CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về Địa long 1. Nguồn gốc Theo Dược điển Việt Nam V, Địa long (Giun đất) có nguồn gốc từ một số loài Giun thuộc giống Pheretima (Pheretima aspergillum, Pheretima vulgaris, Pheretima guillelmi, Pheretima pectinifera), họ Cự dẫn (Megascolecidae) [4]. Theo tài liệu cập nhật về danh mục các loài giun đất ở Việt Nam, các loài thuộc Pheretima đã được chuyển sang một số chi khác như Amynthas (Kinberg, 1867), Metaphire (Michaelsenm 1895),… [34].
Vị trí phân loại: Thuộc họ Megascolecidae, lớp Oligochaete, ngành Annelida [34]. Phân bố: • Trên thế giới: Pheretima được tìm thấy chủ yếu ở New Guinea (Đảo Papua) và một số khu vực thuộc Đông Nam Á. Loài Pheretima praepinguis sống ở núi Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc là một trong những sinh vật đặc trưng nhất ở nơi này [12]. Các loài Pheretima timpoongensis, Pheretima camiguinensis và Pheretima pandanensis được tìm thấy ở núi Timpoong, đảo Camiguin, Philippines [15].
• Ở Việt Nam: Địa long phân bố rộng rãi ở nước ta [3], [34]. Tổng số loài giun đất được tìm thấy ở Việt Nam là 212 loài thuộc 25 chi và 8 họ [34]. Trong đó chi Amynthas có số loài nhiều nhất (112 loài) [34]. Loài Metaphire anomala là loài quý hiếm có giá trị bảo tồn.
Nhiều loài Địa long có ý nghĩa kinh tế cao trong cải tạo đất, chăn nuôi, làm dược liệu, giá trị sinh học như Metaphire bianensis, Metaphire houlleti, Metaphire campanulata, Amynthas oculata ankheana, Amynthas aspergillum [12], [34]. Vị thuốc Địa long 1. Khái niệm Địa long là toàn thân đã phơi hay sấy khô của con Giun Pheretima aspergillum (E. Perrier), Pheretima vulgaris Chen.
Loại đầu tiên là Quảng địa long. 3 loại còn lại là Hồ địa long [4]. 1: Dược liệu Địa long 2 1. Thu hoạch và chế biến Muốn bắt giun, người ta đổ nước bồ kết hay nước rau nghể, nước chè vào những nơi có nhiều giun, tức thì giun bò ra.
Cho giun vào trong tro rơm và dội nước ấm cho sạch chất nhầy nhớt. Sau đó dùng đinh đóng đuôi giun vào miếng gỗ, lấy dao sắc rạch từ đầu đến cuối, dùng nước ấm rửa sạch đất cát trong bụng rồi phơi hay sấy khô. Có nơi người ta chỉ bắt giun, dùng tro và nước nóng rửa cho sạch nhớt ở ngoài rồi phơi hay sấy khô chứ không mổ bụng rửa sạch đất như nói ở trên [3]. Mô tả Quảng địa long: Là những lát mỏng có dạng như mái ngói, cong, bìa hơi cuộn, dài 15 cm đến 20 cm, rộng 1 cm đến 2 cm, toàn thân chia thành nhiều đốt.
Mặt ngoài phần lưng có màu nâu đến xám tím, ở phần bụng có màu nâu vàng nhạt. Lỗ sinh thực cái nằm ở đốt thứ 14 đến 16, màu tương đối sáng. Thắt lại ở phần đầu, bè ra và tròn ở phần đuôi. Lông tơ ngắn, thô và rất cứng, màu hơi sáng.
Lỗ sinh thực đực nằm tại phần nhô ra ở phần bụng của đốt thứ 18, phía ngoài được bao quanh bởi nhiều vòng cấu tạo từ những nếp nhăn cạn trên da, có 1 đến 2 dãy khối u nhỏ ở hai bên của phần trước, mỗi bên có khoảng 10 đến 20 cái, số lượng thay đổi. Lỗ nang thụ tinh gồm 2 đôi ở giữa đốt 7 đến 8/9, vòng sinh thực chiếm giữa các đốt 5 đến 11 hình đai yên ngựa. Thể chất nhẹ, dai, khó bẻ gãy. Mùi hôi khó chịu, vị hơi mặn [4].
Hồ địa long: Dài 8 cm đến 15 cm, rộng 0,5 cm đến 1,5 cm, toàn thân chia thành nhiều đốt. Phần lưng màu nâu đến nâu vàng phần bụng màu nâu vàng sáng, 3 đôi lỗ nang thụ tinh ở đốt 6/7 đến 8/9. Lỗ sinh thực cái ở đốt 14 đến 16, màu tương đối sáng. Một đôi lỗ sinh thực đực nằm ở đốt thứ 18.
