CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT Dẫn nhập Nghĩa của từ và sự chuyển biến ý nghĩa của từ là một trong các vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học. Trong chương này, luận án sẽ điểm lại các xu hướng cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ đó xác định cơ sở lí luận có tính đường hướng cho đề tài. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về từ và nghĩa của từ 1.
Tình hình nghiên cứu về từ và nghĩa của từ trên thế giới Có thể nói rằng từ, nghĩa của từ từ lâu đã trở thành vấn đề trọng tâm của ngôn ngữ học nói chung và ngữ nghĩa học nói riêng. Từ và nghĩa của từ chính là một bộ phận quan trọng của ngữ nghĩa học. Ngữ nghĩa học với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập được hình thành vào khoảng cuối thế kỉ XIX được đánh dấu bằng công trình của M. Bréal – Essai de Sémantique (1877).
Nhưng có thể thấy rằng, sự quan tâm đến nghĩa của ngôn ngữ không phải chỉ đến cuối thế kỉ XIX mới xuất hiện mà được bắt đầu từ rất sớm và kéo dài từ thời kì cổ đại cho đến nay với nhiều xu hướng Trong thời kì Cổ Trung đại, từ cũng như ý nghĩa của từ đã trở thành một vấn đề được quan tâm đặc biệt. Trong thời kì cổ đại, ngôn ngữ học, trong đó có vấn đề về nghĩa khá phát triển ở Ấn Độ và các nhà khoa học châu Âu: Platon (429 – 347), Aristole (384 – 322 trước CN) qua các công trình như Giải thích (On Interpretation), Tu từ học (Rhetoric), Thi học (Poetics). Các cuộc tranh luận về sự tương ứng giữa tên gọi với sự vật được biểu thị kéo dài từ thời kì cổ đại đến thời kì trung đại. Giai đoạn tiếp theo chính là thời kì Phục hưng, sự phát triển mối quan tâm về nghĩa tiếp tục trong các tác phẩm thời kì này, đặc biệt là trong thế kỉ Ánh sáng.
Một bước ngoặt quan trọng trong ngôn ngữ học thế kỉ XIX là sự khẳng định và phát triển của khuynh hướng so sánh - lịch sử,. Từ giữa thế kỉ XX cho đến nay, việc nghiên cứu ngữ nghĩa của từ ngữ vẫn diễn ra sôi nổi. Sự tranh chấp giữa việc ủng hộ và phản đối nghiên cứu nghĩa của ngôn ngữ đã nghiêng về việc ủng hộ. 8 Nghiên cứu về nghĩa của từ trải qua nhiều giai đoạn khác nhau gắn liền với nhiều xu hướng và trường phái.
Từ góc độ ngôn ngữ học cấu trúc, tác giả Lê Quang Thiêm cho rằng vấn đề và sự phát triển nghĩa của từ được chia thành ba thời kì chính gắn liền với tên tuổi của các tác giả lớn cùng với những thành tựu nghiên cứu của họ. Đó là thời kì tiền cấu trúc luận, thời kì cấu trúc luận và thời kì hậu cấu trúc luận. Thời kì tiền cấu trúc luận, theo tác giả Lê Quang Thiêm, tác giả người Pháp Michel Bréal với công trình Essai de Sesmantique (Science des significations) xuất bản năm 1877 được xem là người đi tiên phong trong nghiên cứu bộ môn khoa học này. Nghiên cứu nghĩa của từ trong giai đoạn này chủ yếu được tiến hành nhằm mục đích phát hiện ra các quy luật biến đổi nghĩa của từ, trước hết từ góc độ thời gian lịch sử.
