Tổng quan luận án
Công trình Dân ca Mường ở Phú Thọ trong bối cảnh đương đại là luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040), do nghiên cứu sinh Tạ Thị Thu Hiền thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Kiều Trung Sơn. Luận án có dung lượng gồm 6 trang Mở đầu, 4 chương nội dung chính (154 trang), 6 trang Kết luận, 12 trang Tài liệu tham khảo và 82 trang Phụ lục.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Người Mường là cộng đồng dân tộc thiểu số có số lượng dân cư đông thứ hai tại tỉnh Phú Thọ, sở hữu kho tàng văn hóa dân gian phong phú với nhiều làn điệu âm nhạc đặc trưng như hát ví, hát rang, hát ru, hò đu, hát chúc sắc bùa, hòa tấu cồng chiêng và múa mỡi. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đời sống văn hóa tinh thần của cư dân tiếp nhận nhiều luồng sinh hoạt văn hóa mới. Điều này dẫn tới nguy cơ mai một và lãng quên các giá trị âm nhạc dân gian truyền thống, đặc biệt là khi phương thức lưu giữ chủ yếu vẫn dựa vào truyền miệng dân gian giữa các thế hệ mà thiếu vắng các tài liệu văn bản ghi chép cụ thể.
Tại địa bàn tỉnh Phú Thọ, các nghiên cứu văn hóa dân gian trước đây chủ yếu tập trung vào lễ hội cổ truyền, di tích lịch sử hoặc khảo sát tổng quát văn hóa các dân tộc thiểu số; những công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống riêng về các thể loại dân ca Mường hầu như chưa được triển khai đầy đủ. Nhiều tài liệu sưu tầm dân gian chỉ mới dừng lại ở việc ghi chép phần lời ca dưới dạng văn học mà chưa có điều kiện ký âm cấu trúc âm nhạc. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này, làm rõ diện mạo và sức sống của dân ca Mường ở Phú Thọ trong đời sống xã hội đương đại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu về sự hiện tồn của dân ca trong đời sống cộng đồng Mường ở Phú Thọ hiện nay, từ đó xác định ý nghĩa và giá trị của loại hình di sản này trong bối cảnh xã hội đương đại. Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Khảo cứu về dân ca Mường ở Phú Thọ trong quá khứ; xác định diện mạo và tổng thể các thể loại dân ca hiện còn trong đời sống người Mường tại địa phương.
- Giới thuyết phạm vi hiện nay cùng bối cảnh cuộc sống đương đại; xác lập cơ sở lý luận thông qua hệ thống tư liệu nhằm xây dựng hướng nghiên cứu cụ thể, chuẩn xác.
- Xác định ý nghĩa, giá trị của dân ca đối với đời sống người Mường nói riêng và sự ảnh hưởng trong đời sống văn hóa xã hội ở Phú Thọ nói chung hiện nay.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- (1). Dân ca người Mường ở Phú Thọ hiện nay tồn tại như thế nào trong đời sống cộng đồng?
- (2). Những thể loại dân ca nào còn được lưu giữ thực hành trong bối cảnh xã hội hiện nay?
- (3). Dân ca còn có ý nghĩa, giá trị thế nào trong đời sống người Mường Phú Thọ hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu được tác giả xác lập như sau:
-
- Trong bối cảnh xã hội và cuộc sống hiện nay dân ca vẫn được các thế hệ người Mường quan tâm gìn giữ và bảo tồn phát triển. Dân ca người Mường có vai trò và giá trị to lớn đối với đời sống tinh thần của người dân các vùng Mường tỉnh Phú Thọ trong xã hội hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dân ca Mường ở tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh đời sống đương đại.
- Phạm vi không gian và chủ thể văn hóa: Tập trung khảo sát người Mường và đời sống sinh hoạt văn hóa dân gian Mường trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, trọng tâm là 4 huyện có mật độ cư dân Mường tập trung đông gồm Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập và Thanh Thủy; có mở rộng đối sánh với các vùng Mường lân cận khi cần thiết.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát đối tượng từ mốc Đổi mới (năm 1986) đến nay, kết hợp phương pháp điều tra hồi cố về quá khứ và thời kỳ xã hội phong kiến để so sánh, nhận diện sự biến đổi.
