LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Dịch vụ hệ sinh thái là các lợi ích mà hệ sinh thái mạng lại cho con người như: Hệ sinh thái rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua làm giảm đáng kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do che phủ của tán rừng là rất lớn so với các loại hình sử dụng đất khác, đặc biệt là vai trò hết sức quan trọng của rừng trong việc duy trì chu trình cacbon trên trái đất mà nhờ đó nó có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ lượng lớn cacbon trong khí quyển. Vì thế sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tượng ấm lên toàn cầu và ổn định khí hậu.
Hệ sinh thái rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất, ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì. Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ. Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến: rừng tốt tạo ra đất tốt và đất tốt nuôi lại rừng tốt. Hệ sinh thái rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn: Rừng có vai trò điều hòa nguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lượng nước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm.
Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa). h 2 Ngoài ra hệ sinh thái rừng cung cấp một sản lượng lớn lâm sản, lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu của người tiêu dung như: gỗ, tre, nứa, dược liệu… Chính con người cũng là tác nhân sử dụng không hợp lý, không những không thu được hiệu quả cung cấp cao nhất và bền vững nhất của rừng, mà tại nhiều nơi, nhiều lúc còn hủy hoại rừng, gây ra các tổn thất không lường trước do vô trách nhiệm hoặc kém hiểu biết về rừng tự nhiên. Đó chính là nội dung cần bàn luận xem theo tiêu chuẩn đáp ứng cao nhất cho con người về vật chất và dịch vụ thì việc ứng xử với rừng tự nhiên như thế nào là bền vững và hiệu quả nhất, từ đó từng bước sửa đổi các quy định liên quan trong hệ thống pháp luật quản lý, bảo vệ rừng. Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: ”Nghiên cứu xác định các loại dịch vụ hệ sinh thái rừng tự nhiên tại xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Mục tiêu Xác định dịch vụ cung ứng, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hấp thụ carbon của hệ sinh thái rừng tự nhiên tại xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn và phát triển rừng tự nhiên tại xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Ý nghĩa khoa học và thực tiến Ý nghĩa khoa học Làm cơ sở lý luận khoa học cho việc bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá độ ổn định của hệ sinh thái rừng đối với sự phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội. Làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững trên địa bàn.
h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở nghiên cứu Rừng tự nhiên (RTN) là một kiểu rừng mà thiên nhiên chọn lọc lâu đời và ban tặng cho loài người, cùng tồn tại và phát triển trên trái đất này. Do được chọn lọc tự nhiên, mà tự nhiên là hoàn cảnh sống có nhiều biến đổi trong suốt cả thời gian dài hàng nghìn hàng triệu năm, mà mỗi giai đoạn này lại có sự ổn định tương đối của hoàn cảnh sống (khí hậu, đất đai) đã tạo ra các hệ sinh thái rừng phù hợp nhất phân bố tại các hoàn cảnh thích ứng khác nhau. Con người là chủ trái đất đã từng quản lý sử dụng rừng sao cho đạt được các mong muốn mà rừng có khả năng cung cấp tốt nhất cho mình, song trong quá khứ và cả một số trường hợp hiện nay.
Mối quan hệ giữa dịch vụ hệ sinh thái rừng tự nhiên đối với con người và sự phát triển kinh tế - xã hội. Mối quan hệ giữa hệ sinh thái rừng tự nhiên (HST RTN ) và các dịch vụ của chúng với con người hay sự phát triển kinh tế rất đa dạng và phức tạp. hơn nứa mối quan hệ này cũng biến đổi theo thời gian. Trong quá trình tương tác với tự nhiên, các hoạt động của con người luôn tạo ra những kết quả theo dự tính, những hệ quả không mong muốn, và rât nhiều hệ quả không móng muốn này lại rất có hại cho chính sự phát triển kinh tế.
Chức năng cung cấp của HST RTN cung cấp những hàng hóa và dịch vụ đảm bảo duy trì sư phát triển kinh tế ở những khía cạnh khác nhau. Nếu như các HST RTN không không cung cấp các loài lâm sản ngoài gỗ, nước sạch, thực phẩm … cho con người thì sẽ gây ra những tác động xấu dối với sự phát triển tinh tế xã hội. h 4 Chức năng điều tiết của HST RTN cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội cảu con người theo những cách khác nhau. Sự điều tiết cảu các HST RTN có thể thấy ở quá trình lọc và điều tiết nguồn nước, giảm lũ lụt là hạn hán, ổn định khí hậu,… những biến đổi trong chức năng điều tiết của các HST RTN sẽ đưa đến những tác động đối với sức khỏe con người cũng như các yếu tố khác của sự phát triển kinh tế xã hội.
