Nghiên cứu đặc điểm điện não đồ và đa hình gen ở bệnh nhân tâm thần phân liệt

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích nghiên cứu đặc điểm điện não đồ và một số đa hình trên gen comt znf804a ở bệnh nhân tâm thần phân, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Khoa học Thần kinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

174
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Bệnh tâm thần phân liệt

1.2. Khái niệm về tâm thần phân liệt

1.3. Bệnh sinh tâm thần phân liệt

1.4. Điện não đồ ở người thường

1.5. Điện não đồ ở bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.6. Biến đổi gen ZNF804A, COMT trong bệnh tâm thần phân liệt

1.7. Gen ZNF804A và các đa hình trong bệnh tâm thần phân liệt

1.8. Gen COMT và các đa hình trong bệnh tâm thần phân liệt

1.9. Nghiên cứu điện não và gen trong tâm thần phân liệt ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Phân nhóm nghiên cứu

2.8. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.9. Thiết bị và vật liệu nghiên cứu

2.10. Phương pháp nghiên cứu lâm sàng tâm thần phân liệt

2.11. Phương pháp nghiên cứu điện não đồ

2.12. Phương pháp nghiên cứu đa hình gen

2.13. Xử lý số liệu

2.14. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm các rối loạn tâm thần ở bệnh nhân tâm thần phân liệt

3.3. Tiền sử bản thân và gia đình

3.4. Các rối loạn khác

3.5. Điện não đồ ở bệnh nhân tâm thần phân liệt

3.6. Năng lượng điện não đồ

3.7. Tần số điện não đồ

3.8. Mối liên quan năng lượng và lâm sàng

3.9. Mối liên quan biên độ và lâm sàng

3.10. Mối liên quan tần số và lâm sàng

3.11. Đặc điểm đa hình của gen COMT, ZNF804A của đối tượng nghiên cứu

3.12. Đặc điểm đa hình rs1344706 của gen ZNF804A

3.13. Đặc điểm đa hình rs165599 gen COMT

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Tuổi và giới tính của đối tượng nghiên cứu

4.3. Tiền sử gia đình và bản thân của bệnh nhân

4.4. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.5. Đặc điểm ảo giác của đối tượng nghiên cứu

4.6. Đặc điểm hoang tưởng của đối tượng nghiên cứu

4.7. Đặc điểm về rối loạn cảm xúc

4.8. Đặc điểm về rối loạn hoạt động

4.9. Đặc điểm về các triệu chứng âm tính của đối tượng nghiên cứu

4.10. Điện não đồ trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

4.11. Biến đổi năng lượng các sóng điện não đồ

4.12. Biến đổi biên độ các sóng trên điện não đồ

4.13. Sự biến đổi tần số các sóng trên điện não đồ

4.14. Mối liên quan giữa lâm sàng và điện não đồ

4.15. Đa hình của gen ZNF804A, COMT trong bệnh tâm thần phân liệt

4.16. Đa hình rs1344706 gen ZNF804A trong bệnh tâm thần phân liệt

4.17. Đa hình rs165599 gen COMT trong bệnh tâm thần phân liệt

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh tâm thần phân liệt

Bệnh tâm thần phân liệt (tâm thần phân liệt) là một rối loạn tâm thần nghiêm trọng, với các triệu chứng như hoang tưởng, ảo giác và rối loạn cảm xúc. Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh này ở Việt Nam dao động từ 0,3-0,8%. Nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa di truyền và bệnh tâm thần phân liệt, với tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở những người có người thân mắc bệnh. Tuy nhiên, không có một gen đơn lẻ nào được xác định là nguyên nhân duy nhất gây ra bệnh. Các yếu tố môi trường cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh. Nghiên cứu về các gen như COMTZNF804A đã chỉ ra rằng những gen này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh tâm thần phân liệt.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh

Bệnh tâm thần phân liệt có nhiều triệu chứng lâm sàng đa dạng, bao gồm các triệu chứng dương tính như hoang tưởng và ảo giác, cũng như các triệu chứng âm tính như cảm xúc cùn mòn và suy giảm khả năng giao tiếp. Các triệu chứng này có thể thay đổi theo thời gian và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng sự phát triển của bệnh thường bắt đầu ở độ tuổi thanh niên và có thể kéo dài suốt đời, gây ra gánh nặng cho gia đình và xã hội.