- Phạm vi nội dung: Khảo cứu diện mạo dân ca Mường Phú Thọ trong lịch sử và thực trạng tồn tại của các thể loại dân ca trong đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu đi trước
Tác giả phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu theo 4 nhóm tư liệu chính:
- Các nghiên cứu về dân ca nói chung: Công trình của V.Va-Kh’ra-mê-ép (Các điệu thức trong âm nhạc dân gian) phân tích sự hình thành lâu dài của các điệu thức dân gian gắn với đời sống từng tộc người; nghiên cứu của Trần Văn Khê khẳng định âm nhạc dân gian Đông Nam Á gắn liền với nhịp sống và tập tục con người; công trình của Nguyễn Bình Định (Các phương thức ký âm trên thế giới và vấn đề ký âm nhạc truyền thống Việt Nam) chỉ ra đặc trưng truyền khẩu trong sáng tác, biểu diễn và đào tạo âm nhạc phương Đông; bài viết của Yves Goudineau nhấn mạnh sản phẩm văn hóa phi vật thể luôn nằm trong bối cảnh toàn thể của nghi thức và nhịp sống dân làng.
- Các nghiên cứu về dân ca người Việt: Nghiên cứu của Đinh Gia Khánh về mối liên hệ hữu cơ giữa nghệ thuật dân gian và thực tiễn lao động; công trình Dân ca người Việt của Tú Ngọc phân tích sâu về cấu trúc âm nhạc và nguồn gốc các bài ca lao động; sách Tìm hiểu về dân ca Việt Nam của Phạm Phúc Minh phân loại thể loại và nhận định ca hát đã giữ vị trí quan trọng từ thời các vua Hùng; các chuyên khảo về từng thể loại dân ca người Việt của Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Lê Anh Trung (Lý trong dân ca người Việt), Trần Linh Quý, Hồng Thao (Tìm hiểu dân ca Quan họ), Bùi Đình Thảo, Nguyễn Quang Hải (Hát Chầu văn); nhận định của Nguyễn Thụy Loan về tính tập thể trong sáng tạo và biểu diễn thanh nhạc dân gian.
- Các nghiên cứu dân ca các dân tộc thiểu số: Các chuyên khảo của Hồng Thao (Âm nhạc dân tộc H’Mông), Ngô Văn Trụ chủ biên (Dân ca Cao Lan ở Bắc Giang), Nguyễn Hùng Mạnh chủ biên (Thơ ca dân gian dân tộc Mảng), Nguyễn Quang Tuệ (Dân ca Gia Rai), Ngô Văn Lệ (Văn hóa tộc người truyền thống và biến đổi) khẳng định bản sắc văn hóa tộc người là sức mạnh trường tồn của cộng đồng.
- Các nghiên cứu dân ca Mường ngoài vùng Phú Thọ: Tập trung chủ yếu tại vùng Hòa Bình và Thanh Hóa, tiêu biểu là tập sách Dân ca Mường (Hòa Bình) (1965) với phần ký âm của Huyền Đông gồm hát mo, hát xéc bùa, hát thường, hát bộ mẹng, hát ru con, hát ví và điệu cồng; các công trình của Bùi Thiện (Dân ca Mường phần tiếng Mường, Dân ca Mường phần tiếng Việt, Thường Rang, Bọ Mẹng); nghiên cứu của Vương Anh (Xường cài hoa dân tộc Mường), Bùi Chí Hăng (Xường trai gái dân tộc Mường), Đinh Văn Phùng và Đinh Văn Ân (Đang Vần va - dân ca Mường), Hoàng Minh Tường (Hát ru dân tộc Mường Thanh Hóa).
- Các nghiên cứu về người Mường và dân ca Mường ở Phú Thọ: Bộ sách Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam (Sở Văn hóa Thông tin Phú Thọ và Hội Văn nghệ Dân gian tỉnh, 2007) ghi chép về múa Mỡi ở Ngọc Đồng (Yên Lập), múa Mo ở Nam Cường, lễ hội cồng chiêng, trong đó chỉ có bài viết của Lê Công Luận nhắc sơ lược về Hát Ghẹo Việt - Mường trong lễ hội làng Nam Cường; sách ảnh Người Mường trên đất Tổ Hùng Vương của Bùi Tuyết Mai (chủ biên) chỉ đề cập khái lược về hát ghẹo; công trình Văn hóa dân gian dân tộc Mường ở Phú Thọ của Dương Huy Thiện (cùng các ấn phẩm viết chung với Đoàn Hải Hưng, Trần Quang Minh) đã sưu tầm phần lời của một số bài xường rang, hát gọi lúa, hát ví, hát sắc bùa, hò đu nhưng chưa có phần ký âm âm nhạc; các tư liệu văn nghệ dân gian địa phương của Đoàn Hải Hưng, Trần Văn Thục, Nguyễn Phi Nga và tài liệu sưu tầm của Nguyễn Đình Vỵ.
