Khóa luận tốt nghiệp ngành dược xây dựng quy trình định lượng berberin trong dược liệu vàng đắng coscinium fenestratum gaertn colebr bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao

Khóa luận tốt nghiệp ngành Dược trình bày quy trình định lượng berberin trong dược liệu vàng đắng bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.

Trường đại học

Đại học Võ Trường Toản

Chuyên ngành

Dược liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

62
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

2. PHẦN MỞ ĐẦU

3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.1. TỔNG QUAN VỀ CÂY VÀNG ĐẮNG

3.1.1. Vị trí phân loại

3.1.2. Thực vật học

3.1.3. Phân bố, sinh thái

3.1.4. Bộ phận dùng

3.1.5. Thu hái, chế biến

3.1.6. Thành phần hóa học loài Coscinium fenestratum (Gaertn.)

3.1.7. Tác dụng kháng khuẩn

4. PHẦN NỘI DUNG

4.1. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

4.1.2. TRANG THIẾT BỊ – DUNG MÔI – HÓA CHẤT

4.1.2.1. Dung môi, hóa chất
4.1.2.2. Trang thiết bị

4.1.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1.3.1. Mô tả đặc điểm cảm quan và soi bột dƣới kính hiển vi của bột thân rễ Vàng đắng
4.1.3.2. Xác định hàm lƣợng chất chiết đƣợc
4.1.3.3. Khảo sát các điều kiện định lƣợng berberin trong Vàng đắng bằng phƣơng pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
4.1.3.4. Thẩm định quy trình định lƣợng berberin bằng phƣơng pháp HPLC

4.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.2.1. KHẢO SÁT DƢỢC LIỆU VÀNG ĐẮNG

4.2.2. Xác định hàm lƣợng chất chiết đƣợc

4.2.3. KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN PH N TÍCH BERBERIN BẰNG PHƢƠNG PHÁP HPLC

4.2.3.1. Quy trình xử lý mẫu
4.2.3.2. Khảo sát thành phần pha động

4.2.4. X Y DỰNG VÀ THẨM ĐỊNH QUY TRÌNH ĐỊNH LƢỢNG BERBERIN BẰNG PHƢƠNG PHÁP HPLC

4.2.4.1. Khảo sát tính phù hợp hệ thống
4.2.4.2. Kết quả thẩm định quy trình

5. PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Berberin và Vàng đắng

Berberin là một alkaloid quan trọng được chiết xuất từ cây Vàng đắng (Coscinium fenestratum). Cây này không chỉ có giá trị dược liệu mà còn được biết đến với nhiều công dụng trong y học cổ truyền. Berberin có khả năng chống lại một số bệnh đường ruột, viêm kết mạc và có tác dụng hạ huyết áp. Nghiên cứu cho thấy, hàm lượng berberin trong Vàng đắng dao động từ 1,5% đến 3%. Việc xây dựng quy trình định lượng berberin là cần thiết để đảm bảo chất lượng dược liệu và đáp ứng nhu cầu sử dụng trong y học hiện đại.

1.1. Tầm quan trọng của Berberin

Berberin đã được chứng minh có nhiều tác dụng dược lý, bao gồm khả năng kháng khuẩn, chống viêm và điều trị bệnh tim mạch. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy berberin có thể giúp hạ đường huyết và bảo vệ gan. Điều này làm cho berberin trở thành một trong những hoạt chất được nghiên cứu nhiều nhất trong y học hiện đại. Việc định lượng chính xác hàm lượng berberin trong dược liệu Vàng đắng sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

II. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC

Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) là một trong những kỹ thuật phân tích hiện đại được sử dụng để định lượng berberin trong dược liệu. HPLC cho phép tách biệt các thành phần trong mẫu một cách nhanh chóng và chính xác. Quy trình này bao gồm các bước chuẩn bị mẫu, lựa chọn pha động và thẩm định quy trình. HPLC có ưu điểm vượt trội so với các phương pháp truyền thống như sắc ký lớp mỏng, nhờ vào độ nhạy và độ chính xác cao.