Loài Pheretima vulgaris có lỗ sinh thực lộ ra hoàn toàn, có hình bông cải hoặc hình dương vật, loài Pheretima guillelmi chẻ theo chiều dọc, loài Pheretima pectinifera có một hay nhiều lỗ sinh thực đực với một hay nhiều nhú ở bên trong [4]. Bài thuốc Địa long là một dược liệu ứng dụng làm thuốc được lưu truyền trong gian gian từ rất lâu trước đây. Theo kinh nghiệm dân gian và y học cổ truyền thì toàn thân Địa long đều được sử dụng. Địa long được biết đến là vị thuốc chính trong bài thuốc nổi tiếng Thần dược cứu mệnh.
Bài thuốc có công thức: - Địa long: Người lớn và trẻ em từ 15-16 tuổi trở lên: 50g khô; Trẻ em từ 5-6 tuổi đến 13-14 tuổi: 30g khô; Trẻ em 1-2 tháng đến 4-5 tuổi: 20g khô. - Đậu đen: 100g - Đậu xanh: 100g 3 - Rau ngót: 200-300g Thuốc này thường chỉ dùng một thang cũng hết bệnh, nhưng thầy thuốc thường dùng ba thang, trong ba ngày (tối nước nhất, sáng nước nhì), hai tháng sau để trừ căn và trừ các di chứng như méo miệng, mắt xệch, cho nên khi uống thang thứ hai, thang thứ ba bệnh nhân đã tỉnh táo. Đơn thuốc này dùng chữa những trường hợp lục phủ ngũ tạng xuất huyết, não bộ xuất huyết, hôn mê bất tỉnh kéo dài nhiều ngày, phù thận, phù toàn thân, phù tim, đột ngột phát điên không rõ nguyên nhân (có sốt hoặc không sốt), bí đại tiểu tiện, bí trung tiện, khí hư bạch đới nặng và người gầy xanh xao[3]. Bên cạnh đó Địa long cũng được kết hợp trong bài thuốc Bổ dương hoàn ngũ thang [10]: • Công thức bài thuốc: Hoàng kỳ, Đương quy, Xích thượng, Địa long, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa.
• Bài thuốc kinh nghiệm được ghi trong bộ sách Y khoa - Y Lâm Cải Thác của Trung Quốc. Dùng trong các trường hợp bán thân bất toại, miệng và mắt méo lệch, không nói được, miệng sùi bọt mép, bí đại tiện, đi tiểu tiện nhiều lần. Ngoài ra còn nhiều bài thuốc có thành phần Địa long được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian như: • Nam Địa long (Địa long, Đậu đen, Đậu xanh và bồ ngót): Bài thuốc được dùng để điều trị động inh, viêm khớp và ung thư được giới thiệu theo kinh nghiệm của cụ Nguyễn An Định [9]. • Bài thuốc chữa bệnh sốt rét (Địa long: 1-2 con, phèn phi: 10g, tỏi: 20g): Địa long mổ bụng bỏ phân rửa sạch bằng rượu hoặc cồn, sấy khô; tỏi đập dập sao vàng, tất cả các vị tán bột + phèn phi - viên thành hoàn.
Uống 20g-30g/ngày chia 2 lần [12]. • Bài thuốc chữa bệnh chàm (Địa long tươi: 200g, đường trắng: 100g.): Địa long rửa sạch cho vào bát rồi thêm đường, khi đó Địa long sẽ chết, phần thịt trên thân của chúng chuyển thành chất lỏng. Bôi lên vết thương 2-3 lần/ngày [12]. Thành phần hóa học 1.
Protein Một số loại protein có hoạt tính Yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF) - bao gồm một loại protein gồm 3 loại chuỗi polypeptide alpha, beta và gamma tương tác với nhau để tạo thành protein [41]. Lysenin: Là một loại protein được sản xuất trong bạch cầu của giun đất [33]. Lysozyme: Là một enzym cắt liên kết -1–4 giữa N-acetylglucosamine và acid N- acetylmuramic của thành tế bào vi khuẩn Gram dương [32], [40]. 4 Protein liên kết kim loại Metallothionein là các protein phổ biến, có khả năng chịu nhiệt, bao gồm 70 acid amin với gần 30 thiol chứa cysteine giàu acid amin [32].