Khoảng trống luận án giải quyết
Qua khảo sát, tác giả chỉ ra rằng các công trình tại Hòa Bình và Thanh Hóa đã đi sâu vào từng thể loại dân ca Mường, song ở Phú Thọ chưa từng có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu một cách toàn diện về diện mạo, hệ thống bài bản cũng như sự vận động của dân ca Mường trong đời sống đương đại. Hầu hết các ấn phẩm địa phương mới dừng lại ở việc giới thiệu lời ca văn học hoặc nhắc đến làn điệu trong khuôn khổ miêu tả hội làng. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo cứu có hệ thống các thể loại dân ca Mường ở Phú Thọ, đặt chúng vào bối cảnh biến đổi kinh tế - xã hội hiện nay để đánh giá thực trạng và nhận diện xu hướng phát triển.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm vận dụng
- Khái niệm dân ca: Luận án kế thừa quan niệm của Đinh Gia Khánh, nhìn nhận dân ca là những câu hát dân gian mà trong đó cả phần lời và phần giai điệu đều giữ vai trò quan trọng đối với việc xây dựng hình tượng tác phẩm, phản ánh đời sống lao động và là phương tiện giao tiếp mang tính tự sự đời thường của cộng đồng.
- Quan điểm nguyên hợp trong folklore: Vận dụng luận điểm của Đinh Gia Khánh về tính nguyên hợp của văn hóa dân gian trên ba bình diện: mối quan hệ giữa nghệ thuật và thực tiễn đời sống; mối quan hệ giữa thành tựu của các thời đại và địa phương; mối quan hệ giữa các thành tố văn hóa dân gian. Dân ca Mường được xem xét như một chỉnh thể nguyên hợp bao gồm diễn xướng âm nhạc, chủ thể sáng tạo, môi trường diễn xướng, không gian và thời gian thực hành.
- Tiếp cận bối cảnh (context): Luận án tiếp cận bối cảnh từ góc độ văn hóa học, xem bối cảnh là không gian kinh tế, xã hội, lịch sử bao quanh và tác động trực tiếp đến sự tồn tại của hiện tượng văn hóa. Bối cảnh đương đại được xác định là thực tại hiện hữu sau Đổi mới, gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ chế thị trường và sự phân tầng xã hội (kế thừa góc nhìn phân tích bối cảnh đời sống của tác giả Nguyễn Đức Lộc).
- Lý thuyết biến đổi văn hóa: Luận án sử dụng quan điểm biến đổi văn hóa để giải thích sự chuyển dịch của sinh hoạt văn hóa dân gian từ truyền thống sang hiện đại. Sự biến đổi diễn ra dưới tác động của giao lưu văn hóa và kinh tế thị trường, đòi hỏi cộng đồng phải tiếp nhận cái mới, cải biến hình thức sinh hoạt để thích ứng nhưng vẫn giữ vững các giá trị cốt lõi của bản sắc tộc người.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Thu thập, phân loại, đánh giá các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, báo cáo chuyên môn và tài liệu lưu trữ về văn hóa dân gian, dân tộc học liên quan đến địa bàn và đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa, điền dã dân tộc học: Tác giả trực tiếp đến các bản Mường tại Phú Thọ, gặp gỡ nghệ nhân và người dân để quan sát, ghi chép đời sống sinh hoạt thường ngày, lễ hội làng bản và các sinh hoạt văn nghệ dân gian. Quá trình điền dã kết hợp các thao tác kỹ thuật chuyên môn gồm phỏng vấn sâu, ghi chép hồi cố, thu âm, ghi hình và phân tích nghệ thuật diễn xướng.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Luận án thiết kế và sử dụng 300 phiếu điều tra xã hội học phát cho người dân Mường ở các độ tuổi khác nhau tại địa bàn khảo sát, nhằm thu thập dữ liệu định lượng về nhận thức, thị hiếu và mức độ thực hành dân ca trong cộng đồng. Danh sách nghệ nhân và người cung cấp thông tin được tập hợp chi tiết ở phần phụ lục.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về người Mường ở Phú Thọ
Chương 1 dành 42 trang trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề, khung lý luận và phác thảo diện mạo địa lý, dân cư, nguồn gốc của người Mường tại tỉnh Phú Thọ. Người Mường cư trú chủ yếu ở các rìa chân núi, thung lũng và sườn núi thấp, tập trung mật độ cao tại 4 huyện miền núi: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập và Thanh Thủy. Các huyện, thị khác có người Mường sinh sống rải rác do yêu cầu phân công công tác hoặc hôn nhân.