II. Nghiên cứu điện não đồ và gen

Nghiên cứu điện não đồ (điện não đồ) đã chỉ ra rằng có sự khác biệt rõ rệt trong hoạt động điện não giữa bệnh nhân tâm thần phân liệt và người khỏe mạnh. Các chỉ số như năng lượng và tần số sóng điện não có thể liên quan đến các triệu chứng lâm sàng của bệnh. Việc phân tích gen COMTZNF804A cũng cho thấy sự biến đổi trong các đa hình gen này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng đa hình đơn nucleotid (SNP) có thể liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt.

2.1. Phân tích gen COMT và ZNF804A

Gen COMTZNF804A đã được nghiên cứu rộng rãi trong bối cảnh bệnh tâm thần phân liệt. Đặc biệt, đa hình rs1344706 của gen ZNF804A và rs165599 của gen COMT đã cho thấy mối liên quan với các triệu chứng lâm sàng. Nghiên cứu cho thấy rằng những bệnh nhân mang các kiểu gen nhất định có thể có nguy cơ cao hơn trong việc phát triển các triệu chứng của bệnh. Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc hiểu rõ hơn về cơ chế di truyền của bệnh.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về điện não đồ và đa hình gen trong bệnh tâm thần phân liệt không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh mà còn có thể hỗ trợ trong việc chẩn đoán và điều trị. Việc xác định các yếu tố di truyền có thể giúp phát hiện sớm và can thiệp kịp thời cho những người có nguy cơ cao. Hơn nữa, các phương pháp nghiên cứu hiện đại như điện não đồ định lượng và giải trình tự gen có thể cung cấp thông tin quý giá cho các nhà nghiên cứu và bác sĩ trong việc phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

3.1. Ứng dụng trong lâm sàng

Kết quả từ nghiên cứu có thể được áp dụng trong lâm sàng để cải thiện quy trình chẩn đoán và điều trị bệnh tâm thần phân liệt. Việc hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa hoạt động điện não và các yếu tố di truyền có thể giúp các bác sĩ đưa ra các phương pháp điều trị cá nhân hóa, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh tâm thần phân liệt 1. Khái niệm về tâm thần phân liệt Thuật ngữ “Schizophrenia” gọi là tâm thần phân liệt (TTPL) bắt nguồn từ chữ Hy Lạp “Schizo” có nghĩa là chia tách, phân rời và “phrenia” có nghĩa là tâm hồn, TTPL là một nhóm bệnh có bệnh sinh khác nhau. Đây là một bệnh loạn thần nặng tiến triển từ từ, có khuynh hướng mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm cho người bệnh dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm trở nên khô lạnh dần, khả năng làm việc, học tập ngày càng sút kém, có những hành vi, ý nghĩ kỳ dị, khó hiểu [3], [4].

Bệnh TTPL có các rối loạn đặc trưng như: rối loạn tư duy, rối loạn cảm xúc và hành vi. Các triệu chứng này gồm nhóm các triệu chứng dương tính như: hoang tưởng, ảo giác, căng trương lực; và các triệu chứng âm tính như: cảm xúc cùn mòn, vô cảm, thu hẹp quan hệ xã hội, thu mình, suy giảm thích thú, tư duy và ngôn ngữ nghèo nàn [5]. Theo Bùi Quang Huy (2011), TTPL là mô ̣t bê ̣nh tâm thần nă ̣ng với các triê ̣u chứng lâm sàng rất đa dạng. Tổn thương của bê ̣nh thể hiê ̣n ở nhâ ̣n thức, tri giác, tư duy, cảm xúc, hành vi…Các triệu chứng của bệnh có thể khác nhau ở các bệnh nhân và chúng thay đổi theo thời gian, nhưng tác động của bệnh đối với bệnh nhân thường là nghiêm trọng và kéo dài.

