Nghiên cứu đặc điểm di căn hạch và kết quả điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng tại bệnh viện K

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm di căn hạch và hiệu quả phẫu thuật ung thư trực tràng tại Bệnh viện K, cung cấp thông tin chuyên sâu về điều trị bệnh.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ung thư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2017

174
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu trực tràng

1.2. Hình thể ngoài

1.3. Hình thể trong

1.4. Liên quan định khu

1.5. Mạc treo trực tràng

1.6. Mạch máu của trực tràng

1.7. Bạch huyết của trực tràng

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Phương pháp tiến hành

2.6. Xử lý số liệu

2.7. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm di căn hạch và một số yếu tố nguy cơ

3.3. Đặc điểm di căn hạch qua lâm sàng, cận lâm sàng

3.4. Một số yếu tố nguy cơ di căn hạch

3.5. Kết quả điều trị của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

3.6. Kết quả sớm

3.7. Kết quả xa

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm di căn hạch và một số yếu tố nguy cơ

4.3. Đặc điểm di căn hạch qua lâm sàng, cận lâm sàng

4.4. Một số yếu tố nguy cơ di căn hạch

4.5. Kết quả điều trị và một số yếu tố tiên lượng

4.6. Kết quả sớm

4.7. Kết quả xa

MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. DANH MỤC BẢNG

2. DANH MỤC BIỂU ĐỒ

3. DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Nghiên cứu di căn hạch

Nghiên cứu di căn hạch là trọng tâm của luận án, tập trung vào việc phân tích đặc điểm và các yếu tố nguy cơ liên quan đến di căn hạch trong ung thư trực tràng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, di căn hạch là yếu tố tiên lượng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị. Các phương pháp chẩn đoán và đánh giá di căn hạch, bao gồm hóa mô miễn dịch, được sử dụng để phát hiện các ổ di căn nhỏ mà kỹ thuật hiển vi thông thường không thể phát hiện được. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vét hạch tối thiểu 12 hạch để đảm bảo đánh giá chính xác giai đoạn bệnh.

1.1. Đặc điểm di căn hạch

Đặc điểm di căn hạch được phân tích dựa trên các yếu tố như vị trí, kích thước khối u, và mức độ xâm lấn. Nghiên cứu cho thấy, ung thư trực tràng càng thấp thì tỷ lệ di căn hạch càng cao. Các yếu tố nguy cơ bao gồm kích thước khối u lớn, xâm lấn sâu vào thành trực tràng, và nồng độ CEA cao trước mổ. Việc sử dụng phương pháp phẫu thuật cắt bỏ mạc treo trực tràng (TME) giúp tăng khả năng phát hiện hạch di căn.

1.2. Yếu tố nguy cơ di căn hạch

Các yếu tố nguy cơ di căn hạch được xác định bao gồm tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh, và đặc điểm mô bệnh học. Nghiên cứu chỉ ra rằng, bệnh nhân có khối u lớn hơn 5 cm và xâm lấn sâu vào thành trực tràng có nguy cơ di căn hạch cao hơn. Ngoài ra, nồng độ CEA cao trước mổ cũng là yếu tố tiên lượng quan trọng.

II. Phẫu thuật ung thư trực tràng

Phẫu thuật ung thư trực tràng là phương pháp điều trị chính được nghiên cứu tại Bệnh viện K. Nghiên cứu tập trung vào các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại như cắt bỏ mạc treo trực tràng (TME), giúp loại bỏ toàn bộ khối u và các hạch di căn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện phẫu thuật đúng kỹ thuật và vét hạch đầy đủ giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống thêm của bệnh nhân.

2.1. Phương pháp phẫu thuật

Phương pháp phẫu thuật được áp dụng bao gồm phẫu thuật mở và phẫu thuật nội soi. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cắt bỏ mạc treo trực tràng (TME) trong điều trị ung thư trực tràng. Kỹ thuật này giúp loại bỏ toàn bộ khối u và các hạch di căn, đồng thời giảm nguy cơ tái phát tại chỗ.

