Tổng quan nghiên cứu

Ngủ ngáy là một trong những biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất của hội chứng rối loạn giấc ngủ, với khoảng 30% trường hợp có kèm theo tình trạng ngưng thở lúc ngủ gây thiếu oxy não và tăng CO2 máu. Tại các quốc gia phát triển, tỷ lệ người mắc chứng ngủ ngáy chiếm khoảng 40% ở nam giới và 28% ở nữ giới, đồng thời có xu hướng gia tăng mạnh lên tới 70% đến 80% ở nhóm người trên 70 tuổi. Sự rung chuyển của các khối mô mềm chùng nhão vùng hầu họng không chỉ làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng giấc ngủ mà còn gây phiền toái lớn đến người xung quanh và làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch chuyển hóa nguy hiểm.

Trong bệnh học Tai Mũi Họng, viêm amidan quá phát mạn tính đóng vai trò là nguyên nhân cơ học hàng đầu gây bít tắc đường hô hấp trên dẫn đến hội chứng ngủ ngáy ở người lớn. Luận văn bác sĩ nội trú của tác giả Nguyễn Minh Dương dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Triều Việt tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã tập trung giải quyết bài toán thực tiễn này. Nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu trọng tâm: khảo sát toàn diện đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân viêm amidan quá phát gây ngủ ngáy và đánh giá kết quả cải thiện triệu chứng sau phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện đơn cực.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên 49 bệnh nhân trưởng thành điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ trong giai đoạn từ tháng 04/2018 đến tháng 04/2020. Đề tài mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp bộ dữ liệu y học chứng cứ giá trị với tỷ lệ an toàn phẫu thuật đạt 100% và tỷ lệ thuyên giảm các triệu chứng cơ năng đường thở đạt trên 90% sau can thiệp, mở ra định hướng điều trị ngoại khoa chuẩn hóa cho chuyên ngành Tai Mũi Họng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng giải phẫu học cấu trúc lympho thuộc vòng bạch huyết Waldeyer và cơ chế sinh bệnh học luồng khí qua đường hô hấp trên. Amidan khẩu cái là khối lympho hình bầu dục kích thước trung bình 20mm x 15mm x 12mm, nặng khoảng 1,5g nằm trong hố amidan giới hạn bởi cơ khẩu cái lưỡi (trụ trước) và cơ khẩu cái họng (trụ sau). Khi xảy ra tình trạng viêm tái diễn nhiều lần trong năm, các nang lympho tăng sản nhu mô dẫn đến phì đại thể tích, tạo thành vật cản cơ học làm hẹp khẩu kính eo họng.

Cơ chế sinh bệnh học của tiếng ngáy dựa trên sự mất cân bằng động học giữa áp lực âm hít vào do cơ hoành tạo ra và áp lực dương của các cơ giãn họng (như cơ cằm lưỡi, cơ căng màn hầu). Trong lúc ngủ sâu, trương lực cơ vùng hầu họng suy giảm kết hợp tác động của trọng lực làm màn hầu đổ ra sau, tạo nên dòng khí xoáy và kích thích dao động tần số thấp của mô mềm tạo thành tiếng ngáy.

Đề tài ứng dụng ba công cụ đo lường chuẩn mực quốc tế:

  1. Thang phân độ quá phát amidan theo Linda Brodsky chia thành 5 mức độ (từ độ 0 đến độ 4), trong đó độ 3 tương ứng mức độ hẹp eo họng từ 50% đến 75% và độ 4 hẹp trên 75%.
  2. Thang điểm buồn ngủ ban ngày Epworth (Epworth Sleepiness Scale - ESS) và phân độ tiếng ngáy Epworth gồm 5 cấp độ từ độ I (bình thường) đến độ V (ngáy rất lớn khiến người ngủ cùng phòng phải chuyển đi nơi khác).
  3. Thang đo mức độ đau trực quan VAS (Visual Analogue Scale) từ điểm 0 (không đau) đến điểm 10 (đau dữ dội).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế tiến cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (Z = 1,96), sai số tuyệt đối mong muốn d = 7% và tỷ lệ thuyên giảm ngáy tham chiếu p = 93,9% từ các nghiên cứu trước đó. Kết quả tính toán cỡ mẫu tối thiểu là 45 bệnh nhân; trong thực tế triển khai suốt 24 tháng, nghiên cứu đã thu thập được 49 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện, liên tục được áp dụng cho tất cả bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, có mức độ ngáy từ độ II trở lên theo thang điểm Epworth và có tình trạng amidan quá phát gây hẹp đường thở. Tiêu chuẩn loại trừ chặt chẽ gồm các trường hợp có tổn thương gây tắc nghẽn phối hợp ở mũi xoang, hạ họng, thanh quản hoặc hồ sơ bệnh án không đầy đủ.

Toàn bộ quy trình can thiệp sử dụng kỹ thuật cắt amidan bóc tách bằng dao điện đơn cực dưới gây mê nội khí quản qua 5 thì phẫu thuật chuẩn mực. Dữ liệu nghiên cứu được nhập, quản lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 và Excel 2016. Thuật toán kiểm định tính chuẩn One-Sample Kolmogorov-Smirnov được sử dụng để lựa chọn phép kiểm thống kê phù hợp, xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng p < 0,05. Nghiên cứu viên trực tiếp khám, phẫu thuật, theo dõi hậu phẫu tại ngày thứ 1, ngày thứ 7, ngày thứ 14, ngày thứ 21 và tái khám sau 3 tháng nhằm loại bỏ hoàn toàn sai số thu thập.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát nhân khẩu học trên 49 bệnh nhân cho thấy độ tuổi trung bình là 38,69 ± 9,16 tuổi, trong đó nhóm tuổi trẻ từ 18 đến 40 tuổi chiếm đa số với 59,20% (29 bệnh nhân) và nhóm 41 đến 60 tuổi chiếm 40,80% (20 bệnh nhân). Nam giới chiếm ưu thế vượt trội với 65,30% (32 bệnh nhân) so với nữ giới là 34,70% (17 bệnh nhân). Về địa dư và thể trạng, có 81,60% bệnh nhân sinh sống tại khu vực nông thôn và 34,70% làm nghề nông; chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình đạt 25,5 ± 4,1 kg/m2, trong đó nhóm béo phì độ I chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,80%.

Về đặc điểm lâm sàng trước phẫu thuật, triệu chứng toàn thân hay gặp nhất là sốt tái phát từ 4 lần/năm trở lên chiếm 67,3% (33 ca) và mệt mỏi mạn tính chiếm 51,0%. Triệu chứng cơ năng ghi nhận tỷ lệ nuốt vướng cao nhất với 87,8% (43 ca), đau họng chiếm 67,3% (33 ca) và hôi miệng chiếm 44,9% (22 ca). Về thực thể, mức độ amidan quá phát độ III chiếm áp đảo với 71,43% (35 ca), độ II chiếm 16,33% và độ IV chiếm 12,24%. Đánh giá mức độ ngủ ngáy trước can thiệp ghi nhận độ III chiếm 44,9% (22 ca), độ IV chiếm 32,7% (16 ca) và độ II chiếm 22,4% (11 ca); điểm Epworth trung bình là 7 điểm với 53,06% trường hợp có điểm ESS từ 7 trở lên.

Đánh giá hiệu quả can thiệp sau 3 tuần cho thấy sự cải thiện vượt bậc: triệu chứng nuốt vướng giảm từ 87,8% xuống chỉ còn 6,1% (3 ca), đau họng giảm từ 67,3% xuống 4,1% (2 ca), hôi miệng giảm từ 44,9% xuống 6,1% và cảm giác ngứa họng giảm từ 30,6% xuống 4,1%. Mức độ đau theo thang điểm VAS ngay sau mổ có 89,8% bệnh nhân đau mức 8 điểm, nhưng sau 1 tuần đã giảm mạnh xuống mức 4 điểm (71,43%) và sau 3 tuần có tới 83,67% (41 bệnh nhân) đạt điểm 0 (hoàn toàn không còn đau).