Năm 1825, cuốn “Semasiology” (ngữ nghĩa học) được ra đời ở Đức, đó là cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu của tác giả Reizig Berary về ngữ nghĩa. Bên cạnh đó, ngữ nghĩa giai đoạn này cũng gắn với tên tuổi nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi như: Agathon Benary, Karl Reisig, Oskar Hey, Friedrich Haase, …. Nghiên cứu của họ chủ yếu tập trung vào vấn đề thay đổi nghĩa, những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi nghĩa trên quan điểm lịch sử [113, 14]. Đặc biệt, tác giả Reisig trong công trình của mình nghiên cứu về tiếng Latinh (1839) đã cho rằng đối tượng của khoa học mà ông gọi là Semansiology cần phải là những quy luật biến đổi nghĩa của từ.
Có thể nói, giai đoạn này trong nghiên cứu nghĩa của từ là giai đoạn nghiên cứu các quy luật biến đổi nghĩa từ vựng. Tác giả đặt nền móng cho ngữ nghĩa học là nhà ngôn ngữ học người Anh Benjamin Humphrey Smart. Ông được xem là người có đóng góp to lớn tới khoa học ngữ nghĩa với một số bài nghiên cứu về khoa học này. Năm 1850, tác giả Horne Tooke đã xuất bản cuốn sách “Metaphisical Etymology”.
Và tác giả đã dùng từ Semasiology đặt tên cho bộ môn này. Nghiên cứu về nghĩa và sự CN giai đoạn này cũng gắn liền với nhiều tác giả như: Ch. Richard, Peirce,… Các tác giả đã lí giải cặn kẽ về nghĩa cũng như sự thay đổi nghĩa theo quan điểm lịch sử. Đồng thời, họ cũng phân tích sâu hơn và đưa ra các luận giải về các bình diện TH học [113, 14].
Cạnh đó, một trong những đóng góp lớn cho việc hình thành ngữ nghĩa học trong thời gian này là công trình của V. Dưới cách nhìn mới, V. Humboldt đặt lại vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Tư 9 tưởng này của V.
Humboldt được mở ra tiếp tục trong các giả thuyết của Sapir – Whorf (The Sapir – Whorf Hypothesis) và nhiều trường phái hậu V. Humboldt ở thế kỉ XX. Thế giới quan thể hiện trong cấu trúc ngôn ngữ được gọi là bức tranh ngôn ngữ về thế giới. Quan niệm bức tranh ngôn ngữ về thế giới của V.Humboldt và những người kế tục tiếp tục trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của miêu tả ngữ nghĩa học cuối thế kỉ XX.
Ngôn ngữ học cấu trúc đánh dấu sự trở lại vào những năm 20 của thế kỉ XX với cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F. Giai đoạn này có rất nhiều các công trình nghiên cứu nổi tiếng của giả G. Schaff… Nghiên cứu ngữ nghĩa đánh một dấu mốc quan trọng xác lập vị trí của mình với các công trình của Bloomfield và Chomsky. Hai tác giả này đã tạo nên ảnh hưởng quan trọng trong khuôn mẫu ở một ngôn ngữ học không cần ý nghĩa.
Thời kì này, ngữ nghĩa còn đi cùng với tâm lí thực nghiệm và logic toán. Nghiên cứu ngữ nghĩa gắn liền với các nhà nghiên cứu như: A. Thời kì tiền cấu trúc luận và cấu trúc luận, các nghiên cứu đa số đều tập trung vào vấn đề ngữ nghĩa và sự biến đổi ngữ nghĩa. Các nghiên cứu thời kì này xem xét ngữ nghĩa của từ tách rời, biệt lập, không chú ý đến văn cảnh, ngữ cảnh.