Để khai trác bền vững các dịch vụ HST RTN nhằm làm cho sự phát triển theo đó cũng trở nên bền vững, yêu cầu trước hết là phải hiểu được đầy đủ về mối quan hệ giứa những hoạt động của con người, các biến đổi của HST RTN và sự phát triển ở cả quay mô ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Việc quả lý tốt các dịch vụ HST RTN còn phụ thuộc nhiều vào thể chế hiện hành và trọng tâm quản lý là hướng vào việc đáp ứng nhu cầu của con người. Những nghiên cứu trên Thế giới Các dịch vụ hệ sinh thái là các chức năng và dịch vụ được cung cấp bởi các hệ sinh thái cho phép sự sống trên trái đất tồn tại. Trong ngữ cảnh này, cuộc sống không chỉ liên quan đến con người, mà cả hệ thực vật và động vật.
Trong số rất nhiều dịch vụ hệ sinh thái, một số dịch vụ đóng vai trò quan trọng để duy trì cuộc sống trên trái đất hơn những dịch vụ khác. Theo Daily (1997) [7], có tối thiểu 13 chức năng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái và những dịch vụ đó là cần thiết. Có thể liệt kê các dịch vụ hệ sinh thái bao gồm: Thanh lọc không khí và nước, Thụ phấn cho cây trồng và thảm thực vật tự nhiên, Kiểm soát phần lớn các dịch hại nông nghiệp tiềm ẩn, Giảm nhẹ lũ lụt và hạn hán, Giải độc và phân hủy chất thải, Bảo vệ khỏi các tia cực tím có hại của mặt trời, Ổn định một phần khí hậu, Hình thành và tái tạo đất và độ màu mỡ của đất, Phân tán hạt và dịch chuyển chất dinh dưỡng, Duy trì đa dạng sinh học (từ đó nhân loại có thể khai thác phục vụ cho phát triển nông nghiệp, dược liệu và công nghiệp), Kiểm soát nhiệt độ cực đoan và hạn chế tác động h 5 của gió và sóng, Hỗ trợ nền văn hoá đa dạng của con người, Cung cấp vẻ đẹp thẩm mỹ và sự kích thích trí tuệ, nâng cao tinh thần con người (Daily, 1997) [7]. Costanza và cộng sự (1997) [6], đã liệt kê một danh sách tương tự bao gồm 17 chức năng cơ bản và dịch vụ được coi là cần thiết tối thiểu để duy trì sự sống trên trái đất: Chu trình dinh dưỡng, Hình thành đất, Điều hòa không khí, Nguyên vật liệu, Cung cấp thực phẩm, Sinh cảnh sống và cư trú, Văn hoá, Giải trí, Tài nguyên nguồn gen/di truyền, Cung cấp nước, Điều hòa chế độ nước, Cân bằng các xáo trộn, Kiểm soát sinh học, Thụ phấn, Xử lý chất thải, Điều hòa khí hậu, Kiểm soát xói mòn và giữ trầm tích (Costanza và cộng sự, 1997) [6].
Theo de Groot và cộng sự (2002) [9], danh sách các chức năng dịch vụ hệ sinh thái bao gồm: điều hòa không khí, điều tiết khí hậu, ngăn ngừa xáo trộn, điều tiết nước, cung cấp nước, giữ đất, hình thành đất, điều chỉnh dinh dưỡng, xử lý nước, thụ phấn, kiểm soát sinh học, chức năng nơi cơ trú, chức năng vườn ươm, tài nguyên di truyền, thông tin về thẩm mỹ, giải trí, thông tin văn hoá nghệ thuật, thông tin tinh thần và lịch sử, khoa học và giáo dục. Danh sách chức năng dịch vụ hệ sinh thái có thể được hiểu dễ dàng hơn nếu nó được phân loại thành các nhóm. Trong cuốn Đánh giá thiên niên kỷ về hệ sinh thái (2005) đã chia các dịch vụ hệ sinh thái thành bốn nhóm: hỗ trợ, cung cấp, điều chỉnh và các dịch vụ văn hoá. Theo định nghĩa của họ, các dịch vụ hỗ trợ là cần thiết cho việc sản xuất của các dịch vụ hệ sinh thái và bao gồm chu trình dinh dưỡng và sự hình thành đất.
Dịch vụ cung cấp là lợi ích mà hệ sinh thái cung cấp cho người dân và bao gồm thực phẩm, nguồn gen, nước và các hợp chất sinh học. Các dịch vụ điều tiết cung cấp cho mọi người những lợi ích như điều tiết lũ lụt và giải độc từ việc điều chỉnh các quá trình trong hệ sinh thái. Các dịch vụ văn hoá bao gồm tất cả các lợi ích phi vật h 6 chất thu được từ các hệ sinh thái và có thể bao gồm giải trí, tinh thần và giáo dục (Millennium Ecosystem Assessment, 2005 [11]). Tương tự như Đánh giá thiên niên kỷ về hệ sinh thái, de Groot et al.
(2002) [9], cũng chia dịch vụ hệ sinh thái thành bốn loại: điều tiết, môi trường sống, sản xuất và thông tin. Họ định nghĩa nhóm điều tiết tương tự như trong cuốn Đánh giá thiên niên kỷ về hệ sinh thái.