Chương 1: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại VCB Tây Cần Thơ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại VCB Tây Cần Thơ. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 1. Tín dụng ngân hàng a.
Khái niệm tín dụng Theo tác giả Trần Huy Hoàng (2011) Tín dụng là hình thức vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Theo đó, người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng chứ không nhường quyền sở hữu cho người vay. Do đó, sau một thời gian nhất định theo thoả thuận, người vay sẽ hoàn trả vốn vay, có kèm một khoản tăng thêm về giá trị gọi là lợi tức khoản vay [7, tr 200]. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội dung: (1) Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng. (2) Sự chuyển nhượng này có thời hạn. (3) Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. Phân loại tín dụng ngân hàng Ngày nay, NHTM phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo mục đích sử dụng của đối tượng khách hàng và mục tiêu quản lý của Ngân hàng.
Trên cơ sở đó, NHTM có thể phân loại tín dụng thành các loại như sau: Căn cứ vào thời hạn tín dụng: - Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống - Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng - Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 60 tháng Căn cứ vào hình thức tín dụng: Ngân hàng cấp tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm hoạt động cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá: - Chiếu khấu: là việc tổ chức tín dụng mua thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng chưa đến hạn thanh toán. - Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. - Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay 10 cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. - Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là ngân hàng với khách hàng thuê.
Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trọng hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê, các bên không được đơn phương hủy ngang hợp đồng. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay: - Cho vay có bảo đảm: là hình thức cho vay dựa trên cơ sở bảo đảm tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. - Cho vay không bảo đảm: là hình thức cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của khách hàng vay để quyết định cho vay.
Căn cứ vào tính an toàn của khoản vay Cách phân loại này giúp Ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, qua đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách có hiệu quả và kịp thời. Có 2 loại như sau: - Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao. - Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như thanh toán tiền gốc và lãi vay không đúng kỳ hạn, tài sản thế chấp không đủ tiêu chuẩn, hồ sơ tín dụng không đầy đủ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm. Phân loại khác: - Theo đối tượng tín dụng thì có cho vay vốn lưu động và vốn cố định.
- Theo mục đích sử dụng vốn vay có cho vay phục vụ sản xuất, cho vay tiêu dùng. - Theo ngành kinh tế như cho vay bất động sản, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại. - Theo phương thức cho vay thì có cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay trả góp, cho vay hợp vốn, cho vay thấu chi, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng a.
Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng - Theo tác giả Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể bù đắp cho tổn thất [7, tr 190]. Như vậy, 11 rủi ro có đặc điểm là xảy ra bất ngờ, không mong đợi và khi đã xảy ra thì sẽ gây ra tổn thất. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng [7, tr 201]. - Theo tác giả Phan Thị Cúc (2009), rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH [4, tr 143].
Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau: - Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hang chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; Hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp. - Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại: tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.
Các biểu hiện của rủi ro tín dụng - Không thu được lãi đúng hạn - Không thu được vốn đúng hạn. - Không thu được đủ lãi. 12 - Không thu đủ vốn cho vay d. Phân loại rủi ro tín dụng: Tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà có cách phân loại rủi ro tín dụng phù hợp: d1.
Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực nghiêm túc các chế độ, chính sách. Rủi ro chủ quan là rủi ro do chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây: Hình 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng * Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm: - Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn đe quyết định tài trợ của ngân hàng chưa tốt, thiếu bao quát, có nhiều sơ hở dẫn đến rủi ro. - Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các vấn đề liên quan đến đảm bảo tài sản như điều khoản bảo đảm tín dụng thiếu chặt chẽ, danh mục tài sản đảm bảo thiếu tính cụ thể, hình thức bảo đảm và phương pháp xử lý tài sản còn bất cập. 13 - Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. * Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành: - Rủi ro nội tại: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.