phần mở đầu, danh mục bảng, biểu, chữ viết tắt, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm các nội dung chủ yếu thể hiện ở ba chƣơng sau: 9 Luan van Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khu vực công. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khu vực công tại tỉnh Bắc Kạn. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khu vực công tại tỉnh Bắc Kạn. 10 Luan van Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA TRONG KHU VỰC CÔNG 1.
Tổng quan về đấu thầu và đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khu vực công 1. Khái niệm Trên thực tế đã tồn tại nhiều khái niệm về đấu thầu trong các văn bản pháp quy khác nhau. Một số quan điểm có thể kể đến nhƣ: Theo quy định của Luật mẫu của Ủy ban Luật Thƣơng mại quốc tế Liên hiệp quốc (UNCITRAL) về đấu thầu hàng hóa, xây lắp và dịch vụ, đấu thầu đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Đấu thầu là tiến hành mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ theo một cách nào đó”. Trong Hiệp định mua sắm chính phủ (MSCP) của Tổ chức thƣơng mại thế giới (Hiệp định GPA/WTO) và Hiệp định thƣơng mại tự do giữa Việt Nam và liên minh Châu Âu (EVFTA), khái niệm đấu thầu đƣợc định nghĩa “là quá trình một cơ quan mua sắm, được liệt kê trong Bản chào mở của thị trường, được quyền sử dụng hoặc được mua được hàng hóa và/hoặc dịch vụ vì mục đích công và không nhằm mục đích bán hay bán lại mang tính thương mại hoặc sử dụng trong việc sản xuất hoặc cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ vì mục đích bán hay bán lại mang tính thương mại” Tại Việt Nam, theo Từ điển tiếng việt (Viện ngôn ngữ học xuất bản băn 1998) thì khái niệm đấu thầu đƣợc hiểu là việc “Đo độ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì đƣợc giao cho làm hoặc đƣợc bán hàng (đây là một cách thức, phƣơng pháp để lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án, công trình xây dựng).
Với quan điểm nhƣ vậy, đấu thầu đƣợc hiểu với ý 11 Luan van nghĩa nhƣ một sự ganh đua (cạnh tranh) để đƣợc thực hiện một công việc, một yêu cầu nào đó do bên mời thầu đƣa ra. Theo quy định của Nhà nƣớc, khái niệm về đấu thầu đƣợc phát triển theo giai đoạn để phù hợp với thực tiễn. Theo Quy chế đấu thầu (ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/MĐ-CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ) thì “đấu thầu” là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu (khoản 1 điều 3). Trong luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005, đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật này trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế (khoản 2 điều 4).
Văn bản pháp luật về đấu thấu cho đến nay vẫn đang đƣợc hoàn thiện và phát triển, khái niệm đấu thầu mới nhất theo quy định hiện hành đƣợc hiểu nhƣ sau: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng minh bạch và hiệu quả kinh tế. Có thể thấy, khái niệm đấu thầu ngày càng rõ ràng, đầy đủ hơn, xác định rõ hơn nội hàm của khái niệm đấu thầu, đồng thời xác định phạm vi áp dụng đấu thầu (cung cấp dịch vụ tƣ vấn, dịch vụ phi tƣ vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp) và đặc biệt có sự mở rộng đối tƣợng áp dụng đấu thầu đối với công tác lựa chọn nhà đầu tƣ theo hình thức đối tác công tƣ, dự án đầu tƣ có sử dụng đất. Theo quan điểm cá nhân, tác giả luận văn đồng tình với khái niệm “đấu thầu” tại điều 4 của Luật Đấu thầu năm 2013 nhƣ đã nêu ở trên. Nhƣ vậy, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hoàn thiện công tác QLNN về đấu thầu trên thế giới và Việt Nam khái niệm đấu thầu dần đƣợc hoàn thiện, nội dung của khái niệm ngày càng rõ ràng, đầy đủ hơn, xác định 12 Luan van rõ phạm vi áp dụng đấu thầu (cung cấp dịch vụ tƣ vấn, dịch vụ phi tƣ vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp) và đặc biệt mở rộng đối tƣợng áp dụng đấu thầu với công tác lựa chọn nhà đầu tƣ theo hình thức đối tác công tƣ, dự án đầu tƣ có sử dụng đất.
Từ sự phân tích trên đây về khái niệm “đấu thầu” cũng nhƣ dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu, văn bản pháp luật, tác giả luận văn thống nhất tất cả các nội dung đƣợc đề cập trong luận văn này về đấu thầu hay liên quan đến QLNN về đấu thầu MSHHKVC đều đƣợc dựa trên cơ sở của Luật Đấu thầu năm 2013. Đặc điểm của đấu thầu Đấu thầu là một phƣơng thức quản lý chi tiêu công tối ƣu và hiệu quả của Chính phủ. Đấu thầu có những đặc điểm cơ bản sau: - Đấu thầu là quá trình gồm nhiều bƣớc khác nhau do chủ đầu tƣ, bên mời thầu thực hiện nhằm để lựa chọn đƣợc một nhà thầu đáp ứng tốt nhất, phù hợp nhất với các yêu cầu của mình từ rất nhiều nhà thầu tham dự thầu. - Để lựa chọn nhà thầu phù hợp nhất, đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu, thông thƣờng bên mời thầu đƣa ra các tiêu chuẩn về mặt kỹ thuật, tiêu chuẩn về mặt tài chính, tiêu chuẩn khác nhƣ: năng lực, kinh nghiệm, uy tín, dịch vụ hậu mãi.