2.2. Kết quả phẫu thuật

Kết quả phẫu thuật được đánh giá dựa trên tỷ lệ sống thêm và các biến chứng sau mổ. Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sống thêm 3 năm của bệnh nhân được phẫu thuật triệt căn là 75%. Các biến chứng sau mổ bao gồm rò miệng nối, nhiễm trùng vết mổ, và suy giảm chức năng tiêu hóa.

III. Hiệu quả điều trị tại Bệnh viện K

Hiệu quả điều trị tại Bệnh viện K được đánh giá dựa trên kết quả phẫu thuật và các phương pháp điều trị bổ trợ như hóa trị và xạ trị. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc kết hợp phẫu thuật với hóa xạ trị bổ trợ giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống thêm của bệnh nhân. Bệnh viện K là một trong những cơ sở điều trị ung thư trực tràng hàng đầu tại Việt Nam, với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm và trang thiết bị hiện đại.

3.1. Kết quả điều trị sớm

Kết quả điều trị sớm được đánh giá dựa trên tỷ lệ biến chứng sau mổ và khả năng phục hồi của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ biến chứng sau mổ tại Bệnh viện K là thấp, với tỷ lệ rò miệng nối chỉ 5%. Bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ sau mổ để phát hiện và xử lý kịp thời các biến chứng.

3.2. Kết quả điều trị xa

Kết quả điều trị xa được đánh giá dựa trên tỷ lệ sống thêm và nguy cơ tái phát bệnh. Nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ lệ sống thêm 5 năm của bệnh nhân được điều trị tại Bệnh viện K là 65%. Các yếu tố tiên lượng bao gồm giai đoạn bệnh, số lượng hạch di căn, và đáp ứng với hóa xạ trị bổ trợ.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm di căn hạch và kết quả điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng tại bệnh viện k

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đại trực tràng (trong đó gần một phần ba là ung thư trực tràng) là bệnh phổ biến trên thế giới và có xu hướng gia tăng, đứng thứ ba về tỷ lệ mắc và đứng thứ tư về tỷ lệ tử vong do ung thư [1],[2]. Theo thống kê của tổ chức ghi nhận ung thư toàn cầu IARC (Globocan 2012), mỗi năm, trên thế giới ước tính có 1361000 bệnh nhân mới mắc và có 694000 bệnh nhân chết do căn bệnh ung thư đại trực tràng (UTĐTT) [3]. Tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng cũng thay đổi theo vị trí địa lý. Trong đó, tỷ lệ mắc cao nhất ở Australia, New Zealand, các nước Châu âu, Bắc Mỹ; tỷ lệ mắc trung bình ở Châu mỹ La Tinh, Đông Á, Đông Nam Á, Tây Á, Nam Phi; tỷ lệ thấp nhất ở Tây Phi.

Tuy nhiên, bệnh có xu hướng gia tăng ở các nước này [3]. Tại Việt Nam, theo ghi nhận Ung thư Hà Nội giai đoạn 2008-2010, ung thư đại trực tràng có tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi với nữ là 13,7 và nam là 17,1/100000 dân [4]. Nguy cơ tử vong của ung thư trực tràng (UTTT) có liên quan trực tiếp tới các yếu tố: ung thư lan tràn tại chỗ, di căn theo đường bạch huyết và theo đường máu. Trong đó, bạch huyết là con đường di căn chủ yếu với 30-50% ung thư trực tràng có di căn hạch vùng [5],[6],[7],[8],[9],[10],[11],[12].

