phần mở đầu, phần kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của Ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.
Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm về DNNVV Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014, Doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Như vậy, trong nền kinh tế hiện nay sẽ có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển, hoạt động và cạnh tranh với nhau. Để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, tiêu chí quy mô thường được lựa chọn để phân loại doanh nghiệp.
Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được chia thành 2 nhóm: doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Yếu tố quy mô được sử dụng để phân loại các doanh nghiệp dựa vào các yếu tố: quy mô vốn, quy mô lao động, doanh thu,… Tùy từng nước có thể sử dụng một, hai hoặc cả ba tiêu chí này. Sự khác nhau về tiêu chí xác định là hoàn toàn khách quan, phụ thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển của mỗi nước cũng như các chính sách, biện pháp hỗ trợ và định hướng phát triển của riêng mình. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa DNNVV theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài.
Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển DNNVV Việt Nam định nghĩa DNNVV như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy 7 mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh Quy mô nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Tổng nguồn Tổng nguồn Khu vực Số lao động Số lao động Số lao động vốn vốn I. Nông, lâm từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến người đến xuống trở xuống thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và xây người đến đồng đến người đến xuống trở xuống dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 10 người trở 10 tỷ đồng mại và dịch người đến đồng đến 50 người đến xuống trở xuống vụ 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009) Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo quy định của pháp luật.
- Về mặt quy mô: được phân thành 3 cấp là siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn - Về vốn đăng ký: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp. - Về số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp. Đặc điểm của DNNVV DNNVV là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặc điếm của một doanh nghiệp. Ngoài ra DNNVV còn có đặc điểm riêng sau: Thứ nhất, DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ.
8 Các DNNVV là những doanh nghiệp cần vốn đầu tư ban đầu thấp, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh, hiệu quả kinh tế cao. Vì loại hình DNNVV có quy mô vừa phải nên yêu cầu về vốn đầu tư sản xuất không quá lớn hơn nữa chu k sản xuất kinh doanh thường ngắn, vòng quay của mồi đồng vốn nhanh. Chính vì thế mà quy mô cấp tín dụng cho loại hình doanh nghiệp này cũng không lớn. Các DNNVV thường là doanh nghiệp có năng lực tài chính thấp, thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng chỉ bằng số vốn tự có của một hoặc một số cá nhân.
Với lượng vốn ít như vậy doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Do việc nguồn vốn có hạn nên các DNNVV thường có nhu cầu vay vốn để có thêm nguồn lực cho hoạt động kinh doanh và tăng khả năng tiếp cận các phương án, dự án cần có quy mô nguồn vốn lớn hơn so với vốn tự có của chính bản thân doanh nghiệp. Thứ hai, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nhưng năng lực quản trị chưa cao. Về cơ cấu tổ chức thì DNNVV là doanh nghiệp có quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức đơn giản gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nên dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh.
Cơ cấu gọn nhẹ là điều kiện thuận lợi đế chủ doanh nghiệp quản lý, giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời làm giảm thiếu sai lệch thông tin do giảm bớt cấp trung gian. Vì có tính linh hoạt cao nên các DNNVV có thế nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu và chiến lược kinh doanh đế thích ứng với tình hình thị trường. Tuy nhiên, việc đưa ra các quyết định nhanh chóng kết hợp với việc thiếu khả năng nghiên cứu, đánh giá tình hình thị trường dẫn tới rủi ro cho doanh nghiệp khi các quyết định đưa ra thiếu tính chuẩn xác. Đây là hạn chế 9 xuất phát từ thực tế một bộ phận ban lãnh đạo DNNVV chưa đủ năng lực điều hành, thiếu kiến thức cơ bản về tài chính, luật pháp, quản trị kinh doanh, ban lãnh đạo không có kinh nghiệm quản trị trong những doanh nghiệp lớn,… Năng lực quản trị điều hành của chủ DNNVV kém, còn thói quen điều hành quản trị theo kiểu gia đình.
Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Các chủ doanh nghiệp thường là những người chưa được qua đào tạo về quản lý, phần lớn thiếu hiểu biết về pháp luật. Một số Luật nhiều doanh nghiệp không nắm được như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh,…. Ngoài ra, tính ổn định trong sản xuất kinh doanh của DNNVV không cao gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định và theo dõi khoản vay.
Thứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế. Nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính ngắn hạn, tạm thời theo nhu cầu của thị trường. Do đó, DNNVV thường có xu hướng đi chệch ra khỏi sứ mệnh và mục tiêu đề ra ban đầu và không có sự điều chỉnh kịp thời hợp lý. Trong thời đại khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đầu tư vào khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm chi phí trở thành điều kiện cốt lõi để giúp bất k một doanh nghiệp nào nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đối với DNNVV, do quy mô vốn bị hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất thường không được thường xuyên nên dẫn tới xu hướng rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém. Hệ quả là các DNNVV thường sử dụng 10 công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ trong việc nắm bắt thông tin thị trường cũng như marketing sản phẩm, dịch vụ. Thứ tư, hoạt động kinh doanh của DNNVV chịu ảnh hưởng lớn của môi trường kinh doanh. Cơ cấu doanh nghiệp gọn nhẹ là điều kiện thuận lợi để chủ doanh nghiệp quản lý, giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời làm giảm thiếu sai lệch thông tin do giảm bớt cấp trung gian.
Vì có tính linh hoạt cao nên các DNNVV có thế nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu và chiến lược kinh doanh để thích ứng với tình hình thị trường. Tuy nhiên tính ổn định trong sản xuất kinh doanh của DNNVV không cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển hướng sản xuất kinh doanh, đầu tư thêm các lĩnh vực khác, tăng giảm lao động,… gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định và theo dõi khoản vay có sử dụng vốn đúng mục đích hay không. Vai trò của DNNVV với nền kinh tế DNNVV có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế. Vai trò của DNNVV được thế hiện trên các mặt sau: Thứ nhất, DNNVV góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm mới cho người lao động, giảm bớt áp lực về việc làm và thất nghiệp.
Hiện nay, giải quyết việc làm cho người lao động góp phần ổn định trật tự xã hội là vấn đề nan giải và cấp thiết cho nhiều quốc gia. Tỷ lệ lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước và cơ quan hành chính sự nghiệp có chiều hướng giảm. Trong hoàn cảnh này các DNNVV ngoài quốc doanh trở thành nơi giải quyết nhu cầu về việc làm cho số lao động được tinh giảm trong các doanh nghiệp và hệ thống hành chính Nhà nước. Các DNNVV còn là nơi tạo ra việc làm cho số lượng lớn những người mới tham gia vào lực lượng lao động hàng năm.
Nhìn chung các DNNVV là nguồn chủ yếu tạo ra việc làm trong tất cả các lĩnh vực. Các DNNVV thường được dễ dàng thành lập với quy mô vốn 11 không lớn, mặt khác nó có khả năng đáp ứng được nhu cầu thay đổi của thị trường.