Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về rủi ro tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại. Chương 3: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Chương 4: Nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Luận văn tập trung khảo sát các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa dự phòng rủi ro tín dụng và các biến độc lập: dự phòng rủi ro tín dụng năm trước, tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản, quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, hệ số rủi ro tín dụng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản, thu nhập trước thuế và dự phòng, tăng trưởng GDP tại 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015. 123doc 5 Về mặt khoa học Kết quả nghiên cứu bổ sung cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam. Về mặt thực tiễn Thông qua mô hình, nghiên cứu xác định ảnh hưởng của dự phòng rủi ro tín dụng năm trước, tỷ lệ nợ xấu trên tài sản, quy mô ngân hàng và tăng trưởng tín dụng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam.
Qua đó giúp cho việc quản trị ngân hàng thông qua trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Đối với người nghiên cứu Nghiên cứu hoàn thành sẽ giúp cho người nghiên cứu hoàn thiện khả năng nghiên cứu khoa học cùng với nâng cao kiến thức, kinh nghiệm trong việc nghiên cứu rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam. 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Thomas P. Fitch (1997) thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Còn theo Greuning và Bratanovic (2003) thì rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc vốn gốc theo đúng thời gian như đã ký kết trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Rủi ro tín dụng cũng còn được hiểu là một khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng tiến hành cho vay, điều đó có nghĩa là luồng thu nhập dự tính từ khoản cho vay đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cả về số lượng và thời gian (Saunder và cộng sự, 2000).
Foos, Norden và Weber (2010) nhấn mạnh rằng các khoản cho vay là nguồn chính tạo ra rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là sự mất mát tài chính tiềm năng phát sinh từ sự thất bại của khách hàng hoặc đối tác để giải quyết nghĩa vụ tài chính trong hợp đồng, vì vậy NHNN nên giám sát chặt chẽ hoạt động cho vay vì những khoản cho vay xấu có thể dẫn đến thất bại ngân hàng. Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của một tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa tăng trưởng tín dụng, thu nhập của ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Chính sách trích lập dự phòng là rất quan trọng trong việc đánh giá sự ổn định hệ thống tài chính, trong đó nó đóng góp quan trọng vào sự biến động lợi nhuận của các ngân hàng và nó có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp tín dụng cho nền kinh tế (Beatty và Liao, 2009).
Về cơ bản khoản dự phòng rủi ro phản ánh sự tự tin của các nhà quản lý ngân hàng về chất lượng danh mục đầu tư của họ, điều đó có nghĩa là các khoản dự phòng nên lường trước được các khoản thua lỗ tín dụng dự kiến, trong trường hợp họ thực sự tin rằng khoản dự phòng rủi ro tín dụng là chỉ số tốt nhất về rủi ro tín dụng thực sự (Dugan, 2009). Theo Bouvatier và Lepetit (2008), các ngân hàng có thể thực hiện không nghiêm ngặt các phương pháp thống kê để tính tổng dự phòng, điều này phụ thuộc một phần vào tăng trưởng tín dụng của từng ngân hàng và có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi của các nhà quản lý ngân hàng. Theo IAS 39, yêu cầu mỗi đơn vị vào cuối mỗi kỳ kế toán phải đánh giá xem liệu có bất kỳ bằng chứng khách quan nào thể hiện một tài sản tài chính hoặc một nhóm tài sản tài chính bị tổn thất. Khi bằng chứng khách quan được thành lập, tổ chức phải ước tính tổn thất một cách đáng tin cậy.
Sau đó, giá trị ghi sổ có thể được giảm một cách trực tiếp hoặc thông qua tài khoản dự phòng. Đây là khoản dự phòng dành cho sự suy giảm về tài sản của ngân hàng khi phát sinh các rủi ro và ước tính tổn thất đáng tin cậy. Theo Adzis và cộng sự (2015) thì dự phòng rủi ro tín dụng được định nghĩa là ước tính cho khả năng tổn thất khi cho vay, số tiền này sẽ được tính vào kết quả kinh doanh như một khoản chi phí. Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đóng vai trò quan trọng do các thông tin nhạy cảm mà nó truyền đạt và có thể phản ánh chất lượng danh mục đầu tư tín dụng của các ngân hàng (Curcio và Hasan, 2013).
123doc 8 Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là quá trình nhận biết những tổn thất của khoản vay. Khi cho vay, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ người vay không trả dư nợ gốc, tiền lãi. Khi nhận ra số tiền vay không thể thu hồi, ngân hàng phải tạo ra nguồn dự trữ để bù đắp cho những tổn thất tín dụng. Trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, dự phòng là một khoản mục thuộc tài sản và làm giảm giá trị của khoản tài sản có, nhằm phản ánh sự suy giảm của tài sản trước những tổn thất có khả năng xảy ra.
Còn trong bảng kết quả kinh doanh, dự phòng là một khoản chi phí tiền mặt, được ghi nhận làm giảm lợi nhuận, vốn chủ sở hửu của ngân hàng. Theo Điều 131 Luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 quy định như sau: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải dự phòng rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Khoản dự phòng rủi ro được hạch toán vào chi phí hoạt động. Việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động NHNN quy định sau khi thống nhất với Bộ tài chính.
Như vậy, việc trích lập dự phòng để xử lý rủi ro là điều bắt buộc nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng. Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN thì dự phòng rủi ro tín dụng là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh nước ngoài. Theo Floro (2010), tại hầu hết các nước dự phòng rủi ro được chia thành dự phòng cụ thể và dự phòng chung: + Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Tỷ lệ này được trích lập bao nhiêu là phụ thuộc vào khoản nợ đó được phân loại nợ vào nhóm nào.
+ Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể. 123doc 9 Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể với từng nhóm từ nhóm 1 đến nhóm 5 tương ứng là: 0%, 5%, 20%, 50% và 100%. Công thức tính toán số tiền trích lập dự phòng được quy định cụ thể như sau: R= max {0, (A-C)} x r Trong đó, R là số tiền dự phòng cụ thể phải trích A là giá trị khoản nợ C là giá trị tài sản đảm bảo (nhân với tỷ lệ phần trăm do quyết định 493 quy định đối với từng loại tài sản đảm bảo) r là tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể Như vậy, số tiền dự phòng cụ thể không những phụ thuộc vào giá trị khoản nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản đảm bảo. Nếu giá trị tài sản đảm bảo sau khi được tính theo tỷ lệ phần trăm lớn hơn giá trị khoản nợ thì số tiền dự phòng cũng bằng không, điều đó có nghĩa là tổ chức tín dụng không phải lập dự phòng cho khoản nợ đó.
Việc trích lập dự phòng rủi ro có thể gây ra tổn thất cho vay trong ngân hàng vì khi trích lập dự phòng là giá trị của khoản cho vay khách hàng trên bảng cân đối kế toán bị giảm xuống. Và việc tăng hay giảm trích lập dự phòng rủi ro cho vay là do chi phí dự phòng rủi ro phát sinh trong kỳ kế toán được thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Nếu sau khi ngân hàng tiến hành phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro mà số tiền trích lập trong kỳ lớn hơn số tiền trích lập kỳ trước thì ngân hàng sẽ ghi tăng chi phí dự phòng rủi ro và sự gia tăng chi phí dự phòng rủi ro sẽ làm cho mức dự phòng cho vay tăng lên và làm tài sản ngân hàng giảm xuống. Và ngược lại, nếu số tiền trích lập trong kỳ nhỏ hơn số tiền trích lập kỳ trước thì ngân hàng sẽ thực hiện hoàn nhập dự phòng và giảm chi phí dự phòng rủi ro tín 123doc 10 dụng, lúc này trích lập dự phòng cho vay sẽ giảm, trên cơ sở đó làm tăng tài sản cho vay khách hàng.