Dưới đây là bảng tổng hợp số liệu dân cư người Mường tại các địa bàn trọng điểm của tỉnh Phú Thọ theo các mốc điều tra được văn bản ghi nhận:
| Địa bàn khảo sát |
Dân số người Mường |
Tỷ lệ trong dân số huyện/tỉnh |
Thời điểm / Nguồn dữ liệu |
| Huyện Thanh Sơn |
75.606 người |
56,79% |
Năm 2020 (Tổng điều tra 1/12/2020) |
| Huyện Tân Sơn |
64.472 người |
87,83% |
Năm 2020 (Khảo sát Ban dân số huyện) |
| Huyện Yên Lập |
68.121 người |
73,36% |
Năm 2019 – 2020 (Tổng điều tra 2019) |
| Huyện Thanh Thủy |
5.037 người |
5,50% (tập trung tại xã Tu Vũ) |
Năm 2020 |
| TP. Việt Trì |
Đông nhất ngoài 4 huyện |
— |
Tháng 12/2020 |
| Huyện Lâm Thao |
254 người (thấp nhất tỉnh) |
— |
Tháng 12/2020 |
| Toàn tỉnh Phú Thọ |
171.838 người |
88,77% tổng số dân tộc thiểu số |
Năm 2010 (Dương Huy Thiện dẫn) |
| Toàn tỉnh Phú Thọ |
183.000 người |
— |
Năm 2013 (Ban Dân tộc tỉnh) |
| Toàn tỉnh Phú Thọ |
Khoảng 218.000 người |
Dân tộc đông thứ hai toàn tỉnh |
Tháng 12/2020 (UBND tỉnh Phú Thọ) |
Về nguồn gốc lịch sử, luận án tổng hợp hai luồng quan điểm chính từ các tài liệu khoa học và thực địa:
- Nguồn gốc bản địa tại chỗ: Dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Nhàn, Phan Ngọc, Bùi Tuyết Mai, người Mường và người Việt có cùng chung gốc tích Lạc Việt thời đại Đông Sơn - Hùng Vương. Quá trình chia tách diễn ra chậm chạp khi nhóm ở đồng bằng phát triển thành người Việt hiện đại, nhóm ở vùng rừng núi duy trì lối sống cổ truyền hình thành người Mường. Tại Yên Lập, người dân xem địa bàn này là đất cổ bản xứ gắn liền với các vùng Mường cổ xưa như Mường Cúc, Mường Toòng, Mường Kịt, Mường Vát, Mường Át, Mường Đồng, Mường Luông, Mường Tằn.
- Nguồn gốc di cư lịch sử: Kết quả điền dã cho thấy một bộ phận cư dân Mường tại các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Thanh Thủy có nguồn gốc di cư từ tỉnh Hòa Bình sang do vị trí địa lý tiếp giáp (như khu vực giáp huyện Đà Bắc), một số nhóm nhỏ di cư từ Mộc Châu (Sơn La), bên cạnh một bộ phận người Việt chuyển lên định cư lâu đời đã chịu ảnh hưởng và "Mường hóa".
Chương 2: Các thể dân ca Mường ở Phú Thọ
Chương 2 có dung lượng 38 trang, khảo sát đặc điểm nghệ thuật, bối cảnh truyền thống và vai trò cộng đồng của 5 thể loại dân ca Mường hiện diện tại Phú Thọ:
- Hát ru Mường: Thể loại dân ca sinh hoạt gia đình, gắn liền với không gian nhà sàn bên vành nôi. Âm điệu mộc mạc, lời ca thủ thỉ dỗ dành giấc ngủ trẻ thơ, truyền tải tình cảm ruột thịt và là phương tiện đầu tiên trao truyền ngôn ngữ mẹ đẻ cho thế hệ sau.
