Phần mở đầu : nêu lí do chọn để tài ; lịch sử van dé nghiên cứu ; đối tượng, phạm vi nghiên cứu ; mục đích nghiên cứu ; nhiệm vụ của dé tài ; phương pháp nghiên cửu và bo cục của dé tài. + Phan nội dung được chia làm 3 chương : = Chương Mội : Cơ sở của việc dạy học nghĩa của từ cho HS lớp Hai ; * Chương Hai : Van dé dạy học nghĩa của từ cho HS lớp Hai ; " Chương Ba : Một số nhận xét về khả năng hiểu nghĩa từ của HS lớp Hai (qua thực tế khảo sắt tại một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hỗ Chi Minh và thành phé Phan Thiết). + Phần kết luận : tóm lược những nội dung chính của khoá luận, nêu một số nhận xét và để nghị về việc dạy học nghĩa của tử cho HS lớp Hai. Ngoài 3 phân chính nêu trên, khoá luận còn có 2 trang tài liệu tham khảo và một phan phụ lục gồm các nội dung sau : mẫu phiếu khảo sát về thực trạng khả năng hiểu nghĩa từ của HS lớp Hai ; các bảng thong kê số liệu ; một số phiểu khảo sắt đã được HS làm.
NỘI DUNG Chương Một : CƠ SỞ CỦA VIỆC DẠY HỌC NGHĨA CỦA TỪ CHO HỌC SINH LỚP HAI Dé tài dựa trên cơ sở lí luận của Tâm lí học, Từ vựng - ngữ nghĩa học và Lí luận dạy học tiếng. Cơ sở Tâm lí học Giữa Phương pháp dạy học Tiếng Việt và Tâm lí học, đặc biệt là Tâm lí học lửa tuổi có mỗi quan hệ rất chặt chẽ. Để giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho HS, GV can nắm rõ những đặc điểm tâm lí của người nói chung và trẻ em lứa tuổi tiểu học nói riêng. Việc tiếp nhận tiếng mẹ đẻ ở các lửa tuổi khác nhau đều bị chỉ phối bởi sự phát triển tâm sinh lí.
Dạy tiếng Việt nói chung, dạy nghĩa của từ ngữ nói riêng, GV phải chú ý đến các đặc điểm tâm lí của HS để dựa vào đó mà có cách dạy thích hợp. HS lớp Hai thuộc giai đoạn đầu của lứa tuổi tiểu học thường có những đặc điểm tâm lí sau : 1. Về tri giác Như chúng ta đã biết, trí giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người. Trẻ ở lứa tuổi tiểu học nói chung và ở lớp Hai nói riêng luôn tò mò và muỗn biết những cai rat cụ thể.
Những gì chung chung, khái quất ít được các em tri giác. Đẳng thời, các em thưởng chỉ tri giác những sự vật, hiện tượng phù hợp với nhu cau của minh và gan gũi với mình trong cuộc sống. Để yêu cầu trẻ tri giác một sự vật, hiện tượng cần có sự chỉ dẫn rất cụ thể của GV, Những sự vật, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em những cảm xúc luôn được các em tri giác trước tiên. Vì thể, những vật trực quan càng đẹp, càng có nhiều màu sắc rực rỡ luôn được các em tri giác tốt hon, dé gây an tượng tích cực cho các em hơn.
Tri giác của trẻ em thường gắn với hoạt động thực tiễn. Dé có thể trí giác một sự vật, các em cần tiếp xúc trực tiếp với sự vật ay như là cầm, nắm hay sở mó. Vi thế, trong giáo dục nên vận dụng điều sau đây : “Tram nghe không bằng một thấy, trăm thay không bằng một làm”. Về chú ý Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật hiện tượng, dé định hướng hoạt động, bảo đảm điều kiện thần kinh - tâm lí cần thiết cho hoạt động tiễn hành có hiệu quả.
Ở HS lớp Hai, sự tập trung chú ý chưa cao. Các em chỉ có thé tập trung chú ý liên tục trong khoảng từ 15 đến 20 phút. Sự chú ý của các em đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy (được điểm cao, được cô giáo khen. Những gì mang tính mới mẻ, bắt ngở, rực rỡ, khác thưởng dễ dàng lôi cuỗn sự chú ý của các em.
Vi vậy, việc sử dụng để dùng day học như tranh ảnh, hình vẽ, biểu đổ, mô hình, vật thật. là điều kiện quan trọng để tổ chức sự chú ý. Sự tập trung chú ý của HS lớp Hai còn yêu, thiếu bên vững. Vì vậy, các em sẽ dé quên điều cô giáo dặn vào cuỗi budi học, bỏ sót chữ cái trong từ, hỏ sót từ trong câu.
Về trí nhớ Trí nhớ là một quá trình tâm lí được biểu hiện là sự ghi lại, lưu giữ lại và làm xuất hiện lại những gì cá nhân thu được trong hoạt động sống của mình. Ở lửa tuổi này, các em nhận thức, tiếp nhận và lưu giữ chính xác những sự vat, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng. VD: Khi dạy bài Luyện tử và câu — Tir ngữ về loài chim, GV đưa ra nhiều tranh về các loài chim như đại bang, cú mèo, chim sẻ. Sau đó GV giới thiệu tên và nêu định nghĩa từng loài chim.
Cudi tiết học, khi kiểm tra lại, GV nhận thấy HS chỉ nhớ và nhớ chính xác tên từng loài chim ứng với từng tranh mà không biết giải thích đại bàng là gì, chim sẻ là gi. HS lớp Hai có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiễu lần, có khi chưa hiểu những mỗi liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó. Vì thé, các em thưởng học thuộc lòng tài liệu học tập theo đúng từng câu, từng chữ mà không sắp xép, sửa đổi, diễn dat lại bang lời lẽ của mình. Nhiệm vụ của GV là hướng dẫn các em những kĩ năng, kĩ xảo để phi nhớ tài liệu học tập, chi cho các em dau là điểm chính, điểm quan trọng của bat hoc, tránh để các em ghỉ nhớ một cách may móc.
Về tư duy Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mỗi quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, mà trước đó ta chưa biết, Tư duy của trẻ lớp Hai vẫn còn mang tính cụ thé. Dé có thé tư duy, các em luôn phải dựa vào những đặc điểm trực quan của những sự vật, hiện tượng cụ thể. Đây chính là một trong những cơ sở để hình thành nguyên tắc trực quan trong day học tir. Để giải thích nghĩa một tir, ngoài lời giải thích của GV luôn can có sự hỗ trợ của những phương tiện trực quan khắc.
Chang hạn, trước yêu cầu giải thích từ chim công, HS sẽ bỗi rỗi vì chưa biết gì về chim công hoặc biết cũng chưa hình dung phải giải thích thé nào. Nhưng khi GV treo tranh chim công, HS sẽ biết giải thích chim công là loài chim có lông đuôi rat đẹp, xoè ra như chiếc quạt. Về tưởng tượng Tưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có. Khi tưởng tượng xây dựng những hình ảnh mới, độc lập với cả cá nhân lẫn xã hội, được hiện thực hoá trong các sản phẩm vật chất độc đáo và có giá trị, thì gọi là tưởng tượng sáng tạo.
Đây là một mặt không thẻ thiểu của mọi hoạt động sáng tạo (sáng tạo kĩ thuật, sáng tạo nghệ thuật. Người GV cần dựa vào những kiến thức về tưởng tượng sắng tạo, về vai trò của tưởng tượng trong sự phát triển tâm lí của HS lớp Hai dé có cách day phù hợp. Tưởng tượng của HS lớp Hai được hình thành và phát triển trong hoạt động học và trong các hoạt động khác của các em. Tưởng tượng của HS lớp Hai đã phat triển và khá phong phú.
Tuy vậy, hình ảnh mà các em tưởng tượng còn đơn giản và hay thay đổi. Chang hạn, nhìn những đám mây trên trời, các em thường tưởng tượng ra nhiễu hình dang khác nhau. Khi thì các em thấy những đám mây giống như những chiếc bánh, khi lại thay giống quả táo, gidng con ngựa. Tóm lại, tim lí của HS lớp Hai vẫn còn thiêng về trực quan cụ thé hơn là khái quất trừu tượng.
Các em không thể ghi nhớ lâu những lời giải thích, định nghĩa dài dòng. Những sự vật, hiện tượng trong thực tế càng đẹp, nhiều mầu sắc sặc sỡ luôn hap dẫn các em và sẽ tạo ở các em hứng thú học tập. Người GV can nằm được những đặc điểm tâm lí này để có thể vận dụng vào thực tế đạy học. Cơ sử Từ vựng - ngữ nghĩa học Ngôn ngữ học nói chung, tiếng Việt nói riêng có quan hệ mật thiết với phương pháp dạy học Tiếng Việt.
Các bộ phận của Ngôn ngữ học có vai trò quan trọng trong việc xác định nội dung và phương pháp dạy học tiếng. Trong đó, những hiểu biết vẻ từ vựng - ngữ nghĩa rất cần thiết đổi với việc tổ chức dạy học nghĩa của từ trong nhà trưởng. Chẳng hạn : những kiến thức vẻ từ nhiều nghĩa giúp cho ta hiểu vì sao từ A đã được dùng dé chỉ X lại còn được dùng dé chỉ Y ; sự hiểu biết về từ đồng nghĩa là cơ sở cho việc lựa chọn và sử dụng tir cho đúng ngữ cảnh hay cấu tạo từ nhiều khi cũng cho ta những chỉ dẫn về nghĩa. Cầu tạo từ 1.
Từ và tiếng Như các ngén ngữ đơn lập khắc, tử của tiếng Việt cũng có ranh giới không rõ ràng trong quan hệ với hình vị và với cụm tử (ngữ). Trong các cuộc thảo luận về hình vị và từ trong tiếng Việt, đã có những ý kiến khác nhau căn bản như sau : 1. Từ của tiếng Việt có kích thước ngữ âm là một âm tiết. Như vậy, từ, hình vị và âm tiết là một.
Đó là đơn vị cơ bản của tiếng Việt, được gọi là tiêng. Hình vị của tiếng Việt là riéng, tức một âm tiết bat kế có nghĩa, không rõ nghĩa hay vỗ nghĩa. Do vậy, một tử có thể gồm một tiếng hoặc nhiều tiéng. Hình vị của tiếng Việt cũng như hình vị của các ngôn ngữ châu Au, là đơn vị mang nghĩa nhỏ nhất.
Tiếng chỉ là âm tiết, không phải đơm vị tạo từ. Một hình vị có thể gồm một tiếng hoặc nhiều tiếng. Một từ có thể gom một hình vị hoặc nhiều hình vị. Mỗi ý kiến trên là một giải pháp xác định từ.