Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 1. Khái niệm thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm Về nguyên tắc, khi tham gia tố tụng các đƣơng sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, do vậy các đƣơng sự phải thu thập các chứng cứ để cung cấp cho Tòa án, Tòa án có trách nhiệm xem xét các tình tiết của vụ án, căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu của đƣơng sự. Tuy nhiên khi xét thấy các tài liệu chứng cứ do các đƣơng sự cung cấp không đủ cơ sở giải quyết hoặc các đƣơng sự không thể cung cấp đƣợc các chứng cứ mà có yêu cầu thì theo quy định của BLTTDS Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ.
Sau khi có các chứng cứ, thì Tòa án phải tiến hành các hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trƣớc khi sử dụng. - Trong nghiên cứu khoa học pháp lý nhiều tác giả đã đƣa ra những khái niệm khác nhau về thu thập chứng cứ nói chung và của Tòa án nói riêng. Theo tác giả Tƣởng Duy Lƣợng, “Thu thập chứng cứ là một hành vi tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp, hoặc do chính Tòa án trực tiếp sử dụng các biện pháp để thu thập” [16, tr. Đề cập ở phạm vi rộng và khái quát hơn tác giả Nguyễn Minh Hằng cho rằng: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoạt động thu thập chứng cứ đƣợc hiểu là hoạt động tố tụng dân sự của các chủ thể chứng minh trong việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ bằng các phƣơng pháp, biện pháp theo một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định [10, tr.
So sánh hai quan điểm trên thấy rằng các tác giả đều có những điểm chung về khái niệm thu thập chứng cứ, đó là: Thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng dân sự của các chủ thể chứng minh; đƣợc tiến hành theo trình tự thủ tục đƣợc pháp luật tố tụng dân sự quy định. Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trƣờng Đại học Luật Hà nội thì “Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp, đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự” [2, tr. Khái niệm này đã đề cập đến đƣợc bản chất của biện pháp thu thập chứng cứ cũng nhƣ mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ nhằm để “nghiên cứu”, “đánh giá và sử dụng” trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án. Tuy nhiên khái niệm trên chƣa chƣa làm nổi bật lên đƣợc vấn đề chủ thể tiến hành thu thập chứng cứ trong trƣờng hợp này là Tòa án và tiến hành thu thập chứng cứ qua việc áp dụng một số biện pháp thu thập chứng cứ trong những trƣờng hợp và điều kiện do pháp luật tố tụng dân sự quy định, và thông qua việc áp dụng thủ tục, trình tự cũng nhƣ điều kiện chặt chẽ do pháp luật quy định nhƣ vậy thì các chứng cứ mà Tòa án thu thập đƣợc mới có giá trị pháp lý và đƣợc sử dụng vào việc giải quyết vụ việc dân sự.
Mặt khác, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành thì ở các Tòa án việc thu thập chứng cứ không phải do bất kỳ ai đảm nhiệm mà do Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ việc đảm nhiệm. Từ những vấn đề nêu trên có thể kết luận về khái niệm thu thập chứng cứ nhƣ sau: "Thu thập chứng cứ của Tòa án là hoạt động của thẩm phán trong việc tiến hành các biện pháp pháp lý theo quy định của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp luật nhằm tập hợp các chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự đã được Tòa án thụ lý để xây dựng, hoàn thiện hồ sơ, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự". - Nghiên cứu chứng cứ là hoạt động tiếp theo của quá trình cung cấp, thu thập chứng cứ và nằm trong quá trình chứng minh. Nghiên cứu chứng cứ là một chuỗi hoạt động của quá trình nhận thức đƣợc chủ thể chứng minh tiến hành thông qua việc xem xét, tìm hiểu chứng cứ trong hồ sơ vụ việc dân sự cũng nhƣ tại phiên tòa để chấp nhận hoặc không chấp nhận các tình tiết, sự kiện đƣợc xem xét, xác định là chứng cứ của vụ việc.
Mục đích của hoạt động nghiên cứu chứng cứ là xác định giá trị chứng minh của chứng cứ để làm tiền đề cho việc đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự. Hoạt động nghiên cứu chứng cứ đƣợc thực hiện trong suốt quá trình chứng minh, trong từng giai đoạn tố tụng. Theo Đại từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “nghiên cứu” đƣợc giải thích là “xem xét, làm cho nắm vững vấn đề nhận thức, tìm ra cách giải quyết” [37, tr. Tuy nhiên đây chỉ là khái niệm chung về nghiên cứu.
Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội: “Nghiên cứu chứng cứ là việc Tòa án trực tiếp thụ cảm, xem xét, phân tích, so sánh chứng cứ” [2, tr. Có thể thấy rằng hoạt động nghiên cứu chứng cứ trong tố tụng dân sự có nhiều chủ thể tham gia, đó là các chủ thể có quyền, nghĩa vụ chứng minh làm rõ sự thật khách quan của vụ việc dân sự. Trong đó, Tòa án là một chủ thể nghiên cứu chứng cứ toàn diện nhất và có vai trò quan trọng nhất. Ở Tòa án, việc nghiên cứu chứng cứ trƣớc phiên tòa do Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ việc thực hiện, việc nghiên cứu chứng cứ tại phiên tòa do các thành viên của Hội đồng xét xử thực hiện.
Khi nghiên cứu chứng cứ Tòa án phải tiến hành đọc, quan sát, xem xét và tìm hiểu chứng cứ. Từ đó, có thể kết luận về khái niệm nghiên cứu chứng cứ nhƣ sau: "Nghiên cứu chứng cứ của Tòa án là việc thẩm phán, các thành 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên của Hội đồng xét xử đọc, quan sát, xem xét, tìm hiểu chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự và chứng cứ bổ sung tại phiên tòa để xác định mức độ phản ánh chính xác của chứng cứ về những tình tiết, sự kiện cần phải chứng minh cũng như những tình tiết, sự kiện cần thiết khác cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự". - Thuật ngữ “đánh giá” trong Đại từ điển tiếng Việt đƣợc giải thích là “nhận xét, bình phẩm về giá trị”. Nếu nhƣ nghiên cứu chứng cứ là việc trực tiếp thụ cảm, xem xét, phân tích, so sánh chứng cứ nhằm nhìn nhận chứng cứ để bƣớc đầu xác định giá trị chứng minh của từng chứng cứ, thì đánh giá chứng cứ là quá trình xác định giá trị chứng minh của chứng cứ và tính hiệu quả của chứng cứ trong tổng thể các chứng cứ.
Để xác định đƣợc giá trị chứng minh của chứng cứ thì Tòa án phải đánh giá chứng cứ. Việc đánh giá chứng cứ đƣợc Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ việc tiến hành trƣớc phiên tòa và các thành viên của Hội đồng xét xử tiến hành tại phiên tòa. Có thể nói đánh giá chứng là một quá trình tƣ duy logic, là hoạt động suy luận dựa trên cơ sở nhận thức và tri thức của ngƣời đánh giá về đối tƣợng đánh giá. Từ đó, có thể kết luận: "Đánh giá chứng cứ của Tòa án là hoạt động tư duy logic của Thẩm phán và các thành viên của Hội đồng xét xử tiến hành trên cơ sở những hiểu biết về những tình tiết, sự kiện đã thu thập được, dựa trên cơ sở các quy định pháp luật và niềm tin nội tâm để xác định độ tin cậy và giá trị chứng minh của từng chứng cứ cũng như tất cả các chứng cứ trong vụ việc dân sự nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ việc dân sự một cách khách quan toàn diện".
Ý nghĩa của thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm 1. Ý nghĩa của thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm - Đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong thực tiễn việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án thì tỷ lệ số vụ việc dân sự đƣợc giải quyết dựa vào chứng cứ và việc tự chứng minh của các đƣơng sự là rất ít, phần lớn các vụ việc dân sự đƣợc giải quyết đều do Tòa án chủ động, tích cực xác minh thu thập chứng cứ, việc pháp luật TTDS quy định cho Tòa án có quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi thỏa mãn những điều kiện nhất định sẽ có tác dụng to lớn trong việc xây dựng hồ sơ vụ việc, củng cố các chứng cứ quan trọng của vụ việc dân sự phải giải quyết, Tòa án sẽ có thêm cơ sở, căn cứ pháp lý để giải quyết vụ việc, công tác xét xử của Tòa án thông qua đó đƣợc khách quan chính xác và triệt để hơn. Đƣơng sự khi tham gia tố tụng dân sự xuất phát từ quyền, lợi ích của mình vì thế chứng cứ mà các bên đƣơng sự cung cấp sẽ thiên lệch về phía mình hơn. Tòa án với vị trí là ngƣời đứng ra phân xử vụ việc cần phải có cái nhìn khách quan, toàn diện về vụ việc cần phải giải quyết, ngoài ra đối với những vụ việc đặc thù nhƣ chia tài sản là đất đai, nếu Tòa án chỉ căn cứ và lời khai của đƣơng sự và các giấy tờ cũng nhƣ sơ đồ mà các đƣơng sự cung cấp để chia thì bản án, quyết định của Tòa án có thể không phù hợp với thực địa và sẽ không thể thi hành án đƣợc.
Chẳng hạn nhƣ trƣờng hợp diện tích đất trong giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn diện tích trên thực tế, trên đất có cây lâu năm và tài sản khác mà sơ đồ không thể hiện đƣợc….