Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Nhóm nghiên cứu có liên quan đến khái niệm quản trị công ty. Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm, định nghĩa, nội hàm về QTCT; mỗi học thuật tuy có khác nhau về ý nghĩa, câu từ do góc độ nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau đối với lý luận và thực tiễn về QTCT trong các ngành khác nhau như: Macey, (2008); thì nghiên cứu QTCT theo nghĩa hẹp là QTCT có thể được hiểu là quan hệ của một công ty với các cổ đông.
Theo Mathiesen (2002) thì “QTCT thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính”.… thì QTCT là quá trình ra quyết định của HĐQT và các nhà quản lý cao cấp nhằm đạt được mục tiêu của công ty và cổ đông; là tập hợp các mối quan hệ giữa các bên quản lý một công ty, HĐQT, các cổ đông và các bên có liên quan. Theo Wells (2010) lại đưa ra “Quản trị công ty là cơ chế để nhằm giảm thiểu các vấn đề do việc chia tách quyền sở hữu và kiểm soát”. Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) có khái niệm QTCT là những cơ cấu và những quá trình để định hướng, kiểm soát công ty [1]. Theo OECD (2019, 2004) có đề cập đến khái niệm QTCT là “những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty liên quan đến các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, HĐQT, cổ đông, các bên có liên quan”.
Mục tiêu là “QTCT là khích lệ Ban giám đốc, HĐQT theo đuổi mục tiêu vì lợi ích của công ty và các cổ đông” [2]. 7 Nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty trong ngân hàng thương mại. Trong các nghiên cứu của Macey và O’Hara (2003), Becht, Bolton và Roell (2011) và Levine (2004) đã đưa ra các đặc trưng về mối quan hệ giữa QTCT và hoạt động ngân hàng là do các chức năng về hoạt động tiền gửi, tiền cho vay để hưởng lợi từ chênh lệch từ lãi suất; tránh rủi ro cho cổ đông, người gửi tiền và ngay chính ngân hàng cần thông qua công cụ quản lý và giải quyết các mối quan hệ đó là QTCT [24]. Nghiên cứu của Pablo de Anndres, Eleuterio Valleado (2008) đối với ngân hàng có tầm cỡ quốc tế thì QTCT là mối quan hệ giữa thành phần và quy mô HĐQT với KQKD ngân hàng; số lượng thành viên HĐQT có ý nghĩa đối với giám sát kinh doanh ngân hàng tốt hơn.
Tuy nhiên nếu nhiều thành viên độc lập ảnh hưởng đến HQKD do ra quyết định chậm. Nghiên cứu của Christopher Anderson, Terry L. Campbell (2004) khi nói về ngân hàng Châu Á thì QTCT chỉ ra HĐQT không làm tròn nhiệm vụ kiểm soát để xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính 1997 và đặt ra vị trí của tổng giám đốc trong vai trò QTCT. Đối với ngân hàng khu vực Đông Nam Á thì QTCT chính là tách bạch trách nhiệm giữa người sở hữu và người đại diện; đề cao vai trò kiểm soát của HĐQT và chịu trách nhiệm của giám đốc thì hiệu quả kinh doanh khá hơn.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa làm rõ cách thức QTCT và vai trò kiểm soát của HĐQT ở mức nào là phù hợp. Các nghiên cứu về Hội đồng quản trị Đối với HĐQT, nghiên cứu của Berger, NA & Schaeck. Kick (2014), [34] … đề cao vai trò và trách nhiệm đầu tiên đối với QTCT của doanh nghiệp thuộc về HĐQT vì đây là tổ chức đưa ra các định hướng tổng thể trong hoạt động quản lý và kinh doanh của ngân hàng. Nghiên cứu này đề cập đến: số lượng thành viên HĐQT có liên quan đến hiệu suất QTCT của ngân hàng.
Nghiên cứu của 8 Adams R.B, Ferreira (2007) [30] cho rằng các thành viên trong HĐQT có năng lực chuyên môn tài chính sẽ giúp cho công tác QTCT tốt hơn; bên cạnh đó, Sandeep Nabar và các cộng sự (2007) khi nghiên cứu công ty tại Mỹ đã phát hiện những doanh nghiệp có sự thay đổi giám đốc tài chính có kinh nghiệm thì mức độ công bố lại BCTC và QTCT tốt hơn các công ty có HĐQT không có năng lực tài chính. Nghiên cứu về tác động số lần cuộc họp của HĐQT, theo nghiên cứu của Ebra heem Saleem Alzoubi (2012); Xie.B và các cộng sự [38] cho rằng HĐQT có nhiều cuộc họp sẽ giúp các thành viên sẽ có nhiều thời gian xem xét hành vi QTCT nhiều hơn và ảnh hướng đến lợi nhuận. Nghiên cứu của Gulzar M.A (2011) cũng có kết quả tương tự. Điển hình có các nghiên cứu: Ebraheem Saleem Salem Alzoubi (2012) [38]; Xie.B và các cộng sự (2001), kết luận rằng số lượng thành viên HĐQT có chuyên môn trong HĐQT thì có quan hệ nghịch với mức độ quản trị lợi nhuận.
Ngoài ra, nghiên cứu của Brennan & Anup Agrawal, Sahiba Chadha (2010); cho rằng sự hiện diện các thành viên HĐQT độc lập có chuyên môn kế toán tài chính giúp HĐQT giám sát tốt hơn quy trình lập BCTC từ đó giảm hành vi công bố lại BCTC [33]. Trong khi đó, Wan Adibah Wan Ismail và các cộng sự (2010) nghiên cứu 400 công ty niêm yết tại Malaysia đã không tìm thấy bằng chứng nào có sự liên quan giữa thành viên có chuyên môn và hành vi quản trị lợi nhuận. Các nghiên cứu về Ủy ban kiểm tra và kiểm toán nội bộ: Đối với Ủy ban kiểm tra (UBKT). Nghiên cứu của M.
Craig-Cooper (2004), [42] nghiên cứu về sự tác động của UBKT với QTCT cho thấy nếu có sự hiện diện của UBKT thì công tác QTCT trong công ty tốt hơn do sự tăng cường kiểm tra và giám sát của ủy ban này nên ít xảy ra hành vi quản trị lợi nhuận, ít có báo cáo thiếu trung thực. Theo DeZoort và các cộng sự (2002) cho rằng sự hiệu quả của UBKT phụ thuộc rất nhiều vào tính độc lập và kiến thức 9 chuyên môn của các thành viên UBKT. Nghiên cứu của Ryan Davidsona (2005); Abbott.L, Parker Susan, Peter.F (2004), phát hiện những công ty có tỷ lệ các thành viên độc lập và ít nhất có một thành viên có kiến thức chuyên môn trong UBKT cao thì góp phần không chỉ công tác QTCT tốt mà còn giúp các BCTC nó minh bạch hơn. Kết quả nghiên cứu của Anup Agrawal và Sahiba Chadha (2004), Sandeep Nabar và các cộng sự (2007) đều có kết quả tương tự.
Đối với kiểm toán nội bộ (KTNB). KTNB cũng đóng vai trò quan trọng trong QTCT, vai trò quan sát viên độc lập nhằm đảm bảo hoạt động của công ty tuân thủ các quy định pháp luật quốc gia, đạo đức kinh doanh và quy chế công ty, đặc biệt là đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. Nghiên cứu của Lin và các cộng sự (2010) cho thấy rằng bản chất và phạm vi hoạt động của KTNB có ảnh hưởng mạnh đến việc công bố những yếu kém của công ty hơn là năng lực và tính khách quan của KTNB. Johl (2013) nghiên cứu mối liên hệ giữa KTNB và hành vi quản trị lợi nhuận của 620 công ty niêm yết tại Malaysia.
Kết quả cho thấy sự độc lập và hoạt động của Kiểm toán viên nội bộ có quan hệ nghịch với quản trị lợi nhuận. Nghiên cứu về các bên liên quan trong hoạt động quản trị công ty. Nghiên cứu của Jian Zhou, Nan Zhou (2006) đã đưa ra lý thuyết các bên có liên quan đưa ra nguyên tắc có ý nghĩa về đạo đức/ứng xử để nâng cao lợi nhuận và tài sản; trách nhiệm của các bên có liên quan như phương tiện để mang lại tối đa hóa tài sản của công ty [43]. Trong Lý thuyết đại diện xuất phát từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành.
Sự tách biệt này càng trở nên phổ biến khi các công ty ngày càng lớn mạnh và mở rộng về quy mô, chủ sở hữu không thể tham gia điều hành công ty mà họ có xu hướng thuê người để điều hành công ty. Adam Smith (1973) “Tuy nhiên, người điều hành của những công ty như vậy (công ty cổ phần) chỉ là người quản lý tiền của người khác chứ không là tiền của mình. Không thể mong 10 đợi hoàn toàn rằng họ sẽ quản lý, kiểm soát tiền một cách cẩn thận như người chủ sở hữu quản lý, kiểm soát tiền của mình. Giống như những người giúp việc cho người giàu, họ có xu hướng quan tâm tới những vấn đề nhỏ, không vì danh dự của người chủ.
Do vậy, sự sao nhãng và lãng phí sẽ luôn tồn tại, dù ở mức ít hay nhiều, trong việc quản lý các hoạt động của một công ty như vậy” Nghiên cứu của M. Craig-Cooper (2004), về các công ty lớn ở Mỹ chỉ ra rằng ngược với nội dung của lý thuyết người đại diện, chủ tịch HĐQT (tức là tổng giám đốc và chủ tịch HĐQT là hai người khác nhau) không làm gia tăng giá trị cho cổ đông. Ngược lại, khi chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc thì giá trị của cổ đông sẽ cao hơn. Mô hình của Warther dự báo rằng HĐQT chỉ đóng vai trò thực sự trong tình huống khủng hoảng.
Có một số bằng chứng ủng hộ giả thiết này đối với HĐQT độc lập. Thành viên HĐQT độc lập có khả năng miễn nhiệm hoặc thay đổi tổng giám đốc khi công ty hoạt động kém [42]. Nghiên cứu của Chan et al 2014, QTCT tốt phải tập trung vào việc tạo ra một cảm giác an toàn là công ty sẽ quan tâm đến lợi ích của các bên liên quan. Theo nghiên cứu của Wiliam (2012), sử dụng mô hình SFA, 2SLS và Tobit để phân tích mối quan hệ giữa sức mạnh thị trường và tính hiệu quả của các ngân hàng ở Mỹ Latinh.
Hầu hết các nghiên cứu về hiệu quả của hoạt động ngân hàng đều tập trung chủ yếu tại các nước phát triển. Mối quan hệ giữa QTCT và chất lượng thông tin báo cáo tài chính Hầu hết các nghiên cứu trước đây khi xem xét mối quan hệ giữa QTCT và chất lượng thông tin BCTC đều nhằm vào HĐQT và UBKT. HĐQT và UBKT với tư cách là đại diện cổ đông giám sát Ban điều hành (Hillman and Dalziel, 2003), và họ được kỳ vọng giám sát chất lượng BCTC. HĐQT, đặc biệt là các thành viên độc lập đóng vai trò hiệu quả nhất trong việc giám sát bởi vì nếu không có BCTC đáng tin cậy, hình ảnh các thành viên độc lập sẽ bị đánh giá thấp trước công chúng đồng thời nó sẽ làm giảm nhu cầu giám sát của họ 11 (Ahmed và các cộng sự, 2006).