2.1. Quy trình thẩm định HPLC

Quy trình thẩm định HPLC bao gồm các bước khảo sát tính phù hợp của hệ thống, độ lặp lại và độ chính xác. Kết quả khảo sát cho thấy quy trình HPLC có độ lặp lại cao với độ lệch chuẩn tương đối (RSD) thấp. Điều này chứng tỏ rằng phương pháp HPLC là một công cụ đáng tin cậy để định lượng berberin trong dược liệu Vàng đắng. Việc thẩm định quy trình không chỉ đảm bảo tính chính xác mà còn giúp nâng cao chất lượng sản phẩm dược liệu.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy quy trình định lượng berberin bằng HPLC đạt được độ chính xác và độ nhạy cao. Hàm lượng berberin trong mẫu Vàng đắng được xác định là 2,5%, phù hợp với tiêu chuẩn dược liệu. Việc áp dụng quy trình này trong sản xuất dược phẩm sẽ giúp đảm bảo chất lượng và hiệu quả của sản phẩm. Hơn nữa, quy trình này có thể được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phát triển các sản phẩm từ dược liệu tự nhiên.

3.1. Ứng dụng trong sản xuất dược phẩm

Quy trình định lượng berberin không chỉ có giá trị trong nghiên cứu mà còn có ứng dụng thực tiễn trong sản xuất dược phẩm. Các nhà sản xuất có thể sử dụng quy trình này để kiểm soát chất lượng sản phẩm, đảm bảo hàm lượng berberin đạt yêu cầu. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả điều trị mà còn bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Hơn nữa, việc phát triển các sản phẩm từ Vàng đắng sẽ góp phần bảo tồn nguồn dược liệu quý giá này.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp ngành dược xây dựng quy trình định lượng berberin trong dược liệu vàng đắng coscinium fenestratum gaertn colebr bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong một bài phỏng vấn, GS. Nguyễn Liêm đã chia sẻ: “Cả đời tôi sƣớng nhất là tìm đƣợc cây Vàng đắng hồi năm 1974, tại đƣờng Trƣờng Sơn”. Ông còn làm bài thơ "Cây vàng đắng tại Trƣờng Sơn" để ghi lại kỷ niệm này: Tới trạm giao liên giáp Hạ Lào Lưng đèo dạo bước gió lao xao Bỗng đâu phát hiện cây Vàng đắng Lá trắng thân vàng hoạt chất cao … DS. Liêm đƣợc xem là ngƣời tiên phong trong việc thu thập và chiết xuất berberin từ cây Vàng đắng lúc bấy giờ, bởi trƣớc đó cả trong nƣớc và quốc tế chƣa có tác giả nào nói đến berberin trong cây này.

Từ lâu berberin là alkaloid đƣợc sử dụng làm thuốc phổ biến tại nhiều nƣớc trên thế giới và là một loại thuốc cổ điển có giá trị, berberin có khả năng phòng – chống đƣợc một số bệnh đƣờng ruột quan trọng nhƣ tả, lỵ trực tràng, viêm ruột … Ngày nay, ngoài công dụng chống tiêu chảy berberin còn đƣợc bào chế dƣới dạng thuốc nhỏ mắt là berberin chloride điều trị viêm kết mạc, đau mắt đỏ, đau mắt hột … Nó dần trở thành loại thuốc phổ biến đƣợc nhiều ngƣời mang theo bên mình và không thể thiếu trong tủ thuốc gia đình [7], [12]. Những nghiên cứu mới đã đƣợc thử nghiệm lâm sàng của các nƣớc châu Á nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản … cho thấy berberin đáp ứng tốt trong việc điều trị bệnh tim mạch, hạ huyết áp, chống loạn nhịp tim. Kế đến là công dụng chống sốt rét, bảo vệ gan, hạ đƣờng huyết và đặc biệt là chống oxy hóa [13], [23],[24], [26], [28], [29], [35], [39]. Ở nƣớc ta, berberin không chỉ đƣợc tìm thấy nhiều trong thân và rễ cây Vàng đắng Coscinium fenestratum (Gaertn.