Trong ung thư trực tràng, hạch vùng giúp cung cấp thông tin quan trọng đối với việc điều trị hóa xạ trị bổ trợ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, hạch bạch huyết là một biến độc lập trong tiên lượng ung thư trực tràng [13]. Số lượng hạch vùng vét được phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật vét hạch, phương pháp đánh giá và xử lý hạch bạch huyết [14],[15],[16],[17],[18]. Đặc biệt, kỹ thuật vét hạch có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng hạch trong mẫu bệnh phẩm có được.

Hiện nay, cắt bỏ mạc treo trực tràng (Total mesorectal excision - TME) cùng mạch máu tới tới tận gốc một cách có hệ thống trở thành tiêu chuẩn trong điều trị phẫu thuật UTTT. Nó giúp lấy bỏ được toàn bộ tổ chức 2 xung quanh khối u và có khả năng tìm thấy hạch bạch huyết nhiều hơn. Các khuyến cáo quốc tế đều đồng thuận rằng 12 hạch là tối thiểu để đánh giá chính xác giai đoạn bệnh [13],[18],[19]. Ngoài số lượng hạch vùng vét được, xét nghiệm chính xác hạch vùng có di căn hay không di căn có vai trò quan trọng, giúp quyết định chiến lược điều trị hóa xạ trị bổ trợ.

Thông thường, xét nghiệm hạch vùng được thực hiện bởi kỹ thuật hiển vi học thông thường. Tuy nhiên, kỹ thuật này thường không phát hiện được ổ nhỏ tế bào biểu mô di căn [20]. Vì vậy, xét nghiệm hóa mô miễn dịch cho những bệnh nhân nguy cơ cao mà trên các kỹ thuật mô học thông thường không phát hiện di căn đ được một số nghiên cứu khuyến cáo [21]. Tại Việt Nam, nghiên cứu về hạch vùng, các yếu tố liên quan đến di căn hạch vùng, kết quả điều trị phẫu thuật cắt trực tràng và mạc treo trực tràng trong ung thư trực tràng đ được thực hiện.

Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu được công bố. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm di căn hạch và kết quả điều trị phẫu thuật ung thƣ trực tràng tại Bệnh viện K” nhằm 2 mục tiêu sau: 1. Phân tích đặc điểm di căn hạch và một số yếu tố nguy cơ của nhóm bệnh nhân ung thư trực tràng được phẫu thuật triệt căn tại Bệnh viện K. Đánh giá kết quả điều trị của nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu trực tràng Trực tràng là đoạn tiếp theo của đại tràng xích ma đi từ đốt sống cùng ba tới hậu môn, gồm hai phần: - Phần trên phình ra để chứa phân gọi là bóng trực tràng, dài 12 - 15 cm, nằm trong chậu hông bé. - Phần dưới hẹp đi để giữ và tháo phân dài 2 - 3 cm gọi là ống hậu môn [18],[22],[23],[24].1: Trực tràng và ống hậu môn Nguồn: Theo Frank H. Hình thể ngoài - Thiết đồ đứng ngang: thấy trực tràng thẳng.

- Thiết đồ đứng dọc: cong lượn hai phần, phần trên lõm ra trước dựa vào đường cong xương cùng cụt, phần dưới lõm ra sau, điểm bẻ gặp ngang chỗ bám cơ nâng hậu môn. Hình thể trong - Bóng trực tràng: cột Morgani là lớp niêm mạc lồi lên cao 1 cm, rộng ở dưới, nhọn ở trên, thường có 6 - 8 cột. Van Morgani là lớp niêm mạc nối chân cột với nhau tạo thành túi giống van tổ chim. - Ống hậu môn: cao 2 - 3 cm nhẵn màu đỏ tím có nhiều tĩnh mạch, ống không có lông và tuyến.

Niêm mạc trực tràng nhẵn hồng, có ba van: cụt, cùng dưới và cùng trên tương đương với các điểm cách hậu môn 7, 11, 12 cm [23]. Liên quan định khu - Mặt trước: nam và nữ khác nhau Ở nam: phần phúc mạc liên quan với túi cùng Douglas và mặt sau bàng quang. Phần dưới phúc mạc liên quan với mặt sau dưới bàng quang, túi tinh, ống dẫn tinh và tuyến tiền liệt. Ở nữ: phần phúc mạc qua túi cùng Douglas liên quan với tử cung, túi cùng âm đạo sau.

Phần dưới phúc mạc liên quan với thành sau âm đạo. - Mặt sau: liên quan với xương cùng và các thành phần ở trước xương. - Mặt bên: liên quan với thành chậu hông, các mạch máu, niệu quản, thần kinh. Trực tràng nằm trong một khoang, bao quanh là tổ chức mỡ quanh trực tràng.

Ung thư trực tràng thường xâm lấn vào tổ chức mỡ xung quanh này [23],[24],[18]. Mạc treo trực tràng Thuật ngữ mạc treo trực tràng (MTTT) không có trong giải phẫu kinh điển của trực tràng. Nó xuất hiện trong y văn ngoại khoa vào năm 1982 bởi Heald phẫu thuật viên Anh quốc, người đặt nền tảng cho phẫu thuật UTTT triệt căn hiện đại [26]. MTTT là tổ chức xơ mỡ (cellulo-graisseux) giới hạn giữa cơ 5 thành trực tràng và lá tạng của cân đáy chậu hay còn gọi là cân trực tràng (fascia recti), bao phủ 3/4 chu vi trực tràng mặt sau bên, dưới phúc mạc.

Mặt trước trực tràng dưới phúc mạc cũng là tổ chức xơ mỡ. Khối u trực tràng xâm lấn hết chiều sâu của thành trực tràng phát triển vào MTTT vượt qua cân trực tràng vào thành chậu, xâm lấn vào tổ chức quanh trực tràng. Tổn thương này có nguy cơ tái phát tại chỗ cao sau phẫu thuật UTTT mà trước đây chưa được đánh giá đúng mức. Hệ thống bạch huyết ở trung tâm MTTT dẫn bạch huyết lên trên, nhưng khi khối u phát triển dòng bạch huyết có thể trào ngược xuống dưới khối u vài cm và lan ra ngoài cân trực tràng.

Những nghiên cứu mô bệnh học UTTT cho thấy có thể tế bào ung thư lan theo hệ bạch huyết trong MTTT xuống dưới khối u 4cm và trên 98% - 99% diện cắt theo thành trực tràng dưới phúc mạc 5cm là không còn tế bào ung thư. Đó là lý do về mặt ung thư học đối với phẫu thuật UTTT phải cắt bờ MTTT dưới khối u tối thiểu là 5cm. Với khối u trực tràng thấp cắt toàn bộ MTTT là bắt buộc và diện cắt thành trực tràng dưới khối u tối thiểu là 2cm mới đảm bảo nguyên tắc phẫu thuật ung thư [22],[27],[28].Động mạch trực tràng giữa; 6.Đám rối chậu bên; 7.Các nhánh thần kinh của trực tràng; 9.Mạc treo trực tràng; 10.Lá tạng mạc treo trực tràng. Diện cắt ngang mạc treo trực tràng [29] 6 1.

Mạch máu của trực tràng * Động mạch trực tràng: trực tràng được cấp máu bởi 3 động mạch: - Động mạch trực tràng trên là nhánh tận của động mạch mạc treo tràng dưới sau khi đ chia ra các nhánh vào đại tràng xích ma. Đây là động mạch quan trọng nhất cấp máu cho trực tràng và niêm mạc ống hậu môn, sau khi bắt chéo bó mạch chậu gốc trái thì chia ra làm 2 nhánh ở mức xương cùng 3. Nhánh bên phải đi thẳng xuống cho ra các nhánh nhỏ vào 1/3 sau bên phải bóng trực tràng, nhánh trái đi vào mặt trước trái bóng trực tràng cho ra các nhánh đi xuyên qua lớp cơ hình thành lên hệ thống mạch dưới niêm mạc đi xuống tới đường lược. Động mạch trực tràng trên cấp máu cho toàn bộ bóng trực tràng và niêm mạc ống hậu môn [29],[30].

