Chương 1: Những vấn đề chung 1. Tổng quan về văn hóa ứng xử 1. Ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong văn hóa Việt Nam 1. Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao từ góc nhìn thể loại Chương 2: Văn hóa ứng xử trong tình yêu 2.
Tình yêu hạnh phúc 2. Tình yêu đau khổ 2. Tình yêu đơn phương 2. Những ước mong trong tình yêu Chương 3: Văn hóa ứng xử trong hôn nhân 3.
Ứng xử trong quan hệ vợ chồng 3. Ứng xử trong mối quan hệ khác 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Tổng quan về văn hóa và ứng xử “Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao người Việt” tự giới hạn trong một phạm vi nhỏ của văn hóa, quan hệ về tình yêu nam nữ, về quan hệ hôn nhân ( trong đó có quan hệ vợ chồng, mẹ chồng nàng dâu, anh em họ hàng …). Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa: Văn hóa “là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (kho tàng văn hóa dân tộc, văn hóa phương Tây); những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần nói chung (sinh hoạt văn hóa văn nghệ); tri thức, kiến thức khoa học (học văn hóa, trình độ văn hóa); trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh (người thiếu văn hóa, cư xử rất có văn hóa, gia đình văn hóa); tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh)”.
Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con ngƣời trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa, nơi nào có con ngƣời nơi đó có văn hóa. Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[60]. Theo nhà nghiên cứu Trần Quốc Vƣợng, định nghĩa về văn hóa có thể tạm quy ƣớc về hai loại. “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lối ứng xử… Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn… và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau” [71, tr.
Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân mọt cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [71, tr.
Điều đó cũng có nghĩa là “văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia”. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng: văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con ngƣời sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên. Văn hóa là sản phẩm của loài ngƣời, đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội, đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa, đƣợc tái tạo, phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời. Nói cách khác, văn hóa là trình độ phát triển của con ngƣời và của xã hội đƣợc biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con ngƣời cũng nhƣ trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con ngƣời tạo ra.
Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con ngƣời trƣớc sự tác động của ngƣời khác với mình trong một tình huống nhất định đƣợc thể 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con ngƣời nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau. Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân đƣợc thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những ngƣời chung quanh. Theo GS Hoàng Phê, ứng xử là “thể hiện thái độ, hành động thích hợp trước những việc có quan hệ giữa mình với người khác” [54, tr 1691]. Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con ngƣời, đƣợc thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con ngƣời đối với bản thân, với những ngƣời chung quanh, trong công việc và môi trƣờng hoạt động hằng ngày.
Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó đƣợc hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trƣởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội. Hành vi ứng xử văn hóa đƣợc coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân đƣợc thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó. Nó đƣợc biểu hiện trong mối quan hệ với những ngƣời chung quanh, trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với chính bản thân họ. Theo lời phát biểu của ông De Cuella, nguyên Tổng giám đốc UNESCO nhân buổi tổng kết thập kỉ văn hóa (1987 – 1997) của Liên Hợp Quốc: “Văn hóa là cách sống (cách ứng xử) cùng nhau”.
Nhƣ vậy nghĩa là nghiên cứu ứng xử cũng là nghiên cứu văn hóa, cách sống. Ứng xử là hệ thống các quan hệ tƣơng tác, các phản ứng đƣợc thực hiện bởi các vật thể sống, kể cả con ngƣời để thích nghi với môi trƣờng. Có thể nói, văn hóa là toàn bộ những truyền thống hƣớng dẫn hành xử mà các cá nhân trong một xã hội đƣợc xã hội đó trao truyền bằng những hình thức 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học tập khác, đa dạng. Điều này cần bắt đầu ngay từ nhỏ, đƣợc nhập thân văn hóa từ khi còn trong bụng mẹ.
Ra đời, đƣợc 12 bà mụ dạy ăn, nói, gói, mở và tự rèn luyện bằng cách học tập suốt đời. Ứng xử của con ngƣời ở các nƣớc, các vùng khác nhau thì không giống nhau do nền văn hóa khác nhau. Còn ứng xử của loài vật thì khắp nơi hầu nhƣ giống nhau vì loai vật không có văn hóa. Điều này có nghĩa là trong những thời đại khác nhau thì văn hóa ứng xử của con ngƣời cũng có sự thay đổi.
Ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong văn hóa Việt Nam 1. Ứng xử về tình yêu trong văn hóa Việt Nam Tình yêu và hôn nhân là hai vấn đề hầu nhƣ luôn đi đôi với nhau, gắn bó và tƣơng quan chặt chẽ với nhau nhƣ một. Tình yêu là một tình cảm thiêng liêng, cao đẹp của con ngƣời nên tình yêu đòi hỏi cung cách ứng xử cũng phải cao đẹp để tƣơng ứng với nó. Từ cách xƣng hô đến hò hẹn, cả khi trách cứ giận hờn cũng phải mang màu sắc đặc thù của tình yêu.
Nếu chúng ta xử sự một cách suồng sã thì dù có yêu nhau đến đâu chăng nữa cũng chỉ là một thứ tình yêu thiếu văn hóa. Do tình yêu là bản chất thiêng liêng và tự nhiên của con ngƣời cho nên dù ở thời đại nào, tình yêu bao giờ cũng là đề tài bất tận cho những áng văn chƣơng. Việt Nam chúng ta từ ngàn xƣa là một quốc gia nông nghiệp. Với hình thể chữ S mềm mại uốn cong ven bờ Thái Bình Dƣơng, với cảnh vật thiên nhiên kỳ thú nhƣ cỏ cây hoa lá, nhƣ núi cả sông sâu, nhƣ lũy tre xanh, nhƣ đồng ruộng óng ả lúa vàng,.
hòa với tâm tình và lịch sử của dân tộc, quê hƣơng Việt Nam có một nền văn chƣơng bình dân hay bác học hết sức phong phú đầy nét vẽ chân thành pha lẫn những điểm tế nhị và sâu sắc. Trong cái tình cảm đa dạng đó của dân tộc, tình yêu nam nữ đã vƣơn lên nhƣ cánh hoa nở trong vƣờn đời, tạo nên biết bao câu ca dao tình tứ , bao vần thơ truyền khẩu lãng mạn. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ứng xử về hôn nhân trong văn hóa Việt Nam Hôn nhân là một trong những việc quan trọng của cuộc đời mỗi con ngƣời.
Hôn nhân tốt đẹp sẽ đem lại hạnh phúc bền vững, cuộc sống gia đình hòa thuận, êm ấm. Hôn nhân là phƣơng thức để xây dựng, duy trì, củng cố và phát triển gia đình, nó vừa liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, ảnh hƣởng trực tiếp thƣờng xuyên đến cuộc sống của mỗi cá nhân, vừa là biểu hiện sinh động sắc thái của văn hóa tộc ngƣời. Vì vậy, hôn nhân không chỉ là sự thừa nhận tính hợp pháp của quan hệ giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa - xã hội khác. Trong xã hội truyền thống của ngƣời Việt, hôn nhân là việc của hai bên cha mẹ, hai họ dựng vợ gả chồng cho con cái.
Có thể lý giải rằng tục lệ này xuất phát từ quyền lợi tập thể, mà trƣớc hết là quyền lợi của gia tộc, rồi tới đáp ứng các quyền lợi làng xã.