với tỷ lệ khoảng từ 1,5 – 3% mà còn chứa nhiều trong Hoàng liên chân gà, Hoàng bá … Tuy nhiên, dƣợc liệu Vàng đắng vẫn đƣợc đánh giá cao vì dễ tìm và giá thành rẻ. 2 Với khuynh hƣớng trở về với thiên nhiên, ngày nay các hoạt chất có nguồn gốc từ thiên nhiên đƣợc các nhà nghiên cứu rất quan tâm. Với những ƣu điểm nổi trội, berberin ngày càng đƣợc sản xuất rộng rãi từ dƣợc liệu Vàng đắng, tuy nhiên vẫn chƣa có phƣơng pháp định lƣợng đảm bảo các tiêu chí nhanh gọn, chính xác, tiết kiệm nên với mong muốn góp phần giải quyết những bất cập trên và đảm bảo chất lƣợng cho dƣợc liệu Vàng đắng cũng nhƣ cho ngƣời sử dụng, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Xây dựng quy trình định lượng berberin trong dược liệu Vàng đắng bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao – HPLC” với mục tiêu cụ thể nhƣ sau:  Xây dựng và thẩm định quy trình định lƣợng berberin trong thân và rễ dƣợc liệu Vàng đắng bằng HPLC – PDA. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

TỔNG QUAN VỀ CÂY VÀNG ĐẮNG 2. Vị trí phân loại Tên Việt Nam: Vàng đắng. Tên khác: Vàng đằng, hoàng đằng lá trắng, loong t’rơn, dây mỏ vàng, dây nại cày, vàng giang. Tên nƣớc ngoài: False calumba, Ceylon calumba root, Turmeric tree (Anh).

Tên khoa học: Coscinium fenestratum (Gaertn. Tên đồng nghĩa: Coscinium usitatissimum Pierre. Thuộc họ: Tiết dê (Menispermaceae) [4], [8]. Theo hệ thống phân loại thực vật Takhtajan A.L (2009) Coscinium fenestratum (Gaertn.

có vị trí phân loại nhƣ sau [10]: Plantea (Giới thực vật) Ngành ngọc lan ( Magnoliophyta) Lớp ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp mao lƣơng (Ranunculidae) Liên bộ mao lƣơng (Ranunculanae) Bộ tiết dê (Menispermales) Họ tiết dê (Menispermaceae) Chi Coscinium Coscinium fenestratum (Gaertn. Thực vật học 2. Đặc điểm thực vật học họ Tiết dê Menispermaceae Cây đơn tính khác gốc, thân gỗ hoặc dây leo, hiếm khi cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ (trừ các loài mọc ở Australia). Rễ hình trụ, đầu thuôn nhọn, có khi phình thành củ (Stephania glabra (Roxb.), có nếp nhăn, không có gai, cắt ngang có những tia xuyên tâm.

Lá hình trứng hoặc hình tròn, ít khi dạng mác, mọc xen kẽ theo đƣờng xoắn ốc, không có lá kèm, phiến lá nguyên, không chia thùy, đôi khi chia thùy hình chân vịt. Cuống lá phình to ở đáy và đỉnh. Gân lá thƣờng giống lòng bàn tay, tuy nhiên ít xẻ hơn lông chim. Cụm hoa thƣờng mọc ở nách lá thành chùm xim, hiếm khi mọc đơn, có lá bắc, lá bắc thƣờng nhỏ (ngoại trừ chi Cocculus cái).

Hoa đơn tính, thƣờng nhỏ, không dễ thấy, có cuống nhỏ. Đài hoa: 6 xếp xoắn 2, 3 hoặc 4 vòng, hiếm khi giảm xuống 1. Thƣờng là 3 hoặc 6 cánh hoa trong 1 hoặc 2 vòng xoắn, hoặc không có cánh hoa. Nhị hoa: 6 – 8, riêng lẽ hoặc tập trung.

Nhị lép thỉnh thoảng xuất hiện ở hoa cái. Bao phấn có 1 hoặc 2 ngăn, rõ nhất là 4 ngăn, nứt theo chiều dọc hoặc ngang. Lá noãn: 1 – 6 có khi lên đến 30 (trừ các loài mọc ở Australia), thƣờng phình một bên. Quả hạch hay mọng nƣớc, thƣờng có hình móng ngựa, phôi cong.

Hạt thƣờng cong, đôi khi thẳng, có nội nhũ hoặc không [15], [22]. Dây kí ninh Củ Bình vôi Dây hoàng thanh (Tinospora crispa (L. Hooker & Thomson) (Lour.) Diels) 5 Dây mối Dây sâm lông (Stephania japonica (Thunb. (Cyclea peltata Hook.

& Thomson) discolor (Blume) Forman.) Nguồn: http://plantillustrations. Một số cây thuộc họ Tiết dê Menispermaceae. Đặc điểm thực vật loài Coscinium fenestratum (Gaertn. Dây leo to, có phân nhánh, mọc bò trên mặt đất hoặc leo lên những cây gỗ cao.

Thân hình trụ, đƣờng kính 5 – 10 cm. Thân non màu trắng bạc, cành non có lông, thân già màu ngà, xù xì, có vết tích của lá rụng. Cắt ngang thân có hình bánh xe với những tia tủy nhƣ nan hoa bánh xe, màu vàng, giữa có vòng lõi tủy xốp. Lá mọc so le, hình trứng, gốc tròn hay bằng, mặt trên xanh, nhẵn bóng, mặt dƣới màu trắng nhạt, có phủ lông tơ, dài 15 – 30 cm, rộng 10 – 20 cm, có 5 gân (3 gân nổi rõ).

Cuống lá dài 4 – 14 cm, dày lên ở hai đầu, dính vào bên trong phiến lá. Cụm hoa mọc ở kẽ những lá đã rụng thành chùm xim, dài 1 – 4 cm, hoa đơn tính, gần nhƣ không cuống; bao hoa có 6 phiến gần bằng nhau, hình mác, mặt ngoài có lông, 6 nhị xếp thành hai vòng và 6 nhị lép có lông. Hoa màu trắng phớt tím, cuống hoa ngắn. Rễ hình trụ, đầu thuôn hình nón, mặt ngoài màu trắng nhạt, mặt trong màu vàng, cắt ngang có hình bánh xe với những tia tủy hình nan hoa.

Quả hình cầu, đƣờng kính 2,0 – 2,5 cm, vỏ quả dày có lông mịn. 6 Mùa hoa quả: tháng 1 – 5 [4], [8]. Cây Vàng đắng và thân Vàng đắng. Phân bố, sinh thái Họ Tiết dê nằm trong bộ Ranunculales, theo hệ thống của Kessler (1993) thì họ này có chứa các đặc điểm tiến hoá cao của bộ.

Trong họ Menispermaceae có chứa các loài đặc hữu và là họ có giá trị rất lớn về dƣợc liệu, gần nhƣ tất cả các loài của họ này có chứa các hoạt chất alkaloid quan trọng. Trên thế giới họ Tiết dê (Menispermaceae) có khoảng 73 chi và 350 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới Châu Á và Châu Phi [5], [14], [20]. Chi Coscinium Colebr. có 5 loài trên thế giới đều là dạng dây leo gỗ, phân bố ở vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á.

Việt Nam chỉ có một loài là Vàng đắng. Cây phân bố từ Ấn Độ, Xrilanca đến Malaysia, Indonesia, Thái lan, Campuchia, Nam Lào và Việt Nam. Ở Việt Nam, Vàng đắng chỉ có ở các tỉnh phía nam từ Thừa Thiên – Huế trở vào. Kết quả điều tra nghiên cứu về cây Vàng đắng đã xác định cây bắt đầu phân bố từ 10o30’ (ở Châu Thành – Đồng Nai) đến 16o15’ vĩ tuyến Bắc (ở Phú Lộc – Thừa Thiên Huế).

Trong giới hạn này, đã thống kê đƣợc 140 xã – thị trấn thuộc 47 huyện, của 16 tỉnh có Vàng đắng (Nguyên Tập; 1984, 1988, 1996). Vàng đắng là cây ƣa sáng và chịu bóng khi còn nhỏ, cây thƣờng mọc trong các quần hệ rừng kín thƣờng xanh còn nguyên sinh hay đã trở nên thứ sinh do khai thác chọn lọc. Rừng có nhiều Vàng đắng thƣờng có tầng cây gỗ (sao, vên vên, xoay, ƣơi, de, gội, giáng hƣơng, thông nàng.) cao 15 – 30 m, tạo nên độ che phủ đến 70 – 80%. Tầng cây gỗ nhỏ, cây bụi và dây leo thƣờng không quá rậm rạp.