Dù ra đời sau, với cái nhìn toàn diện và tích cực hơn về nghĩa của từ trong cấu trúc hệ thống song các luận điểm mà họ đưa ra lại chịu nhiều ảnh hưởng của cấu trúc luận thuần túy trong khi đó hoạt động hành chức lại là nhân tố đáng chú trọng. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới bàn về sự phát triển ngữ nghĩa của từ. Trước hết, phải kể đến tác giả người Anh Aitchison với cuốn Language change: Progress or Decay? [138] và tác giả Crowley với cuốn An Introduction to Historical Linguistics [1402], ngoài ra còn có công trình nghiên cứu An Introduction to Language [155] của tác giả Fromkin… Qua các nghiên cứu này, các tác giả đặc biệt quan tâm đến sự phát triển CN của từ dưới ảnh hưởng của tâm lí xã hội. Tác giả Lê Thị Thanh Tâm trong luận án của mình [105] đã chỉ ra rằng việc nghiên cứu sự phát triển nghĩa của từ của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài có thể tạm chia làm ba khuynh hướng chính: 10 Thứ nhất là nghiên cứu theo logic học mà Paul là người khởi xướng với bảng phân loại logic học các hiện tượng phát triển nghĩa, trong đó chú ý so sánh nội dung khái niệm trước và sau khi biến đổi, đồng thời nêu lên mối quan hệ logic giữa chúng; Thứ hai là nghiên cứu theo tâm lí học mà đại diện là Wundt với sự giải thích hiện tượng phát triển nghĩa căn cứ vào đặc trưng tâm lí với phương châm “việc nghiên cứu sự CN cuối cùng phải vĩnh viễn quy thành nghiên cứu tâm lí”; Thứ ba là khuynh hướng nghiên cứu theo lịch sử do Wellander đứng đầu với quan niệm: “sự CN là một quá trình lịch sử, chỉ khi nào nó được chứng thực trong thực tế trưởng thành của nó, quá trình này mới được trưởng thành một cách vừa ý”.
Các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng này đã trả lời câu hỏi ý nghĩa của từ đã nảy sinh như thế nào trong lịch sử. Họ cho rằng kết quả của quá trình CN được bảo lưu trong ý nghĩa mới của từ [dt 105, 3]. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng CN theo các nhà nghiên cứu này là do sự biến đổi lịch sử xã hội. Theo đó, tìm nghĩa mới của từ ở những giai đoạn khác nhau của lịch sử là cách mà các tác giả thực hiện “sự chuyển hóa ý nghĩa là một quá trình lịch sử, chỉ khi nào nó được chứng thực trong quá trình thực tế trưởng thành của nó, quá trình này mới được trưởng thành một cách vừa ý” [dt 105, tr.
Các tác giả cũng đưa ra các nhận định khác nhau về các hình thức phát triển nghĩa của từ. Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ, đại diện là nhà ngôn ngữ học Crowley trong quyển An Introduction to Historical Linguistics cho rằng: có bốn hình thức phát triển nghĩa: Mở rộng (broadening), thu hẹp (narrowing), chia nhánh (bifurcation), và chuyển đổi (shift) trong tiếng Anh [142, 149]. Trong lịch sử ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu cố gắng tập hợp và hệ thống hóa những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển nghĩa của từ. Theo Aitchison, có hai nguyên nhân chính: “nguyên nhân chủ quan (do đặc điểm thuộc về bản chất của ngôn ngữ và tâm lí của người sử dụng) và nguyên nhân khách quan (yếu tố xã hội)” [138, 106].
de Sausure nhấn mạnh: “phong tục của một dân tộc có tác động mạnh đến ngôn ngữ và mặt khác, trong chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [151, 106]. Theo đó, nhiều nhà ngôn ngữ sau này cùng có quan điểm 11 với Saussure và Aitchison. Ngược lại, Fromkin và một số tác giả khác trong cuốn An Introduction to Language cho rằng: “có hai nguyên nhân chính cho hiện tượng này là do sự tái cấu trúc ngôn ngữ trong quá trình học tiếng của trẻ và sự thay đổi tâm sinh lí của người học qua nhiều thế hệ” [153, 366]. Không đồng quan điểm trên, Lyons cho rằng sự thay đổi xã hội là nguyên nhân chủ yếu của thay đổi trong ngôn ngữ [156, 213].