để làm tiêu chuẩn xem xét, đánh giá, xếp hạng nhà thầu. Tất cả yêu cầu trên đƣợc thông báo công khai, đồng thời đây là thƣớc đo để đánh giá nhà thầu và giải quyết kiến nghị trong đấu thầu. - Trong quá trình tổ chức đấu thầu, bên mời thầu phải đảm bảo các nhà thầu đƣợc cạnh tranh công bằng, đƣợc đối xử nhƣ nhau ở tất cả các bƣớc trong quy trình đấu thầu. - Mục tiêu cơ bản của cuộc thầu là đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh kế, thông qua đó bên mời thầu mua đƣợc các hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật chất lƣợng, bảo hành, bảo trì, dịch vụ, hậu mãi với chi phí phù hợp.
13 Luan van - Mục đích tham dự thầu của nhà thầu là giành đƣợc quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ do bên mời thầu yêu cầu với giá đủ bù đắp chi phí đầu vào và đảm bảo lợi nhuận cao nhất có thể. - Hoạt động đấu thầu chỉ áp dụng với những dự án, gói thầu sử dụng ngân sách nhà nƣớc đƣợc hình thành do sự đóng góp từ thuế, phí, lệ phí. của ngƣời dân và toàn xã hội, do đó đấu thầu đƣợc Nhà nƣớc quản lý chặt chẽ. Nhƣ vậy, nội hàm cơ bản của khái niệm đấu thầu đƣợc ghi nhận là một quá trình chặt chẽ gồm các bƣớc khác nhau từ công tác chuẩn bị, tổ chức thực hiện cho đến giai đoạn kết thúc, đƣợc quy định bằng văn bản pháp luật do bên mời thầu thực hiện, thông qua đó lựa chọn nhà thầu đáp ứng tốt nhất các yêu cầu và thực hiện yêu cầu của bên mời thầu.
Hình thức đấu thầu Trong lĩnh vực đấu thầu nói chung và đấu thầu MSHH trong KVC nói riêng, hoạt động đấu thầu đƣợc phân chia thành các hình thức đấu thầu khác nhau tùy theo đặc điểm, tính chất và nội dung của hoạt động đấu thầu. Trong đó, hình thức đấu thầu là cách thức triển khai thực hiện lựa chọn nhà thầu. Có 7 hình thức đấu thầu là: + Một là đấu thầu rộng rãi: Là hình thức đấu thầu mà bất kỳ nhà thầu, nhà đầu tƣ đủ điều kiện đều có thể tham gia dự thầu nếu muốn, hình thức này không hạn chế số lƣợng nhà thầu tham gia. Ƣu điểm của hình thức này là tính cạnh tranh cao, hạn chế tiêu cực, kích thích các nhà thầu nâng cao năng lực.
+ Hai là đấu thầu hạn chế: Là hình thức đấu thầu mà chỉ có một số nhà thầu nhất định đƣợc mời tham gia dự thầu. Bên mời thầu áp dụng hình thức này trong trƣờng hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu. Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, bên mời thầu phải mời tối thiểu 3 nhà thầu đƣợc xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu và có nhu cầu tham dự thầu. 14 Luan van + Ba là chỉ định thầu: Là hình thức đấu thầu mà chỉ có một nhà thầu đƣợc tham gia lựa chọn để thực hiện yêu cầu của bên mời thầu.
Thông thƣờng, hình thức này áp dụng cho: các gói thầu có tính chất cấp bách, những gói thầu mang tính lợi ích quốc gia, những gói thầu đảm bảo tính tƣơng thích trƣớc đó, những gói thầu mang tính đặc thù, nghệ thuật hoặc chỉ có một nhà thầu có thể thực hiện tốt nhất hoặc những gói thầu có giá trị nhỏ. + Bốn là mua sắm trực tiếp: Đây là hình thức đấu thầu áp dụng đối với các gói thầu mua sắm hàng hóa mà bên mời thầu mời một nhà thầu trƣớc đó đã trúng thầu thông qua hình thức đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế để thực hiện gói thầu mới của mình thuộc cùng một dự án hoặc dự toán mua sắm khác. + Năm là chào hàng cạnh tranh: Là hình thức thƣờng áp dụng khi bên mời thầu muốn mua sắm những loại hàng thông dụng, sẵn có trên thị trƣờng với đặc tính kỹ thuật đƣợc tiêu chuẩn hóa và tƣơng đƣơng nhau về chất lƣợng, các gói thầu dịch vụ phi tƣ vấn thông dụng, đơn giản hay gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công đƣợc phê duyệt. + Sáu là tự thực hiện: Là hình thức đƣợc áp dụng đối với các gói thầu mua sắm trong trƣờng hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có đủ năng lực kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu.