút nhiều lao động không đòi hỏi tay nghề quá cao do đó có lợi thế trong việc khai thác nguồn lực sẵn có của địa phương đặc biệt là ngành sử dụng nhiều lao động, doanh nghiệp vừa và nhỏ có những tác động tích cực trong việc tạo ra việc làm cũng như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư tại địa phương hoặc duy trì và bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống. Bên cạnh đó, việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có lợi ích như giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, qua đó cũng góp phần làm giảm tệ nạn xã hội và giúp Chính phủ giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội khác. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ do có nhiều nguồn vốn ít nên đầu tư vào tài sản cố định cũng ít, họ thường tận dụng lao động thay thế cho vốn đặc biệt là ở nước kém phát triển, các nước này có nguồn lao động dồi dào với giá công lao động thấp, để tiến hành sản xuất kinh doanh phục vụ dân sinh đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao.
Quan hệ lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có tính chất thân thiện, gần gũi hơn so với các doanh nghiệp lớn. Chính vì vậy mà người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn trong công việc. Đây là một lợi thế của loại hình doanh nghiệp này, bởi khi gần gũi với người lao động thì họ sẽ biết được các nhu cầu của người lao động, từ đó có thể đáp ứng các nhu cầu đó, lúc này người lao động được đáp ứng nguyện vọng sẽ lao động hăng say hơn, tập trung công việc hơn, từ đó giúp tăng năng suất lao động, và đó là điều mọi doanh nghiệp đều muốn. Bên cạnh những điểm mạnh đó khó khăn hiện nay mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp phải như do quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ tính ổn định thấp, sản phẩm tiêu thụ không nhiều nên không thể trả lương cao cho người lao động được do đó khó thu hút được đội ngũ lao động và người quản lý giỏi, có khả năng đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Trình độ học vấn thấp quy mô doanh nghiệp nhỏ lại thiếu vốn nên hầu như các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu các nguồn 9 Chuyên đề thực tập lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, hoặc các dự án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng.