CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG LÀ DOANH NGHIỆP LỚN 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm của Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Do đó, để phân biệt NHTM với các tổ chức tài chính khác, rất nhiều khái niệm về NHTM đã được đưa ra, trong đó: Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” Ngoài ra, Nghị định của chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 cũng nêu ra: “NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước. Hoạt động NH là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.” “NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Luật các TCTD số 47/2010/QH12, ngày 16/6/2010) Mặc dù có nhiều định nghĩa về NHTM được đưa ra nhưng tựu trung lại có thể nói rằng NHTM là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật SVTH: NGUYỄN HOÀNG LAN VI 5 GVHD: PHẠM THANH BÌNH để thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Như vậy NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.
Các hoạt động cơ bản của NHTM 1. Hoạt động huy động vốn Ngân hàng cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế, đều cần có vốn để hoạt động và phát triển. Nguồn vốn của Ngân hàng bao gồm vốn tự có, vốn đi vay, vốn tiền gửi và vốn ủy thác đầu tư. Những nguồn vốn này được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá với cam kết sẽ hoàn trả khách hàng đúng hẹn kèm theo một khoản tiền gọi là tiền lãi.
Hoạt động tín dụng Qúa trình hoạt động kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng đã làm nảy sinh một hình thức tín dụng mới đó là tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn tạm thời giữa ngân hàng (người cho vay) và các tổ chức cá nhân (người đi vay) theo nguyên tắc hoàn trả dựa trên sự tín nhiệm thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của người thứ ba khác nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Hoạt động mua bán ngoại tệ Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua bán) ngoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện vì những giao dịch này có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
SVTH: NGUYỄN HOÀNG LAN VI 6 GVHD: PHẠM THANH BÌNH 1. Hoạt động khác Trong quá trình hoạt động, để giảm rủi ro và gia tăng lợi nhuận, các Ngân hàng thương mại phải thực hiện đa dạng hoá sản phẩm của mình như: dịch vụ tư vấn, đầu tư tài chính, liên doanh, hùn vốn, góp vốn, kinh doanh vàng bạc đá quý… 1. Hoạt động cho vay khách hàng là Doanh nghiệp lớn trong Ngân hàng thương mại 1. Tổng quan về Doanh nghiệp lớn 1.
Khái niệm Doanh nghiệp lớn Doanh nghiệp lớn là một bộ phận được hình thành và phát triển trong nền kinh tế chung. Vấn đề về định nghĩa doanh nghiệp lớn là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong nhiều năm qua. Định nghĩa về doanh nghiệp lớn rõ ràng phải dựa trước tiên vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu., các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau.
Ở Châu Âu doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có trên 250 lao động và có tổng tài sản lớn hơn 50 triệu Euro Tuy nhiên tại Việt Nam chưa có một định nghĩa chính thức nào về doanh nghiệp lớn. Tại ACB, doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có doanh thu từ 400 tỷ đồng trở lên. Vai trò của Doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế Mục tiêu của Việt Nam là trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi có sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp lớn. Doanh nghiệp lớn với lợi thế về quy mô, thương hiệu, có thể huy động vốn từ nhiều nguồn phong phú, dễ dàng tiếp cận được với trình độ khoa học công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh.
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tính đến ngày 31-12-2011, Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, với số vốn SVTH: NGUYỄN HOÀNG LAN VI 7 GVHD: PHẠM THANH BÌNH khoảng 6 triệu tỷ đồng. Trong tổng số doanh nghiệp đó, có gần 97% quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP cả nước. Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn chỉ chiếm hơn 3% số doanh nghiệp nhưng thu hút tới 49% tổng số lao động và chỉ riêng 415 doanh nghiệp lớn đóng góp hơn 1/3 tổng thu ngân sách nhà nước và hơn 1/3 GDP.