- Hát rang: Thể loại ca hát trữ tình phổ biến, thể hiện tâm tư, ước mong, nỗi niềm trắc ẩn của người dân trong đời sống thường nhật. Hát rang thường xuất hiện trong các cuộc hội họp tâm tình, giao tiếp làng bản, mang tính tự sự sâu sắc.
- Hát ví Mường: Làn điệu hát đối đáp giao duyên giữa nam và nữ. Môi trường diễn xướng gắn liền với quá trình lao động sản xuất trên nương rẫy, đi rừng hoặc các dịp gặp gỡ ngày hội. Lời ca ví von, giàu hình ảnh ví von cỏ cây, thiên nhiên để biểu đạt tình cảm lứa đôi.
- Hát ghẹo Việt – Mường: Thể loại diễn xướng dân gian gắn liền với tục kết nghĩa (nước nghĩa) giữa làng Thục Luyện (người Mường, huyện Thanh Sơn) và làng Thanh Uyên (người Kinh, huyện Tam Nông). Thể loại này bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian thờ cúng nữ tướng Xuân Nương thời Hai Bà Trưng, phản ánh sự giao thoa, liên kết văn hóa khăng khít giữa hai tộc người anh em.
- Hát hò đu Mường: Thể loại ca hát nghi lễ - hội hè gắn liền với trò chơi đánh đu trong các dịp Tết và lễ hội mùa xuân. Hò đu tạo nên không khí hào hứng, gắn kết các thành viên cộng đồng trong không gian sinh hoạt ngoài trời náo nức.
Chương 3: Sinh hoạt dân ca của người Mường ở Phú Thọ hiện nay
Chương 3 (36 trang) tập trung phân tích thực trạng sinh hoạt dân ca dưới tác động của đời sống đương đại:
- Biến đổi điều kiện kinh tế - xã hội: Đời sống vật chất của các bản Mường được nâng cao nhờ hạ tầng giao thông, điện lưới và công nghệ thông tin. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông hiện đại và kinh tế thị trường làm thay đổi cấu trúc làng bản truyền thống.
- Thực trạng các thể loại dân ca: Không gian sinh hoạt tự nhiên của dân ca bị thu hẹp rõ rệt. Các hình thức hát ru, hát ví trên nương rẫy ít còn xuất hiện trong đời sống thường nhật. Hát hò đu chỉ còn hiện diện rời rạc vào dịp lễ hội; hát ghẹo Việt – Mường duy trì chủ yếu ở dạng thức phục dựng nghi lễ. Nhiều bài bản cổ truyền đứng trước nguy cơ mai một khi các nghệ nhân cao tuổi qua đời.
- Lý giải thực trạng: Tác giả chỉ ra nguyên nhân biến đổi xuất phát từ sự thay đổi phương thức lao động sản xuất nông nghiệp sang phi nông nghiệp; sự lấn át của các loại hình giải trí hiện đại; rào cản ngôn ngữ khi một bộ phận giới trẻ Mường hiện nay ít sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp thường nhật; sự thiếu hụt các văn bản ký âm bài bản khiến việc truyền dạy gặp nhiều khó khăn.
Chương 4: Những bàn luận về dân ca Mường ở Phú Thọ trong bối cảnh đương đại
Chương 4 gồm 38 trang, đi sâu bàn luận các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tồn tại của di sản:
- Nhận thức và tâm thức cộng đồng: Luận án phân tích sự khác biệt trong tâm thức giữa các thế hệ. Thế hệ cao tuổi coi dân ca là cội nguồn ký ức, luôn có ý thức gìn giữ; trong khi thế hệ trẻ có xu hướng xa rời vốn cổ do ảnh hưởng của lối sống công nghiệp hóa. Thực hành dân ca có sự dịch chuyển từ nhu cầu tự thân trong sinh hoạt gia đình, làng bản sang môi trường biểu diễn mang tính tổ chức (câu lạc bộ, hội thi văn nghệ, nhà trường).