Calmodulin là một loại protein được xác định trong các tế bào não là protein liên kết với ion Ca2+ [32]. Các peptid kháng khuẩn Fetidin: Fetidin là glycoprotein được giải phóng bởi tế bào chloragocytes trong dịch chiết Địa long [32]. Lumbricucin, các hợp chất tương tự Lumbricin có trong dịch chiết giun đất [32]. Peptide Lumbricin là peptide tín hiệu [32].
Các protease Các protease có bản chất là protein. Giun đất sở hữu rất nhiều loại protease do sống ở nhiều môi trường sống khác nhau. Phụ thuộc vào chức năng mà có những loại protein như: glycosidase, lumbrokinase, catalases, collagenase, cholinesterase và superoxide dismutase,. Các acid amin Người ta đã nghiên cứu thấy trong giun đất có chứa nhiều acid amin cần thiết cho cơ thể như alanin, adenin, tyrosin, cholin, methionin, valin,…[2] Nghiên cứu của nhóm tác giả Tao-Fang Cheng và các cộng sự (năm 2020) đã chỉ ra Địa Long có 7 acid amin mới được phát hiện: lysine, Glutamic acid, p - Hydroxyphenylalanine, Leucine, Phenylalanine, Tryptophan, Glutamyl phenylalanine [20].
Các nucleotid Quảng Địa long chứa các nucleotid cần thiết cho quá trình trao đổi chất của con người, chẳng hạn như hypoxanthine, adenine, xanthine và guanine [38]. Các chất chuyển hóa Trong dịch chiết Địa long có các chất chuyển hóa như Lumbrifebrin, terestrolimbrolysin, eiseniapore [32], [41]. Một số hợp chất hữu cơ khác Tìm thấy trong dịch chiết giun đất có chứa: acid furan sulfonic, purin,. Cyclopeptide, sterol, phospholipid, carboxamide, este của các acid béo [20].
Trong dịch chiết giun đất, các nhà nghiên cứu phân tích được sự tồn tại của một số acid hữu cơ như: acid lauric, acid succinic, các acid béo,. Ngoài ra, dịch chiết giun đất còn chứa nhóm alkaloid [40], [41]. Tác dụng dược lý • Theo Y học cổ truyền Địa long là vị thuốc vị mặn, tính hàn, quy vào các kinh can, tỳ, phế, bàng quang [3], [8], [11]. Công năng: Thanh nhiệt, trấn kinh, thông kinh lạc, bình suyễn, lợi niệu [3], [8], [11].
Chủ trị [8], [11]: - Bình suyễn: Dùng trị hen suyễn khí quản có tiên lượng tốt. - Trấn kinh: Dùng khi sốt cao gây co giật, có thể phối hợp với câu đằng, bạch cương tằm. - Thông lạc, trị phong thấp tê đau, bán thân bất toại, phối hợp hoàng kỳ, đương quy, xích thược,. - Lợi niệu: dùng với chứng thấp nhiệt, tiểu tiện khó khăn.
- Giải độc tiêu viêm dùng trị thương hàn và sốt rét bụng kết. Giun đất rửa sạch, mổ rửa hết đất cát, cho đường trắng và ngâm lấy dịch tan ra bôi vào chỗ sưng bị quai bị. Còn dùng để chữa mụn nhọt, lở loét. - Bình can hạ áp: chữa cao huyết áp.
Kiêng kỵ: Những người thể hư hàn [11]. • Theo Y học hiện đại Nhiều thành phần trong dịch chiết Địa long có tác dụng phòng và điều trị bệnh đã được chứng minh. Cụ thể như: ➢ An thần, chống co giật: Dịch chiết Địa long ngâm nóng và cắn chiết ethanol có tác dụng an thần trên chuột và thỏ; đối kháng pentylenetetrazol, cafein và khích thích điện gây co giật nhưng không có tác dụng đối với co giật do strychnin gây ra [8], [17]. ➢ Hạ sốt, chống viêm Dịch chiết nước Địa long có tác dụng hạ sốt rõ rêt trên thỏ gây sốt thực nghiệm do nội độc tố E.coli và các tác nhân gây sốt khác, tác dụng yếu hơn so với aminopyrin.
Cơ chế tác dụng thông qua ảnh hưởng đến trung tâm điều nhiệt, làm tăng thải nhiệt. Thành phần có tác dụng hạ sốt là alcaloid, acid succunic và một số acid amin [8]. Năm 1915, hai tác giả người Nhật Bản (Điền Trung và Ngạch Đường) đã chứng minh chất chữa sốt trong giun đất là lumbriferin – một dẫn xuất của tyrosine [3].