Cần phải thừa nhận rằng các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam đã và đang giữ vai trò chiến lược trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tóm lại, có thể thấy vai trò của doanh nghiệp lớn trên các khía cạnh sau: Các doanh nghiệp lớn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, góp phần tăng tỷ trọng các ngành sản xuất vật chất, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài. Doanh nghiệp lớn còn là nhân tố quan trọng trong quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Đầu tư ra nước ngoài và xuất nhập khẩu hàng hóa là hai lĩnh vực chính trong hợp tác kinh tế quốc tế.
Doanh nghiệp lớn chính là những đầu tàu trong quá trình này, tạo nên tên tuổi những thương hiệu Việt trên thị trường thế giới đồng thời nâng cao tính cạnh tranh và mở rộng hoạt động kinh doanh cho chính các doanh nghiệp Việt. Bên cạnh việc sử dụng lao động, tạo công ăn việc làm ổn định và tăng thu nhập cho người lao động, các doanh nghiệp lớn cũng đã và đang tạo ra hình ảnh đẹp trong lòng công chúng bằng việc tham gia tích cực các hoạt động xã hội, ủng hộ các chính sách phát triển của chính phủ. SVTH: NGUYỄN HOÀNG LAN VI 8 GVHD: PHẠM THANH BÌNH 1. Hoạt động cho vay trong Ngân hàng thương mại đối với khách hàng là Doanh nghiệp lớn 1.
Khái niệm về hoạt động cho vay Cho vay là một trong những hình thức của nghiệp vụ tín dụng, là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn cho mỗi ngân hàng. Cho vay có thể hiểu đơn gian là ngân hàng cấp một khoản tiền nhất định cho doanh nghiệp sử dụng trong một thời gian xác định với cam kết sẽ hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn. Thời hạn này gọi là thời hạn cho vay. Vai trò của hoạt động cho vay trong Ngân hàng thương mại: Thứ nhất, cho vay là hoạt động cơ bản kết nối những nguồn vốn nhàn rỗi với những cá nhân, tổ chức thực sự có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế.
Thứ hai, cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính, lợi nhuận cao cho ngân hàng, dùng chi trả các khoản lãi tiền gửi huy động và các khoản chi phí quản lý, trang thiết bị, tiền lương và các khoản chi phí khác để duy trì hoạt động của ngân hàng. Thứ ba, bằng việc cho vay ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền tệ lớn trong nền kinh tế. Thứ tư, bằng việc cho vay với lãi suất ưu đãi cho một dự án phát triển mang tính chất chiến lược cũng là hoạt động tài trợ nằm trong chính sách của chính phủ để phát triển đất nước. Đặc trưng hoạt động cho vay khách hàng là Doanh nghiệp lớn Thứ nhất, quy mô của các khoản cho vay khách hàng doanh nghiệp tương đối lớn hơn so với các đối tượng khác.
Bởi lẽ nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp lớn thường phục vụ cho các dự án lớn, đòi hỏi lượng đầu tư ban đầu cao nên dư nợ cho vay đối với nhóm khách hàng này luôn cao hơn. SVTH: NGUYỄN HOÀNG LAN VI 9 GVHD: PHẠM THANH BÌNH Thứ hai, yêu cầu tài sản đảm bảo là một trong các điều kiện cần thiết để bảo đảm khoản vay sẽ được hoàn trả. Tuy nhiên đối với doanh nghiệp lớn, phần lớn các khoản cho vay thường là tín chấp. Với số vốn điều lệ cao, doanh thu lớn… các chỉ tiêu về tài chính tốt của doanh nghiệp lớn thể hiện độ an toàn cao hơn đối với các khoản cho vay và cũng cho thấy khả năng thu hồi nợ tốt hơn đối với các nhóm khách hàng khác.
Thứ ba, từ hai đặc điểm trên là quy mô khoản vay lớn và độ an toàn tương đối cao hơn các nhóm khách hàng khác, doanh nghiệp lớn thường nằm trong nhóm đối tượng khách hàng chiến lược của các ngân hàng. Đối với khách hàng chiến lược ngân hàng luôn có những ưu đãi riêng, đặc biệt là về lãi suất.