Do đặc tính hơi chịu bóng khi còn nhỏ, nên khi rừng bị phá làm nƣơng rẫy, những cây con tái sinh chồi không thể tồn tại. Đây là đặc điểm khác biệt của Vàng đắng so với một số loài dây leo khác nhƣ Hoàng đằng trong cùng họ Menispermaceae. Vàng đắng thuộc loại cây nhiệt đới tƣơng đối điển hình, ƣa khí hậu nóng và ẩm, nhiệt độ trung bình từ 23 đến 26 oC hoặc hơn, trong năm không có những tháng nhiệt độ trung bình xuống dƣới 20 oC. Cây 8 không thấy mọc ở vùng núi các tỉnh phía bắc, do nền khí hậu thiên về á nhiệt đới với mùa đông lạnh kéo dài.

Vàng đắng thƣờng mọc ở địa hình núi thấp và trung bình. Độ cao phân bố không vƣợt quá 800 m. Ở nơi có Vàng đắng mọc tập trung, độ cao này thƣờng từ 500 đến 600 m. Cây ƣa loại đất feralit đỏ – nâu trên bazan hoặc đất feralit đỏ – vàng phát triển trên granít có đá lộ đầu.

Những loại đất này thƣờng tơi xốp, thấm nƣớc tốt và pH trung tính, ít khi chua. Cây Vàng đắng có cây mang hoa đực và hoa cái riêng. Tỷ lệ cây mang hoa cái trong quần thể chỉ chiếm 10 – 30%. Cây có hoa, quả trong tự nhiên thƣờng không đồng đều và chỉ ở cây có đƣờng kính từ 3 cm trở lên.

Hoa đực mọc từ thân già hay cành đã rụng lá. Hoa cái có trên thân già, cành đã rụng lá hay vẫn còn mang lá. Hoa thụ phấn nhờ côn trùng hoặc gió. Mùa quả chín từ tháng 9 đến tháng 11, cá biệt có cây quả chín tồn tại đến đầu mùa hoa năm sau.

Cây tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Tuy nhiên, do quả chín vào mùa mƣa, nên dễ bị nƣớc lũ cuốn trôi. Trong đợt điều tra ở Trà My (Quảng Nam) năm 1983, trên diện tích khoảng 20 ha rừng có nhiều Vàng đắng, chúng tôi đã tính trung bình ở nơi đất bằng phẳng có 56,5 cây con cao dƣới 50 cm mọc từ hạt trong một hécta. Nơi đất dốc (10 – 20o) chỉ có 4,2 cây/ha.

Vàng đắng có khả năng mọc chồi tự nhiên rải rác quanh năm, song tập trung vào hai vụ chồi chính là xuân – hè (đầu mùa mƣa) từ tháng 3 đến tháng 5 và vụ hè – thu (cuối mùa mƣa): tháng 7 – 9. Chồi sinh trƣởng nhanh trong mùa mƣa ẩm, nhƣng ít khi phát triển trọn vẹn thành cành hoặc các nhánh leo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Xây dựng quy trình định lượng Berberin trong vàng đắng bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao" trình bày một phương pháp khoa học tiên tiến để xác định hàm lượng Berberin trong cây vàng đắng, một dược liệu quý trong y học cổ truyền. Bằng cách sử dụng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), nghiên cứu này không chỉ đảm bảo độ chính xác cao mà còn tối ưu hóa quy trình phân tích, giúp ứng dụng rộng rãi trong kiểm nghiệm dược liệu và sản xuất thuốc. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, dược sĩ và chuyên gia trong lĩnh vực dược liệu.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp sắc ký hiện đại, bạn có thể tham khảo Luận văn cải biến phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo RP HPLC xác định Lutein ứng dụng khảo sát quá trình xà phòng hoá Lutein Ester, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về ứng dụng HPLC trong phân tích các hợp chất hữu cơ. Ngoài ra, Đinh Minh Nhật xác định Ethylene Glycol và Diethylene Glycol trong thực phẩm bằng kĩ thuật sắc ký lỏng khối phổ là tài liệu tham khảo tuyệt vời để hiểu sâu hơn về kỹ thuật sắc ký lỏng khối phổ. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ xây dựng phương pháp định lượng Vildaglitin trong huyết tương người bằng sắc ký lỏng khối phổ sẽ giúp bạn khám phá thêm về ứng dụng của HPLC trong lĩnh vực dược phẩm.