- Vấn đề di sản hóa dân ca Mường: Tác giả phân tích khái niệm di sản hóa và tác động thực tế tại Phú Thọ. Di sản hóa giúp nâng cao vị thế của dân ca Mường, tạo điều kiện cho nhà nước đầu tư kinh phí kiểm kê và thành lập câu lạc bộ; song cũng đi kèm nguy cơ "sân khấu hóa", "thương mại hóa", tách rời làn điệu khỏi môi trường diễn xướng nguyên hợp ban đầu.
- Xu hướng tồn tại và phát triển: Dự báo dân ca Mường không thể bảo lưu nguyên vẹn như trong xã hội truyền thống mà sẽ tồn tại dưới dạng thức chọn lọc và thích ứng. Xu hướng phát triển tất yếu là kết hợp bảo tồn vốn cổ với việc đưa dân ca vào các thiết chế văn hóa mới, hoạt động du lịch văn hóa cộng đồng và môi trường giáo dục địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên thuộc ngành Văn hóa học nhận diện một cách có hệ thống diện mạo, cấu trúc và đặc trưng các thể loại dân ca của người Mường tại tỉnh Phú Thọ.
- Công trình làm rõ thực trạng tồn tại, sự vận động biến đổi và khả năng thích ứng của một hiện tượng âm nhạc dân gian tộc người thiểu số trong bối cảnh đời sống đương đại chịu sự chi phối của công nghiệp hóa và kinh tế thị trường.
- Về mặt lý luận, luận án khẳng định nguyên lý: Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc không đồng nghĩa với việc "đóng cứng trong nguyên dạng" cổ xưa, mà cần nhìn nhận di sản trong sự vận động, phát huy giá trị thông qua sự biến đổi linh hoạt để thích nghi với nhịp sống xã hội hiện đại.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Cung cấp nguồn tư liệu thực địa có độ tin cậy cao, phản ánh chân thực nhận thức của các thế hệ cư dân Mường thông qua 300 phiếu khảo sát và danh sách nghệ nhân cung cấp thông tin tại các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy.
- Đưa ra những cứ liệu khoa học thực tế giúp các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc tỉnh) ứng dụng vào việc triển khai các đề án kiểm kê, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số trên địa bàn.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn thích ứng: xây dựng câu lạc bộ dân ca tại cơ sở, ghi chép ký âm chuẩn hóa bài bản, đưa dân ca vào trường học thông qua giáo dục di sản và gắn kết thực hành diễn xướng với các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Luận án thực hiện dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học nên trọng tâm nghiên cứu đặt vào bối cảnh diễn xướng, sự biến đổi văn hóa và thực trạng cộng đồng; công trình chưa thể ký âm toàn diện về mặt âm nhạc học cho tất cả các dị bản bài hát do phương thức truyền khẩu phức tạp và tư liệu thành văn của địa phương còn thiếu hụt. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung tại 4 huyện trọng điểm của tỉnh Phú Thọ, việc mở rộng so sánh với các vùng Mường khác chỉ dừng ở mức đối chiếu bổ trợ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điền dã sưu tầm, phối hợp liên ngành Văn hóa học với Âm nhạc học để tiến hành ghi âm, ký âm chi tiết toàn bộ thang âm, điệu thức của từng bài bản dân ca Mường ở Phú Thọ; triển khai nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa các biến thể dân ca Mường Phú Thọ với dân ca Mường tại các tỉnh lân cận như Hòa Bình, Sơn La và Thanh Hóa.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Văn hóa dân gian, Âm nhạc dân tộc học khi tìm hiểu về phương pháp nghiên cứu biến đổi văn hóa tộc người trong bối cảnh công nghiệp hóa.
- Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ trong việc xây dựng chính sách đãi ngộ nghệ nhân, thành lập các mô hình câu lạc bộ dân ca Mường tại các xã miền núi và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể.
- Phần nội dung đáng tham khảo: Chương 2 (khảo sát chi tiết 5 thể loại dân ca Mường đặc trưng) và Chương 3 (phân tích thực trạng sinh hoạt văn hóa và tâm thức cộng đồng dựa trên số liệu điều tra thực địa).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án ghi nhận người Mường ở Phú Thọ có những nguồn gốc lịch sử nào?