Bệnh thường bắt đầu ở tuổi 25 và kéo dài suốt đời, gặp ở mọi tầng lớp xã hội. Bệnh nhân dần trở thành gánh nặng cho gia đình và cho xã hội [3]. Đa số các nhà tâm thần học đều thống nhất rằng: bản chất của bệnh TTPL là sự chia cắt tính thống nhất hoạt động tâm thần, gây rối loạn các chức năng tâm thần. Quá trình tiến triển mạn tính của bệnh dẫn đến sự biến đổi nhân cách người bệnh theo kiểu phân liệt: thiếu hoà hợp, tự kỷ, tư duy nghèo luan an 4 nàn, cảm xúc cùn mòn, trí tuệ sa sút, hành vi lập dị thụ động… 1.

Bệnh sinh tâm thần phân liệt 1. Vai trò của di truyền * Nghiên cứu về gia đình bệnh nhân Có nhiều bằng chứng đáng tin cậy cho thấy có vai trò rõ ràng của gen di truyền trong bệnh TTPL [1], [3], [6]. Những người họ hàng bậc 1 của bệnh nhân TTPL (bố, mẹ, anh, chị em và con) có tỷ lệ cùng bị bệnh này rất cao. Còn những người họ hàng bậc 2 (cô, dì, chú, bác, ông, bà và cháu) của bệnh nhân có tỷ lệ cùng bị TTPL giảm đi nhiều.

Tuy nhiên, tỷ lệ cùng bị bệnh TTPL ở các cặp sinh đôi cùng trứng chỉ từ 40-50% mặc dù họ có bộ gen di truyền giống hệt nhau [1], [7], [17]. Điều này chỉ ra rằng gen di truyền không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra TTPL. Người ta tin rằng hiện nay có một số gen góp phần gây ra bệnh TTPL, nhưng những gen bệnh này cần phối hợp với các yếu tố khác mới gây ra bệnh TTPL [1], [8], [9], [10], [11], [17], [19]. Các yếu tố môi trường không thuận lợi là các biến cố trong quá trình mang thai của phụ nữ, trẻ em sống trong môi trường căng thẳng.

Khi một người mang một lượng gen bệnh đủ lớn, kết hợp với yếu tố môi trường bất lợi nêu trên, họ có thể bị bệnh TTPL. Còn người có ít gen bệnh hơn, nếu tiếp xúc với các yếu tố môi trường không thuận lợi, vẫn có thể vượt qua mà không bị TTPL [1], [17]. Người ta không tìm thấy một gen đơn lẻ nào có khả năng gây ra bệnh TTPL. Nguy cơ mắc bệnh TTPL liên quan với các gen ở nhiều nhiễm sắc thể [3], [12], [15], [16], [17], [19].

Tuy vai trò gây bệnh của mỗi một gen di truyền là tương đối nhỏ, nhưng với một nhóm gen bệnh đủ lớn thì nguy gây bệnh TTPL là rất cao. Nghiên cứu di truyền mức độ phân tử sử dụng các phương pháp mới để xác định trình tự gen trên người nói chung và gen trong nhiều bệnh, gồm cả TTPL. Phương pháp đầu tiên dựa trên ADN là phân tích liên kết, nhằm phát luan an 5 hiện các vùng trong bộ gen ở các mẫu của các gia đình bị bệnh và các cặp anh chị em mà không xác định biến đổi của alen cụ thể. Các nghiên cứu di truyền phân tử trong TTPL tiếp sau là giải pháp “gen ứng viên”, với thiết kế bệnh- chứng để tìm hiểu các gen có khả năng gây mắc bệnh.

