Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ đánh giá và bài báo khoa học 1. Nghiên cứu về ngôn ngữ đánh giá 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về ngôn ngữ đánh giá ❖ Các cách tiếp cận khác nhau về ngôn ngữ đánh giá Những năm vừa qua, có nhiều nghiên cứu về cơ chế ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện cảm xúc và đánh giá của con người.
Các nghiên cứu được tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau, dựa trên các quan niệm khác nhau về hiện tượng “đánh giá”. Có thể kể đến bốn cách tiếp cận nổi bật về ngôn ngữ đánh giá (NNĐG) như sau: Một là mô hình đánh giá của Hunston [69]. Hunston đưa ra mô hình hành động đánh giá gồm 3 bước (three-move evaluation act): xác định và phân loại đối tượng đánh giá, gán cho đối tượng đó một giá trị và xác định ý nghĩa của thông tin. Hai là hướng tiếp cận phân tích siêu diễn ngôn.
Các nhà nghiên cứu siêu diễn ngôn nhấn mạnh sự tương tác giữa người viết và người đọc [40], [82]. Theo đó, siêu diễn ngôn được định nghĩa là “nguồn ngữ nghĩa được sử dụng để tổ chức diễn ngôn hay lập trường của người viết đối với nội dung diễn ngôn hay đối với người đọc” [82, tr. Đặc trưng siêu diễn ngôn thể hiện lập trường bao gồm: (i) những yếu tố chỉ ra mối quan hệ ngữ nghĩa giữa mệnh đề và các phần văn bản (however, therefore, in conclusion, v.) và minh chứng (X says, according to X, …); (ii) rào đón, trợ từ, dấu hiệu chỉ thái độ (unfortunately, I agree, .) và đề cập hiển ngôn tới tác giả (I, we) hay người đọc (you). Ba là quan điểm về lập trường (stance).
Các nhà nghiên cứu về lập trường hiểu thuật ngữ này theo hai nghĩa khác biệt. Theo cách hiểu thứ nhất, “lập trường” tương đương với một số khía cạnh của đánh giá [28], [29]. Biber và cộng sự đã phân tích các trạng ngữ chỉ lập trường và chia thành từng nhóm dựa trên hai tiêu chí: đặc điểm ngữ pháp (từ đơn, cụm giới từ và mệnh đề) và loại lập trường thể hiện (phong cách, thái độ và nhận thức). Cái mà Conrad & Biber xem xét là các dấu hiệu hay các cách 9 diễn đạt lập trường chứ không phải bản thân lập trường như một khái niệm trừu tượng.
Theo cách hiểu thứ hai, lập trường là một hoạt động chứ không phải một bộ các dấu hiệu hay cách diễn đạt [49]. Cũng theo cách hiểu này, Dubois (2007) đề xuất “tam giác lập trường” (stance triangle) thể hiện hành động xác định lập trường trong giao tiếp hội thoại. Hành động này bao gồm ba bước: đánh giá, định vị (positioning) và đồng nhất quan điểm (alignment). Theo Dubois, đánh giá chỉ là một trong ba bước để xác định lập trường.
Đánh giá chỉ ra vị trí của người đánh giá trong mối quan hệ với đối tượng được đánh giá và với người khác. Bốn là lý thuyết đánh giá với bộ khung thẩm định ngôn ngữ đánh giá của Martin & White [104]. Lý thuyết này bắt nguồn từ đường hướng phân tích ngữ pháp chức năng hệ thống (SFL). Theo quan điểm của SFL, ngôn ngữ thực hiện ba chức năng: chức năng kinh nghiệm (ideational), chức năng liên nhân (interpersonal) và chức năng tạo văn bản (textual).