Luận án chỉ ra hai luồng nguồn gốc chính: (1) Nguồn gốc bản địa tại chỗ, phân tách từ khối người Việt cổ thời kỳ văn hóa Đông Sơn - Hùng Vương, cư trú lâu đời tại vùng đất cổ (tiêu biểu ở huyện Yên Lập với các Mường cổ như Mường Cúc, Mường Toòng, Mường Kịt, Mường Vát, Mường Át, Mường Đồng, Mường Luông, Mường Tằn); (2) Nguồn gốc di cư lịch sử từ Hòa Bình sang các huyện giáp ranh như Thanh Sơn, Tân Sơn, Thanh Thủy, cùng một nhóm nhỏ di cư từ Mộc Châu (Sơn La) và các nhóm cư dân người Việt chuyển lên sinh sống lâu đời rồi chịu ảnh hưởng văn hóa Mường.
2. Những thể loại dân ca Mường tiêu biểu nào tại Phú Thọ được luận án phân tích chi tiết?
Luận án khảo cứu 5 thể loại dân ca tiêu biểu tại Chương 2 gồm: Hát ru Mường (dân ca sinh hoạt gia đình bên vành nôi), Hát rang (dân ca trữ tình tự sự đời thường), Hát ví Mường (hát đối đáp giao duyên nam nữ trong lao động sản xuất), Hát ghẹo Việt – Mường (dân ca gắn với tục kết nước nghĩa liên tộc người) và Hát hò đu Mường (dân ca nghi lễ, hội hè mùa xuân gắn với trò chơi đánh đu).
3. Điểm đặc thù của thể loại Hát ghẹo Việt – Mường được tác giả trình bày là gì?
Hát ghẹo Việt – Mường là hiện tượng ca hát gắn liền với tục kết nước nghĩa thiêng liêng giữa làng người Mường (Thục Luyện, huyện Thanh Sơn) và làng người Kinh (Thanh Uyên, huyện Tam Nông). Thể loại này bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ thành hoàng làng là nữ tướng Xuân Nương thời Hai Bà Trưng, thể hiện sự giao thoa văn hóa và tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa hai tộc người anh em trên đất Tổ.
4. Tác giả đã sử dụng dữ liệu điều tra xã hội học và điền dã thực tế như thế nào?
Tác giả đã trực tiếp điền dã tại các bản Mường thuộc các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập và Thanh Thủy; phỏng vấn sâu các nghệ nhân và người nắm giữ tri thức dân gian; phát và xử lý 300 phiếu điều tra xã hội học trên các nhóm tuổi khác nhau của cư dân Mường để đánh giá thực trạng nhu cầu, thị hiếu và mức độ thực hành các làn điệu dân ca.
5. Quan điểm cốt lõi của tác giả về việc bảo tồn dân ca Mường hiện nay là gì?
Tác giả khẳng định việc bảo tồn dân ca Mường trong bối cảnh đương đại không thể thực hiện theo hướng "đóng cứng trong nguyên dạng" của xã hội truyền thống. Bảo tồn phải gắn liền với sự vận động và phát huy giá trị qua sự biến đổi thích ứng với nhịp sống mới, chuyển hóa không gian diễn xướng vào đời sống cộng đồng, câu lạc bộ văn hóa cơ sở và trường học địa phương.
Kết luận
Luận án Dân ca Mường ở Phú Thọ trong bối cảnh đương đại của tác giả Tạ Thị Thu Hiền là công trình khoa học chuyên khảo tiếp cận toàn diện diện mạo và sự biến đổi của dân ca Mường tại tỉnh Phú Thọ dưới góc độ Văn hóa học. Dựa trên cơ sở lý luận về tính nguyên hợp của văn hóa dân gian, tiếp cận bối cảnh và lý thuyết biến đổi văn hóa, tác giả đã hệ thống hóa 5 thể loại dân ca tiêu biểu gắn với môi trường diễn xướng truyền thống. Đồng thời, thông qua khảo sát thực địa và 300 phiếu điều tra xã hội học, luận án đã phản ánh thực trạng phân hóa nhận thức giữa các thế hệ và sự thu hẹp không gian sinh hoạt tự nhiên của di sản trước tác động của công nghiệp hóa. Công trình khẳng định định hướng bảo tồn động, phát huy giá trị di sản qua sự thích ứng linh hoạt với đời sống mới, cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho công tác quản lý văn hóa tại địa phương.