- Động mạch trực tràng giữa chỉ tồn tại với tỷ lệ 50%, có ở 1 bên là 22%. Xuất phát từ động mạch chậu trong đi ngang qua cơ nâng dưới dây chằng bên với kích thước nhỏ chia làm 3-4 nhánh tận vào trực tràng và cơ quan sinh dục [29],[30]. - Động mạch trực tràng dưới xuất phát từ động mạch lỗ bịt đi ngang qua hố ngồi trực tràng cấp máu cho cơ thắt trong, cơ thắt ngoài, cơ nâng hậu môn và lớp dưới niêm mạc ống hậu môn [29],[30]. - Động mạch cùng giữa xuất phát từ chỗ chia của động mạch chậu gốc đi thẳng xuống trước xương cùng, sau cân trước xương cùng kết thúc trước xương cụt với các nhánh vào mặt sau trực tràng và ống hậu môn [29],[30].

Trong phẫu thuật UTTT khi thắt động mạch trực tràng trên tận gốc và cắt đoạn trực tràng thì mỏm trực tràng còn lại càng xuống thấp tưới máu càng kém nên tỷ lệ rò miệng nối tăng lên. Mạch máu của trực tràng (nhìn từ mặt sau) Nguồn: theo Frank H. Netter (2016) [25] * Tĩnh mạch trực tràng: - Tĩnh mạch trực tràng trên là nhánh chính kết hợp với tĩnh mạch trực tràng dưới, tĩnh mạch trực tràng giữa và tĩnh mạch cùng giữa hợp lưu với các tĩnh mạch xích ma đổ về tĩnh mạch mạc treo tràng dưới. Tĩnh mạch trực tràng trên bắt nguồn từ 5-6 nhánh tĩnh mạch xuyên qua lớp cơ thành trực tràng hợp lại thành thân tĩnh mạch trực tràng trên ở phía trước hoặc bên trái động mạch tinh [29],[30].

- Tĩnh mạch trực tràng giữa và dưới dẫn máu từ ống hậu môn và phần thấp trực tràng về tĩnh mạch bịt và tĩnh mạch chậu trong [29],[30]. - Tĩnh mạch cùng giữa dẫn máu từ phần trên của trực tràng thấp đổ về tĩnh mạch chậu gốc trái [29],[30]. Bạch huyết của trực tràng Kiến thức về giải phẫu, sinh lý hệ thống bạch huyết và hạch bạch huyết của UTTT đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu về nạo vét hạch cũng như đánh giá giai đoạn di căn hạch của UTTT. - Cấu trúc giải phẫu của một hạch bạch huyết có kích thước trung bình từ 0,3 cm đến 2,5 cm hình hạt đậu được chia thành các khoang ngăn cách với nhau gọi là hạt lympho bao quanh bởi lớp vỏ liên kết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu di căn hạch và hiệu quả phẫu thuật ung thư trực tràng tại bệnh viện K là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc đánh giá tình trạng di căn hạch và hiệu quả của các phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư trực tràng. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin chi tiết về tỷ lệ di căn hạch, các yếu tố tiên lượng, và kết quả phẫu thuật, giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện hơn trong việc lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu cho bệnh nhân. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực ung thư trực tràng và mong muốn cải thiện hiệu quả điều trị.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận án đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong điều trị ung thư trực tràng giữa và thấp, nghiên cứu này đi sâu vào hiệu quả của các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải cung cấp góc nhìn về phẫu thuật ít xâm lấn, một xu hướng đang được áp dụng rộng rãi. Cuối cùng, Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan là tài liệu tham khảo hữu ích về các kỹ thuật phẫu thuật tiên tiến trong điều trị ung thư.