Martin & White [104, tr.34-35] xác định đối tượng mà họ phân tích, tức đánh giá, nằm trong “một trong ba nguồn ngữ nghĩa diễn ngôn chính tạo nên nghĩa liên nhân” và khẳng định cái mà họ quan tâm đến là “tài nguyên ngữ nghĩa” (semantic resources) chứ không phải đặc trưng ngôn ngữ của từ ngữ đánh giá. Thế mạnh của khung thẩm định (KTĐ) là nó cho phép sơ đồ hóa nguồn tài nguyên ngữ pháp ngữ nghĩa phong phú được sử dụng một cách toàn diện và hệ thống để đánh giá người hoặc vật [39]. KTĐ còn là một công cụ phân tích giúp ta hiểu rõ hơn những vấn đề liên quan đến nguồn đánh giá và mối tương quan của các đối tượng giao tiếp trong diễn ngôn. Bởi lẽ đó, KTĐ của Martin & White được lựa chọn làm khung lý thuyết để phân tích toàn bộ ngữ liệu của nghiên cứu này.
❖ Các nghiên cứu về ngôn ngữ đánh giá áp dụng khung thẩm định của Martin & White KTĐ của Martin & White được lựa chọn làm cơ sở lý thuyết để phân tích NNĐG trong nhiều nghiên cứu trên nguồn ngữ liệu khác nhau, phục vụ các mục đích nghiên cứu khác nhau. Khái quát lại, ta có thể nhóm các nghiên cứu theo vấn đề như sau: Thứ nhất, NNĐG được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại: diễn ngôn chính trị [62], [88], [107]; ngôn ngữ quảng cáo [94]; sách giáo khoa, tài liệu lịch sử [38], [113], [114], [119], [120]. Chúng là minh chứng cho kết luận của Alba-Juez & 10 Thompson [69, tr.13], “ngôn ngữ đánh giá – phụ thuộc vào ngôn cảnh – cũng phụ thuộc vào loại văn bản mà nó được sử dụng”. Trong lĩnh vực chính trị, bài phát biểu của các nguyên thủ quốc gia là ngữ liệu phân tích chính.
Các nghiên cứu này hướng tới mục đích khám phá ngôn ngữ của chính trị, hé mở ra những chiến lược và sự lựa chọn ngôn ngữ của các nhà chính trị. Kết quả phân tích cho thấy, cho dù có sự khác biệt, thậm chí đối lập về quan điểm chính trị, (i) các chính trị gia đều ý thức rằng sử dụng ngôn ngữ chính là nhân tố then chốt trong việc thuyết phục khán giả, do đó áp dụng nguồn lực ngôn ngữ, các dấu hiệu cảm xúc một cách linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả là yếu tố quan trọng trong bài phát biểu của họ; (ii) người đứng đầu nhà nước có xu hướng sử dụng NNĐG tích cực để nêu bật khả năng của chính phủ, quốc gia hay đồng minh của họ, dùng đánh giá tiêu cực khi nói về những sai lầm, yếu kém của đối thủ, địch thủ; (iii) cuối cùng, các nghiên cứu đều khẳng định rằng những nhân tố quốc tế, xã hội, kinh tế, chính trị dẫn đến sự khác nhau về bản chất và loại dấu hiệu chỉ thái độ (Attitude). Ngoài những kết luận chung, Jalilifar & Savaedi [88] chỉ ra sự khác nhau đáng kể giữa bài phát biểu của người thắng cuộc và người thua cuộc trong các cuộc tranh cử tổng thống Mỹ và Iran. Ở cả hai nước, người thắng cuộc đều biết tận dụng ngôn ngữ chỉ Cảm xúc (Affect) và Phán xét (Judgment).
Phân tích định lượng của Mazlum & Afshin [107] chỉ ra rằng bài phát biểu của các tổng thống có tần suất sử dụng dấu hiệu chỉ xúc cảm cao, thể hiện qua động từ, tính từ, trạng từ và danh từ hóa, trong đó, tính từ và danh từ xuất hiện nhiều hơn động từ và trạng từ. Có lẽ do cứ liệu phân tích là diễn ngôn nói nên các nghiên cứu trên đều chỉ tập trung vào một tiểu hệ thống nhỏ chỉ Thái độ (Cảm xúc, hoặc Phán xét) trong KTĐ mà chưa đề cập tới các nhánh khác của hệ thống NNĐG, vì vậy, để lại khoảng trống lớn cho các nghiên cứu sau. Đối với thể loại quảng cáo, nghiên cứu của Kochetova & Volodchenkova [94] chỉ ra những thay đổi trong NNĐG và vai trò của chúng trong các bài quảng cáo việc làm trên tạp chí Times (Anh) trong một thế kỷ (1896-2006). Kết quả nghiên cứu khẳng định giả thuyết ban đầu rằng NNĐG phụ thuộc vào những thay đổi lịch sử với sự xuất hiện ngày càng nhiều đánh giá, thực thể được đánh giá và ngữ nghĩa của những tính 11 từ đánh giá.
Xu hướng này được giải thích là do nhà tuyển dụng cố gắng thuyết phục ứng cử viên tiềm năng bằng cách thu hút cảm xúc và khuyến khích họ nộp hồ sơ xin việc. Trong khi đó, phần trình bày về nhà tuyển dụng được thể hiện qua các tính từ đánh giá cũng trở nên thu hút và xúc cảm hơn bởi các nhà tuyển dụng nhận ra tầm quan trọng của việc gây dựng hình ảnh của công ty. Thể loại sách giáo khoa lịch sử thu hút được nhiều sự quan tâm, trong đó phải kể đến nghiên cứu công phu của Myskow [113]. Công trình của ông trình bày kết quả nghiên cứu định lượng so sánh NNĐG hiển ngôn được sử dụng trong sách giáo khoa lịch sử bậc trung học và bậc đại học.
Nghiên cứu chỉ ra rằng sách giáo khoa lịch sử ở cả hai cấp học chủ yếu nhấn mạnh vào những kiến thức đã được công nhận hơn là đưa ra những biện luận mới. Vì vậy, cho dù ở cấp bậc cao hơn, với người học, sách giáo khoa đại học không thể hiện định hướng chuyên ngành nhiều so với sách trung học. Minh chứng ngôn ngữ thể hiện ở sự xuất hiện nhiều của đánh giá chỉ Cảm xúc và rất ít Phán xét hành vi. Đây là một nghiên cứu rất có giá trị tham khảo với phong cách, ngôn ngữ diễn đạt thu hút, mạch lạc, kết quả nghiên cứu trình bày chi tiết, logic và toàn diện.
Thứ hai, việc phân tích NNĐG dựa trên cơ sở KTĐ được thực hiện với mục đích chứng minh rằng phân tích NNĐG ngoài việc mang lại ý nghĩa ngôn ngữ thuần túy còn có ý nghĩa sư phạm và tính ứng dụng cao. Trong nỗ lực tìm ra một lĩnh vực áp dụng KTĐ và một phương pháp dạy tiếng Anh mới, Liu [98] khẳng định việc phân tích KTĐ là rất hữu ích cho kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh của sinh viên bậc đại học, đồng thời chứng minh rằng KTĐ có thể được sử dụng như một chiến lược quan trọng để phát triển khả năng phê phán của sinh viên, cũng như cung cấp cho giáo viên dạy tiếng Anh một cách tiếp cận mới về dạy kỹ năng đọc hiểu. Nghiên cứu của McKinley [109] là minh chứng cho khả năng tích hợp thuyết đánh giá của Martin & White [104] với thuyết khả năng của Clark & Ivanič [35] để phân tích rõ ràng chức năng của nguồn lực từ vựng ngữ pháp trong việc giúp sinh viên hoàn thành tốt bài viết theo yêu cầu của giáo viên. Hạn chế chung của hai nghiên cứu trên là chúng chỉ được thí điểm trên một hay một nhóm sinh viên, với kết quả trình bày hết sức sơ lược, vắn tắt.
Do đó, khả năng lan tỏa của nghiên cứu chưa cao. 12 Cùng mối quan tâm đến hoạt động dạy-học, Hu & Choo [68] hướng tới các nhân tố ảnh hưởng đến NNĐG trong các phản hồi của giáo viên, bao gồm chuyên ngành giảng dạy và năm kinh nghiệm. Kết quả là giáo viên thuộc các chuyên ngành và có tuổi nghề khác nhau đều giống nhau về cách sử dụng ngôn ngữ chỉ tính Kiên trì (tenacity), Phản ứng (reaction), Tổng hợp (composition) và Giá trị (valuation).