Về độ an toàn và tiến trình hồi phục, tỷ lệ an toàn trong phẫu thuật đạt 100% không có tai biến. Biến chứng sau mổ không xuất hiện ở 81,6% trường hợp; ghi nhận 8,2% chảy máu (2 ca chảy máu sớm trong 2 giờ đầu và 2 ca chảy máu muộn vào ngày thứ 9) cùng 10,2% phù nề lưỡi gà nhẹ. Tỷ lệ bảo tồn nguyên vẹn trụ amiđan đạt 89,8%. Giả mạc bám đều hố mổ đạt 85,71% vào ngày thứ 2 và bong hoàn toàn đạt 97,96% vào ngày thứ 14, đạt 100% ở ngày thứ 21. Thời gian nằm viện trung bình là 4,59 ± 1,41 ngày, thời gian ăn uống bình thường trở lại là 9,22 ± 1,65 ngày và thời gian phục hồi lao động là 14,57 ± 1,26 ngày.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện lâm sàng khẳng định sự tương quan tỷ lệ thuận rõ rệt giữa kích thước amidan và mức độ ngủ ngáy: khối amidan càng lớn (độ III và IV chiếm tổng cộng 83,67%) thì mức độ ngáy càng nghiêm trọng (độ III và IV chiếm 77,6%). Sự tắc nghẽn cơ học tại eo họng là yếu tố khởi phát chính làm gia tăng vận tốc dòng khí hít vào và kích thích rung màng hầu.

Khi khối amidan được bóc tách hoàn toàn bằng dao điện đơn cực, khoảng không gian hầu họng được mở rộng tối đa, triệt tiêu lực cản khí động học và chấm dứt hiện tượng rung mô mềm. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố quốc tế của Duran khi can thiệp mở rộng họng màn hầu đạt tỷ lệ giảm ngáy 88,9% và nghiên cứu trong nước của Hoàng Gia Thịnh với tỷ lệ thành công 83,3%.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua các biểu đồ hình cột phân bố nhóm tuổi, biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu phân loại BMI và mức độ phì đại amidan theo Brodsky. Sự chuyển biến tích cực của các triệu chứng lâm sàng trước và sau mổ 3 tuần được đối chiếu rõ nét qua bảng tổng hợp số liệu, minh chứng cho tính ưu việt và độ tin cậy của phương pháp can thiệp ngoại khoa bằng dao điện đơn cực.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình sàng lọc và chẩn đoán ngủ ngáy tại tuyến y tế cơ sở: Áp dụng bắt buộc bộ câu hỏi thang điểm Epworth kết hợp đánh giá phân độ quá phát amidan theo Brodsky cho 100% bệnh nhân trưởng thành đến khám với các triệu chứng thở miệng, đau họng mạn tính hoặc ngủ ngáy. Chỉ tiêu cần đạt là phát hiện sớm và chuyển tuyến điều trị chuyên khoa đạt trên 90% trường hợp bít tắc đường thở trong giai đoạn 2025 - 2026. Chủ thể thực hiện là bác sĩ Tai Mũi Họng và bác sĩ đa khoa tại các trung tâm y tế quận, huyện.

  2. Hoàn thiện và tối ưu hóa kỹ thuật cắt amidan bằng dao điện đơn cực: Phẫu thuật viên cần điều chỉnh dòng điện ở cường độ đông nhiệt vừa phải, thao tác bóc tách chính xác theo đúng bình diện bao amidan để hạn chế tối đa bỏng nhiệt sâu vào cơ siết họng trên. Mục tiêu giảm tỷ lệ chảy máu hậu phẫu xuống dưới 5% và duy trì tỷ lệ bảo tồn trụ amidan trên 90% ngay trong năm 2025. Chủ thể thực hiện là đội ngũ phẫu thuật viên Tai Mũi Họng tại các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa.