Giải pháp này dựa trên phát hiện từ phân tích liên kết dựa theo vị trí hoặc chức năng (ví dụ: các gen mã hóa các protein liên quan chất dẫn truyền thần kinh dopamin hay serotonin). Hiện đuợc biết có tới trên 1000 gen ứng viên, với một số được quan tâm nhiều trong số đó như C4, PRODH, GRM3, DISC1, ZNF804A, COMT. được đề cập tới ở đây [3], [9], [10], [11], [12], [15], [16], [17], [19], [37], trong đó quan tâm chủ yếu về đa hình đơn nucleotid ở các gen này. Đa hình đơn nucleotid (single nucleotide polymorphism, SNP) (sau đây gọi tắt là đa hình) là loại biến đổi di truyền phổ biến nhất ở người.

Mỗi đa hình đại diện cho một sự khác biệt ở một nucleotid (đơn vị cơ sở trên ADN). Ví dụ, một đa hình có thể thay thế cho nucleotid cytosin (C) bằng nucleotid thyamin (T) ở một chuỗi ADN [9], [10], [11]. * Các nghiên cứu về một số gen bệnh Đầu tiên nói về gen Component 4 (C4): gen có hai vị trí alen gần nhau gọi là C4A, C4B và được nghiên cứu nhiều nhất những năm gần đây. Năm 1985, Rudduck và CS.

nghiên cứu gen C4 ở 165 bệnh nhân TTPL và 330 người khỏe mạnh thấy có sự biến đổi về alen và kiểu gen ở C4B trong số những bệnh nhân TTPL so với nhóm chứng. Để khẳng định vai trò quan trọng của gen C4 trong cơ chế bệnh sinh TTPL thì Sekar và CS. Khi nghiên cứu về gen Proline dehydrogenase (PRODH) thì Ota và CS. (2014) chỉ ra rằng đa hình rs2904552 liên quan với TTPL, mối liên quan này luan an 6 thể hiện ở tần suất alen G (p=0,002) và kiểu gen GG (p=0,048) khi phân tích trên 12 đa hình của gen PRODH ở 192 bệnh nhân TTPL và 179 người khỏe mạnh.

Đồng thời tác giả cũng khẳng định gen PRODH làm thay đổi chức năng của vỏ não ở bệnh nhân TTPL [11]. Còn Guo và CS. Với gen Glutamate receptor metabotropic 3 (GRM3) thì Fujii và CS. Theo Bishop và CS.

(2011) khi nghiên cứu 95 bệnh nhân TTPL thì thấy đa hình rs1989796 và rs1476455 của gen GRM3 có liên quan đến các triệu chứng loạn thần thông qua thang điểm đánh giá loạn thần ngắn. Đối với alen C của đa hình rs1476455 có điểm số về đánh giá loạn thần ngắn cao hơn đáng kể so với người mang alen A (55,1 ± 10,4 so với 48,3±9,2; F=7,6; p=0,0071). Ngoài ra với alen C của đa hình rs1989796 có điểm số về đánh giá loạn thần ngắn cao hơn đáng kể so với người mang alen T (50,1±5,7 so với 55,8±10,5; F=7,1; p=0,0091). Điều này cũng được khẳng định bởi Saini và CS.

Một gen nữa cũng được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới tập trung phân tích đó là gen Disrupted-in-schizophrenia-1 (DISC1), gen này được nhận diện toàn diện có liên quan đến TTPL trong nghiên cứu di truyền học ở người Scotland với 2 đa hình rs751229 và rs 3738401 [16]. Gen DISC1 ở người Châu Á là mối quan tâm lớn nhất của các nhà nghiên cứu, theo Kim và CS. (2008) khẳng định vai trò của đa hình rs821616 ở 303 bệnh nhân luan an 7 TTPL và 300 người khỏe mạnh Hàn Quốc với p=0,015. Sau đó Norlelawati và CS.