  3. Xây dựng mô hình phối hợp liên chuyên khoa kiểm soát cân nặng và lối sống: Thiết lập phác đồ kết hợp giữa can thiệp ngoại khoa cắt amidan và tư vấn dinh dưỡng giảm cân đối với nhóm bệnh nhân có chỉ số BMI từ 23 kg/m2 trở lên. Mục tiêu kiểm soát đưa chỉ số BMI của bệnh nhân về ngưỡng an toàn dưới 23 kg/m2 trong vòng 6 tháng sau mổ nhằm loại bỏ hoàn toàn mô mỡ tích tụ thành sau họng. Chủ thể thực hiện là bác sĩ điều trị Tai Mũi Họng phối hợp cùng chuyên gia Dinh dưỡng lâm sàng.

  4. Mở rộng chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe cộng đồng: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức sai lầm cho rằng ngủ ngáy là biểu hiện của giấc ngủ sâu. Phấn đấu đạt tỷ lệ trên 80% người dân khu vực nông thôn hiểu rõ tác hại của ngủ ngáy và hội chứng ngưng thở khi ngủ vào năm 2026. Chủ thể thực hiện là Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) và mạng lưới y tế cơ sở.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ nội trú, học viên sau đại học và bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận chi tiết, kỹ thuật bóc tách 5 thì chuẩn mực bằng dao điện đơn cực và phương pháp kiểm soát biến chứng chảy máu sớm, chảy máu muộn; sử dụng làm tài liệu tra cứu lâm sàng và biên soạn đề cương nghiên cứu chuyên sâu.

  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu y học giấc ngủ: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng đáng tin cậy về dịch tễ học ngủ ngáy, chỉ số BMI và mối liên hệ giữa thang điểm Epworth với mức độ quá phát amidan tại khu vực miền Tây Nam Bộ; phục vụ giảng dạy bệnh học hô hấp và xây dựng các đề tài nghiên cứu đa trung tâm.

  3. Phẫu thuật viên ngoại khoa và điều dưỡng gây mê hồi sức: Nắm vững quy trình vô cảm nội khí quản, tư thế phẫu thuật với dụng cụ banh miệng chuyên dụng, kỹ năng theo dõi mức độ đau theo thang điểm VAS và quy trình chăm sóc liền màng giả mạc hố mổ từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 21.

  4. Bệnh nhân ngủ ngáy và người nhà bệnh nhân: Giúp người bệnh hiểu rõ căn nguyên gây ngáy do bít tắc cơ học eo họng, nhận thức được tầm quan trọng của việc điều trị ngoại khoa kịp thời và chuẩn bị tốt tâm lý cũng như chế độ ăn uống phục hồi sau phẫu thuật cắt amidan.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cắt amidan quá phát bằng dao điện đơn cực có giúp chữa khỏi hoàn toàn chứng ngủ ngáy không? Phẫu thuật cắt amidan giúp giải phóng triệt để sự bít tắc cơ học tại eo họng do khối amidan phì đại độ 3 hoặc độ 4 gây ra, giúp tỷ lệ nuốt vướng giảm từ 87,8% xuống 6,1% sau 3 tuần. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có kèm theo thừa cân béo phì với BMI trên 25 kg/m2 hoặc chùng nhão màn hầu, cần phối hợp giảm cân và thay đổi lối sống để đạt hiệu quả triệt để.

  2. Mức độ đau sau phẫu thuật cắt amidan kéo dài trong bao lâu và có thể ăn uống bình thường khi nào? Ngay sau mổ, khoảng 89,8% bệnh nhân có cảm giác đau nhiều ở mức 8 điểm theo thang VAS do tác động nhiệt của dao điện. Cảm giác đau giảm rõ rệt sau 7 ngày và có 83,67% bệnh nhân hoàn toàn hết đau sau 3 tuần. Thời gian trung bình để bệnh nhân ăn uống bình thường trở lại là 9,22 ± 1,65 ngày và sinh hoạt bình thường sau 14,57 ngày.

  3. Biến chứng chảy máu sau khi cắt amidan có nguy hiểm không và tỷ lệ gặp phải là bao nhiêu? Chảy máu là biến chứng ngoại khoa cần được theo dõi nghiêm ngặt. Trong nghiên cứu trên 49 ca phẫu thuật, tỷ lệ chảy máu chiếm 8,2%, chia đều cho 2 ca chảy máu sớm trong 24 giờ đầu và 2 ca chảy máu muộn vào ngày thứ 9 khi bong giả mạc. Tất cả các trường hợp đều được xử trí cầm máu an toàn, không để lại di chứng nguy hiểm.

  4. Tại sao người thừa cân, béo phì lại có nguy cơ bị ngủ ngáy cao hơn? Ở những người thừa cân có chỉ số BMI từ 25 kg/m2 trở lên (chiếm 40,80% trong nghiên cứu), lượng mô mỡ tích tụ nhiều ở thành sau họng và xung quanh khẩu cái mềm làm thu hẹp thiết diện đường thở. Khi ngủ say, sự giảm trương lực cơ kết hợp áp lực âm lồng ngực khiến luồng khí bị xoáy mạnh, tạo lực rung lớn lên các mô mềm gây ra tiếng ngáy to.

  5. Khi nào người bị ngủ ngáy cần phải thực hiện phẫu thuật cắt amidan? Phẫu thuật được chỉ định khi người bệnh từ 18 tuổi trở lên, có mức độ ngáy từ độ II trở lên theo thang điểm Epworth kèm tình trạng amidan phì đại độ 3 (chiếm 71,43% trong nghiên cứu) hoặc độ 4 làm hẹp trên 50% eo họng, có các triệu chứng nuốt vướng, sốt tái phát trên 4 lần mỗi năm và đã được nội soi loại trừ các tổn thương bít tắc ở mũi xoang.

Kết luận

  • Xác lập mối liên hệ chặt chẽ giữa tình trạng amidan quá phát độ III, IV (chiếm 83,67%) với mức độ ngủ ngáy nghiêm trọng độ III, IV (chiếm 77,6%) ở người trưởng thành.
  • Khẳng định tính an toàn và hiệu quả vượt trội của phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện đơn cực với tỷ lệ an toàn trong mổ đạt 100% và 81,6% bệnh nhân hoàn toàn không gặp biến chứng sau mổ.
  • Ghi nhận sự thuyên giảm ngoạn mục của các triệu chứng cơ năng sau 3 tuần: nuốt vướng giảm từ 87,8% xuống 6,1%, đau họng giảm từ 67,3% xuống 4,1% và 83,67% bệnh nhân hết đau hoàn toàn.
  • Xác định chuẩn xác các mốc thời gian phục hồi lâm sàng: nằm viện 4,59 ± 1,41 ngày, ăn uống bình thường sau 9,22 ± 1,65 ngày và hồi phục lao động sau 14,57 ± 1,26 ngày.
  • Đóng góp bộ dữ liệu lâm sàng thực chứng có giá trị cao cho chuyên ngành Tai Mũi Họng trong việc chẩn đoán và điều trị hội chứng ngủ ngáy tại Việt Nam.

Kế hoạch tiếp theo cần triển khai các nghiên cứu đa trung tâm mở rộng quy mô trên 100 bệnh nhân trong giai đoạn 2026 - 2028 nhằm theo dõi chất lượng giấc ngủ dài hạn sau 12 tháng. Quý đồng nghiệp, học viên và bạn đọc quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác nghiên cứu và thực hành điều trị lâm sàng Tai Mũi Họng.