(2015) khi nghiên cứu vai trò của rs4658971, rs1538979 và rs2509382 ở vị trí 11q14.3 của DISC1 ở 225 bệnh nhân TTPL và 350 người khỏe mạnh thuộc dân tộc Mã Lai, tác giả thấy đa hình rs4658971 (p=0,030; OR=1,43) và đa hình rs1538979 (p=0,036; OR=1,35) có liên quan với TTPL; khi tìm mối liên quan của đa hình với giới tính thì tác giả thấy rằng đa hình rs2509382 liên quan mật thiết với nam giới ở TTPL (p=0,0082; OR=2,16) [17], [18]. Rối loạn các chất dẫn truyền thần kinh trung ương * Dopamin Trong số các giả thuyết hiện đại về TTPL, giả thuyết nhận được nhiều thời gian và công sức nhất chính là giả thuyết về dopamin. Kaplan (2007) đã cho rằng TTPL là hậu quả của hiện tượng tăng nồng độ dopamin ở khe synap của các tế bào thần kinh hệ dopamin ở não. Mặt khác, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh được sự tăng hoạt động của các thụ cảm thể dopamin ở não mà rõ ràng nhất là tăng hoạt động các thụ cảm thể dopamin D2 ở não [19].

Một bằng chứng gián tiếp về tăng hoạt động của các thụ cảm thể dopamin trong TTPL là hiệu quả điều trị TTPL của thuốc an thần kinh. Các thuốc này có tác dụng điều trị TTPL do tác dụng ức chế các thụ thể dopamin D2. Hiệu lực của thuốc phụ thuộc khả năng tác động của thuốc trên thụ cảm thể D2. Frankle và CS.

Phân tích tổng hợp của Howes và CS. luan an 8 * Seretonin Giả thuyết serotonin trong TTPL xuất phát từ những nghiên cứu sớm về tương tác giữa chất gây ảo giác D-lysergic acid diethylamide và serotonin ở các hệ thống ngoại vi. Các nghiên cứu gần đây cho thấy hai nhóm gây ảo giác tâm thần-indoleamin (như D-lysergic acid diethylamide) và phenethylamin (như mescaline) tạo tác dụng trung ương qua tác động lên các thụ thể serotonin. Các dấu hiệu mạnh mẽ nhất chứng tỏ rằng serotonin đóng một vai trò trong TTPL là hiệu quả của thuốc chống loạn thần không điển hình mới đối kháng serotonin, có tác dụng làm giảm triệu chứng dương tính ở bệnh nhân TTPL tốt hơn so với thuốc đối kháng dopamin [1].

Khi tổng hợp 50 nghiên cứu trên 8 thụ cảm thể serotonin khác nhau ở 684 bệnh nhân TTPL và 675 người khỏe mạnh, Selvaraj và CS. (2014) cho thấy các thụ thể tăng là 5-HT1A vùng trán trước tăng (85 bệnh nhân và 94 người khỏe mạnh) và thụ thể 5-HT2A vùng trán trước (168 bệnh nhân và 163 người khỏe mạnh) trong TTPL so với chứng. Tác giả kết luận rằng rối loạn chức năng hệ serotonergic có vai trò quan trọng trong sinh lý bệnh của TTPL [22]. Những năm gần đây các nghiên cứu về serotonin càng được chú trọng, nghiên cứu Lowe và CS.

Như vậy, rối loạn serotonin là một nguyên nhân dẫn đến bệnh TTPL, nhưng thể hiện qua tương tác serotonin-dopamin trong não bộ của bệnh nhân TTPL.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu đặc điểm điện não đồ và đa hình gen ở bệnh nhân tâm thần phân liệt" của tác giả Đinh Việt Hùng, dưới sự hướng dẫn của PTS. Trần Hải Anh và GS. Cao Tiến Đức, được thực hiện tại Học viện Quân y, tập trung vào việc phân tích các đặc điểm điện não đồ và đa hình gen COMT, ZNF804A ở bệnh nhân tâm thần phân liệt. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế sinh học của bệnh mà còn mở ra hướng đi mới trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh tâm thần phân liệt, từ đó giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tâm thần và các nghiên cứu trong lĩnh vực y học, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu, nơi khám phá mối liên hệ giữa rượu và các rối loạn tâm thần, và Nghiên cứu lâm sàng viêm thận lupus ở trẻ em và mô bệnh học, một nghiên cứu về các bệnh lý tự miễn có thể ảnh hưởng đến tâm thần. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan.